author's copyright TRẦN XUÂN AN

   

05/01/07

           

 

 

         Phần 1

 

         Phần 2

 

 

 

 

 12 tháng 3 năm HB6 (2006)      

 

 

                                                                     

 

TRẦN XUÂN AN

 

 

thơ

những

mùa

hương

 

 

 

THÁNG HAI

MỘT CHÍN CHÍN TÁM

 

             

tập thơ thứ chín

 

 

 

xem

http://tranxuananthitap9.blogspot.com/

 

Phần hai

NHỮNG T̀NH THƠ THUỞ ĐÓ

 

 

THƯA NGỎ VỀ MỘT MÙA HƯƠNG THƠ CŨ

 

tuổi mười bảy

con ốc mượn hồn

làm thơ cho người lớn

họ bạc đầu

v́ trắc trở yêu nhau

và yêu nhau lúc trót bạc đầu!

 

bao câu chữ bụi thời gian vùi cũ

giấy trắng úa vàng, mực biếc nguyên màu!

chưa nửa cuối tuổi bốn mươi, ngoảnh lại

lốc xoáy niềm cổ xưa – vực xoáy trời sâu

 

tấm ḷng và chút t́nh

riêng một giọng thơ, khẽ hát?

ư thơ và tứ thơ, loé sáng trên nhàm nhạt?

có lúc nào cũ trơ?

thơ Nôm cổ! Dịch lại hồn Nguyễn Trăi

bằng chất trong veo ngôn từ Việt bây giờ

thay những chữ chết rồi, Người sống lại

năm trăm năm, nguyên nỗi thật niềm mơ

sắc đỏ trái tim xưa sau mới măi?

con ốc mượn hồn tuổi hoài mười bảy

vẫn nỗi đời xoáy lốc không ngờ?

dẫu bụi thời gian cuộn xoáy.

 

 

THÁNG NGÀY

 

ngân nga nguyệt rụng dốc dài

tôi già nua với tháng ngày tương tư

 

đường đi gió lốc bụi mù

bụi chiêm bao toả ra từ đắm say

 

chim bay tự trái tim này

lê thê mấy dặm đường mây t́m người

 

vàng thu vàng cả đời tôi

hững hờ, em chải tóc soi trăng tṛn

 

vi vu, tiếng sáo ngợp hồn

đêm em rồi sẽ chập chờn xót cay

 

ngân nga nguyệt rụng vàng bay

em già nua với tháng ngày kiêu sa!

 

ăn năn, rượu ngấm la đà

khẩn cầu em, em măi là trăng xưa.

 

1973.

 

 

MƯA CAO NGUYÊN

 

chiều hôm nay trời mưa thênh thang

em mang áo ấm và khăn quàng

cài nghiêng vành nguyệt trên rừng tóc

với đoá nhài hương thoảng rất ngoan

 

chiều hôm nay trời mưa mênh mông

em dạo phố và má em hồng

cơ hồ gió núi về trêu áo

anh ngấm niềm cách quăng như sông

 

chiều hôm nay cao nguyên mưa phùn

mưa ngàn xa mưa xuống tay run

anh yêu mưa nhưng lo gió rét

anh yêu em nhưng sợ rồi buồn

 

chiều hôm nay trời mưa mang mang

trong nhà thuê nh́n em, mơ màng

đau hẫng ḷng, thương ḿnh gốc ruộng

bên em, thêm quê kệch tồi tàn

 

chiều hôm nay cao nguyên tím mưa

hàng thông xanh vi vút hơi mờ

anh co ro trong làn áo mỏng

nhả khói thuốc, hỏi thầm em đi xa chưa?

 

1973.

 

 

NGHE KHÔNG

NGƯỜI T̀NH NHỎ

BÊN KIA HẢI VÂN,

ĐĂ XA

 

xanh chăng vườn cỏ bên tê

chiều em xoă tóc thương về ban mai

bên ni, mùa sáng thu phai

mất nhau gió thoảng u hoài rưng rưng

giờ vàng úa lạnh vô cùng

mai sau đời đổi không chừng xanh non

 

vườn ơi sương đọng trắng hồn

nhớ đôi mắt trót tím hơn sợi dài

qua cầu nắng xế, nghiêng vai

chân lê chầm chậm cho ngày chậm theo

bên tê, sợ phố thành đèo

bờ tương lai hỡi c̣n heo hút đời?

 

Huế – Đà Nẵng,

1973.

 

  

SAO TÍM

 

xa xa xóm nhỏ mờ sương

trời cao, nơi có nỗi buồn riêng tôi

làm thơ thả suối lưng đồi

cô em thôn nữ mỉm cười, sao bay

 

sao mơ màng giữa ngàn mây

chợt mưa rơi xuống lạnh dày nhân gian

mưa, mưa, tôi rụng bàng hoàng

ước đời vẫn rất thiên đàng là em.

 

1973.

 

 

THU THÀNH NỘI

 

đầu thu xoă nắng ngang vai

trang nghiêm lối cỏ dấu hài em qua

bay bay từng giọt sương ngà

đêm mơ tôi khóc bài ca sầu người

bướm vàng hay lá vàng rơi

em đi nhẹ nhé, hồn tôi mơ màng

mênh mông hương thoảng mang mang

bên thành quách cổ nắng vàng xa xưa

thu sang em tuổi giao mùa

ḷng tôi đă lạnh cơn mưa chưa về.

 

1973.

 

 

MƯA THU

 

mây mùa thu qua nhà anh

nằm nghe mưa gơ cầm canh xa người

mái nào chim gọi tàn hơi

rụng trên anh những tiếng rời, nát tan

 

mưa mùa thu đẫm lá vàng

em đi để lại nỗi tàn tạ anh

mưa rơi nhanh mưa rơi nhanh

mưa rơi nhanh rơi muôn cành, rưng rưng

 

gió vi vút thổi chập chùng

thổi rưng rức nỗi vô cùng, xót xa

anh nằm tê lạnh tha ma

mưa mùa thu mục dần dà thân anh.

 

1973.

 

 

T̀NH MƯA

 

xin thoáng mưa về trên lối xưa

cho vai thục nữ buốt sầu mơ

và tôi ngong ngóng ai tan học

nhớ nhau se lạnh mùa tương tư

 

nghe chăng, chân nai khua rừng mây

mắt xưa tôi thả mờ sương bay

chiêm bao bướm trắng cài lên tóc

guốc lá vàng thu em đến “ai”?

 

tôi cũng t́m “ai” trong xóm em

mưa chiều ơi, ướt ngọn cỏ hiền

nghe như gió lật hàng khuy áo

áo mỏng mà trời rét vô biên

 

mưa xưa, mưa bốn mùa ngọt cay

đường thênh thang và buồn thơ ngây

hai năm, vạn cổ, đôi tay trắng

mộng du, tôi ngủ suốt đêm ngày.

 

1973.

 

 

LÁ VÀ SÔNG

 

năm xưa bên phố ban trưa

tóc em bay mượt, sầu đưa tôi về

 

lá vàng gối cỏ nằm nghe

tôi vàng úa ngó mây che bóng đèo

 

níu bờ mặc băo xoáy vèo

nh́n sông sóng giạt cụm bèo vui, quên

 

ba năm, ḷng lạnh vô biên

ngoảnh ra, mây chắn trắng triền Hải Vân.

 

1973.

 

 

THU NGOAN

 

mùa thu qua vườn cây

lá vàng im nghe bước

sương lam chiều dang tay

nhặt giùm em chiếc lược

 

em mỉm cười khoe tóc

chim trời bay khen xinh

bướm tung chùm hương phấn

tay làm duyên che nhanh

 

mùa thu nón mây vàng

nghiêng bờ vai rất ngoan

đôi chim xin ghé hót

em chỉ đường lên trăng

 

vạt áo dài ướp gió

cho nắng nhuộm ngời thêm

cành không quên goá bụa

vui mừng thay áo đen

 

mùa thu mắt nai hiền

suối tỏ t́nh trông lên

mơ hồ em thấy nhớ

một người t́nh không tên

 

vân vê vàng lá cỏ

đâu tấm t́nh thênh thang

mơ hồ em thấy nhớ

nghe chiều đi mênh mang.

 

1973.

 

 

THƠ XA NGƯỜI

 

năm này tháng sáu quên mưa

đường đi bụi đỏ nắng lùa mắt tôi

về nơi xứ lạ thương người

đồi thông hắt nắng ră rời vàng bay

 

t́nh ngây thơ lá ngủ ngày

ai bay bay áo chân mây chiều chiều

đêm đêm sương sáng cô liêu

ướt vai tôi cánh sáo diều thê lương

 

tôi nghe lời cỏ đưa đường

lang thang vào núi ra trường lơ ngơ

khuya cầm bút lá sầu mơ

nghiêng tờ ảo mộng làm thơ xa người.

 

1973.

 

 

CHUYẾN TÀU MÙA THU

 

tàu đi nát dạ non ngàn

chim ngơ ngác gọi lá vàng chào thu

gió trườn vách đá vi vu

rơi dăm giọt lệ cây ru thều thào

sương đồi cao cuộn đồi cao

chim non cắn lưỡi bổ nhào động hoang

suối trôi ra biển mơ màng

vờ quên xác chết vầng trăng bập bềnh

song song đường sắt chênh vênh

tàu e hụt bước bồng bềnh trong sương.

 

1973.

 

 

PHƯỢNG MÙA THU ĐẠI NỘI

 

nắng hạ phai màu trên áo thu

cô em vào nội chơi sương mù

có nghe nỗi buốt cành phượng lửa

rũ tàn mới lạnh gió tương tư!

 

t́nh ta trót già, tim bạc nhăn

mắt ṃn oan uổng, chết bao lần

chiều nay vuốt mặt bên ḍng tóc

bỗng thấy mê đời muôn dối gian

 

ô ḱa! Chim nhỏ chuyền trên cành

biếc dấu chân in ngời rêu xanh

chữ yêu chữ nhớ – thơ ta đó

cô em chớp mắt cười ngoan lành

 

ta mơ từ sương ta bước ra

cầm tay cô em tṛn trắng ngà

ta thương ta khóc hồn nhiên quá

thêu nhoà giọt lệ áo thơm hoa

 

hồn ta bây giờ hay sương đây

sương dâng sương ngát sương toả dày

cô em ḱ ảo mơ hồ lắm

xin bủa vây t́nh, sợ gió bay

 

ô ḱa! Bươm bướm phất phơ quanh

ngoắt đôi cánh trắng, ngày đừng nhanh

nhưng xua tất cả và tất cả

c̣n ta, cô em và nội thành

 

nắng hạ đời ta phai sang thu

cô em vào nội đùa sương mù

nghe chăng phượng lửa ăn năn hát

bạc đầu, mới gặp em!

                                     Giá như …

 

1973.

 

 

 

 

Phần phụ lục

NHỮNG KỈ NIỆM VĂN NGHỆ

 

 

những kỉ niệm văn nghệ

 

 

TRẦN XUÂN AN

& HÁT VỚI ĐỜI ƠI THƯƠNG MẾN

 

    Bốn mươi tuổi, gốc Quảng Trị nhưng sinh tại Huế.

    Tập thơ đầu tay của Trần Xuân An xuất hiện khá trễ, khi đă ngoài ba mươi. Nhưng anh có sức sáng tạo thật phong phú. Trong ṿng 5 năm qua, Trần Xuân An đă ấn hành 6 tập thơ. Tập thơ đầu Nắng và mưa (Hội VHNT. Quảng Trị, 1991) đă được nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường giới thiệu khá trang trọng. Tập thơ mới nhất của Trần Xuân An, Hát với đời ơi thương mến (Nxb. Trẻ, 7.96) gồm 53 bài thơ với nhịp thơ khá mới.

    Từ Nắng và mưa đến Hát với đời ơi thương mến, Trần Xuân An đă đi một bước khá dài.

                                       

PHẠM CHU SA

(Báo Thanh niên Chủ nhật,

số 136 [924], 25.8.1996).

 

NHƯ MỘT KHÚC  HÁT VỚI ĐỜI

 

    Trong tập thơ thứ hai, dù đă trải nghiệm ḿnh qua những “lạnh buốt sương mù”, những “không bến không bờ” của cuộc hành tŕnh chạm mặt với hư vô, Trần Xuân An vẫn giữ được tấm ḷng

              nắng mưa không héo nụ cười

              cúi xin lưu lạc trọn đời nhớ quê.

    Có lẽ đó là điều may mắn của anh: phước cho những ai có một quê nhà để mà sống với, sống cùng, dù đó là quê hương tâm tưởng của những “tháng ngày xa rất mộng du”, như lời tự thú trong Lặng lẽ ở phố, tập thơ thứ tư của anh.

    Đấy là điểm ra đi và đích về, bởi Trần Xuân An đă tự Hát chiêu hồn ḿnh, đă nhận ḿnh là Kẻ bị ném vào băo, nhưng cuối cùng, anh khẳng định, khúc ca của nhà thơ là Hát với đời ơi thương mến (Nxb. Trẻ, 1996). Sự trở về ấy đă xuất hiện như một sự tự vượt thắng trong quá tŕnh loại bỏ ra khỏi bản thân, mỗi ngày một ít, cái chất nô lệ [có tính phổ quát] của con-người-bé-nhỏ [nói chung, trên cơi đời],  như cách nói của A. Tsékhov. Như thế, quê hương của miền đất nắng khô và gió gịn Quảng Trị của anh đă trở thành những quê hương. Đến đây, con-người-bé-nhỏ đă thoát ra khỏi những thúc phược [thúc phọc: trói buộc] để đạt đến cái nghĩa NGƯỜI, ở một b́nh diện trí tuệ hơn, và do đó, cũng SỐNG hơn (bởi luôn luôn trong ḍng chày của cuộc tồn sinh, có biết bao kẻ sống-đó-mà-đă-chết-rồi).

    Tôi không muốn nói thêm về thấp thoáng những suy niệm siêu h́nh mà Trần Xuân An dường như muốn t́m kiếm, lí giải trong tập thơ thứ sáu này của anh. Chỉ xin

chúc anh măi măi sống với thơ trong mối t́nh

             trôi trôi biêng biếc ngọt ngào

             em nơi nơi, man mác, xao xuyến và…

    Và đó là hạnh phúc của những người làm thơ chân chính. Như một nỗi buồn trong sáng.

 

                              NGUYỄN ĐÔNG NHẬT

                          (Báo Doanh Nghiệp,

                                số 21.8 – 27.8.1996).

 

 

HÁT VỚI ĐỜI ƠI THƯƠNG MẾN

 

    Trần Xuân An làm thơ và thơ Trần Xuân An khởi đầu là những giọt nước trong veo chắt chiu từ ruột đất quê nhà. Lớn lên anh cùng với bạn bè cuốn theo cuộc lữ hành số phận để đến lúc ngoảnh lại, nỗi hồi cố cồn cào, dồn sâu thương mến ngọt ngào thấm đẫm t́nh người trong thơ anh.

    “Hát với đời ơi thương mến”, tập thơ thứ 6 của Trần Xuân An, đă thoát ra khỏi giăi bày buồn vui kiếp người vốn không dễ suôn sẻ và không gặp nỗi đau nào.

    Cuộc đời vô thường, mà nghiệm chứng được điều đó th́ việc ǵ tự làm khổ ḿnh; và hiển nhiên, khát vọng vươn tới chóng mặt lí giải sự hiện hữu mỗi cá-thể-con-người trong ḍng sống cuộn chảy. Trong bi kịch có lạc quan, dù sao đời vẫn đáng yêu, bởi nhựa đời không ngừng lưu chuyển cho cây đời đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái và trở lại gieo mầm sống. Có lẽ v́ thế mà từ trầm tư mặc tưởng “Lặng lẽ ở phố” (1) đến những phút “Tôi vẫn ở trên đường” (2) và bây giờ bỗng cất tiếng “Hát với đời ơi thương mến” (3) chăng?

    Lần đọc những bài thơ, theo dơi những chạm khắc ngôn ngữ của An trên trang giấy, ta bắt gặp không ít những hoài niệm và suy tưởng về một thời và muôn thuở. Với anh, cuộc sống mang gương mặt t́nh yêu, nếu t́m tới một lẽ sống tích cực, đồng thời với nó là không chấp nhận sự dụ dẫn ma mị trong “thú đau thương” không ích ǵ hoặc giả tạo. Anh “nh́n thẳng” đồng nghĩa với nói thẳng mà thật khẽ thật dễ thương:

           đánh thức dậy đánh thức dậy đi em

           và gọi đúng tên khát vọng tuổi học tṛ

           hăy thôi gương mặt muộn phiền hờ hững

           ném vỡ cái vô hồn bằng sáp dưới hừng đông

                                           (Nh́n thẳng)

    Trần Xuân An tâm niệm “không thể chạy trốn hư vô th́ phải vượt thắng”. Điều dó không loại trừ vai tṛ mỗi chủ thể sáng tạo. Người làm thơ băn khoăn nhưng ở đấy đă có lời giải:

             lẽ nào thơ là tṛ đùa ma quỷ

             dắt nhau hoàn lương giữa cơi đời chung?

                                                  (Trải nghiệm)

    Ở cái tuổi “tứ thập bất hoặc”, cùng yêu tin và thuỷ chung với thơ từ hơn 20 năm nay, anh đă chín nhiều trong cách cảm, cách nghĩ. Dù đi xa nhưng ḷng vẫn luôn đi về nơi chôn nhau cắt rốn. Đấy là lúc t́nh cảm câu thúc để có được những câu thơ dung dị, thật ḷng mà thấm thía, cảm động:

             nơi cho giọng nói chưa pha phách

             chốn yêu thưong, về bỗng khóc ṛng

                                           (Tặng một người)

    Rồi ra, ḍng sông cuộc đời không ngừøng chảy. Trần Xuân An như tôi biết, anh đi nhiều (đă khép lại một thời ốc đảo, nằm đọc sách và chiêm nghiệm). Cái sự đi của con người ta cũng có 1.001 lí do, mục đích. An th́ muốn làm “hành giả của t́nh yêu” và nhờ thế, tâm hồn thăng hoa bất ngờ và đầy thú vị:

             giữa đồng bằng của hồn anh

             đột ngột em, vút cao xanh núi t́nh

                         (Với những hành giả của t́nh yêu)

    Bằng t́nh yêu, thi sĩ tin vào khả năng hoá hiện mầu nhiệm của niềm hi vọng:

             hát tin đáy rác bùn nhơ

             mầm sen sẽ ngát câu ḥ, hương ngân

                   (Hát lên với mỗi đời thường toả sáng)

    Vâng, “c̣n da lông mọc, c̣n chồi nẩy cây” (ca dao). Từ ḷng đời anh hát, từ bấy đến giờ.

    Không phải ngẫu nhiên, với sự dồn nén, đă đến lúc anh cho ra đời liên tục 6 tập thơ và dự định một trường ca dài hơi. Càng không phải là chuyện số lượng mà c̣n là vấn đề chất lượng. Điều đó đáng để chúng ta quan tâm và suy nghĩ về bút lực của cây thơ dồi dào sức sáng tạo.

 

1,2,3: tên các tập thơ của Trần Xuân An.

 

VƠ VĂN LUYẾN

(Báo Quảng Trị,

số ngày 13.5.1997).

 

 

QUÊ NHÀ YÊU DẤU

Trường ca, Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 1998.

 

    Thực ra, đây là 26 khúc thơ riêng lẻ mà Trần Xuân An xâu chuỗi để thành một trường ca về quê nhà yêu dấu của ḿnh với bóng dáng thân yêu của những người cha, những người mẹ, những người em, của bao người anh đă gặp trên bước đường phiêu du đầy hoài niệm. Ở đó, mỗi con người đều rạng rỡ một nụ cười hiền thơm thảo, biết giấu nỗi đau riêng của ḿnh để t́m về quê nhà cơ cực, lầm than, về với miền gió Lào, cát trắng:  

ca dao phương Nam ru hời giọng Trung

mẹ ru em thuở xa xăm bé bỏng

ngày xưa ngày xửa

mù sương vợi vời

em lại ru con theo nhịp đưa nôi …

    Viết về người mẹ, Trần Xuân An có những câu thơ lạ lùng buốt nhói:

cơn mưa rào tháng hạ

bừng nắng nung và gió bỏng

con trơ vơ khóc mẹ

để thắp được nén nhang

con phải đào tay xuống cát ướt

lửa bùng lên cháy hết nửa rồi

như đời người cơ cực

    Trần Xuân An làm thơ có nghề, biết tiết chế trong từng câu, từng chữ, và với sự liên tưởng phong phú, với cảm xúc chân thành của ḿnh, anh đă chạm được mối giao hoà cùng bạn đọc:

           tạ ơn quê nhà c̣n mảnh đất để chôn …

 

TRẦN NHẬT THU

(Tuần báo Văn Nghệ TP. HCM.,

số 37 – 98, 15 – 21.10.1998).

 

 

Nhà thơ – nhà giáo

TRẦN XUÂN AN

 

LÊ HOÀNG ANH

phỏng vấn

 

1. Xin anh cho biết, thơ “trẻ” bây giờ có ǵ mới?

 

-  Thơ của những nhà thơ trẻ, hai mươi đến ba mươi tuổi, mới và lạ hẳn so với thơ của lớp nhà thơ trước đó: Mới lạ về đối tượng quan tâm, cảm xúc thẩm mĩ, ngôn từ, kết cấu và nhạc điệu. Với mối quan tâm chung về số phận, tâm hồn và tâm linh, trong một bối cảnh đổi mới, họ vẫn có cách cảm nghĩ và cách nói khác với các thế hệ khác hiện sống và làm việc với họ. Nhưng dẫu sao vẫn không thể có một đột biến như Thơ Mới được. Mọi nguồn thơ Đông và Tây đều gặp nhau cả rồi trong suốt thế kỉ này. Cái mà thơ trẻ có thể nhắm tới là bề sâu hơn là bề ngoài, dẫu bề ngoài của thơ cũng quan trọng. Nhưng c̣n phải chờ. Hiện nay chưa thấy. Họ chỉ chú ư đến bề ngoài của thi pháp.

 

2. Riêng anh có ǵ thay đổi trong thơ?

 

-   Viết, phải mỗi ngày mỗi mới.Tôi cũng được một số nhà thơ quen biết xếp vào loại “chịu khó” cách tân. Nhưng dù cách tân cách ǵ đi nữa cũng không thể liều lĩnh vô căn cứ, thiếu cơ sở lí luận và thực tiễn sáng tác. Tôi thường xuyên sáng tác trong trăn trở, vật vă với chữ nghĩa, h́nh ảnh và nhạc điệu, kết cấu và tứ thơ. Thơ phải thể hiện chất trí tuệ – cảm xúc  đến mức ḿnh có thể đạt được với nỗ lực không nguôi. Thơ không thể trống rỗng, chỉ chú tâm lập dị cho mới, lạ mà không đẹp. Đấy chỉ là tự định hướng cho bản thân. Vấn đề là tác phẩm đă in chứ không phải là hoài băo sáng tạo.

 

3. Anh đánh giá ǵ về thơ t́nh yêu trước sự “lạm phát” thơ t́nh hiện nay?

 

-  T́nh yêu nam nữ là vấn đề lớn bên cạnh những vấn đề lớn khác. Trong văn học thế giới và ở nước ta, có nhiều tác phẩm thể hiện những vấn đề rất lớn của con người và của các dân tộc theo từng thời đại thông qua t́nh yêu đôi lứa. Theo tôi nghĩ, vấn đề là các nhà thơ làm thơ t́nh có tránh né các vấn đề xă hội khác hay không. Ai cũng muốn có một nền thơ vững chắc. Vâng, rất cần có nhiều thơ chan chứa t́nh cảm và trí tuệ công dân bên cạnh nhiều tác phẩm thơ viết về nhiều đề tài khác, trong đó có thơ t́nh yêu nam nữ.

 

4. Theo anh nghĩ, giữa thơ và văn, cái nào khó hơn?

 

-  Cái khó của văn, của thơ nói chung về loại và nói riêng về thể, là không giống nhau. Sự khó nhọc, xét về cường độ lao động và thời lượng lao động để h́nh thành mỗi đơn vị tác phẩm hoàn chỉnh, th́ có thể so sánh được. Làm tiểu thuyết thơ cực nhọc hơn viết tiểu thuyết văn xuôi , nếu có độ dày bề rộng như nhau. Thơ cần lao động trên từng chữ, từng vần một. Thơ trữ t́nh, có khi chỉ hai câu (bản thân tôi có những bài, mỗi bài chỉ vỏn vẹn tám âm tiết – tám chữ, ngắt làm bốn ḍng), tưởng buột miệng là thành, cũng phải vất vả ghê gớm. Tôi nghĩ đến sức chứa, độ nén của các linh kiện điện tử hiện nay. Vấn đề là ở đó. Mỗi bài thơ lại là một chỉnh thể đơn nhất. Vả lại, ở đây không phải là sự khó làm hay khó nhọc mà là ở sự khó thành công. Với văn, thành công cũng khó như thành công về thơ.

 

5. Vậy anh nghĩ ǵ về sự phát triển “ồ ạt” của thơ hiện nay?

 

-  Sau sự “ồ ạt” như một tất nhiên, sẽ đi đến trạng thái trầm tĩnh hơn và chắc chắn sẽ có chất lượng hơn. Không có ǵ hư vô, v́ ngay cả thể nghiệm cách tân hoặc phục cổ, dẫu thất bại th́ vẫn là thất bại có ích. Phát triển rầm rộ nhưng hướng thiện th́ có chi đáng ngại.

 

6. Theo anh thơ cách tân của một số người có ǵ đáng chú ư?

 

-  Đổi mới thi pháp là mối bận tâm chung. Có một số người đă h́nh thành được giọng thơ riêng, nhưng do những nhà thơ ấy bảng lảng, mơ hồ, bàng bạc và có lẽ hơi rối rắm như tơ trời trong thơ họ, nên đọc chỉ cảm chứ chẳng nhận được ǵ nhiều. Có một số người cố t́nh tạo nên sự trúc trắc trục trặc trong nhịp điệu và thể hiện một cái nh́n mới về các sự vật vốn khó nên thơ. Cái nh́n ấy rất quư. Sự trúc trắc cần thiết cũng phải là một dạng hài thanh chăng?

 

7. Vậy theo anh, để có một bài thơ hay cần có những điều kiện ǵ?

 

-  Để có thơ hay, phải hết ḿnh, hết ḿnh học, hết ḿnh sống, hết ḿnh viết. Tất nhiên cũng phải có năng khiếu, và nhờ hết ḿnh, trở thành tài năng. Để có một bài thơ hay, hiểu như đỉnh cao của một đời thơ, ngoài những nỗ lực hết ḿnh, chút năng khiếu tiền đề, cũng c̣n cần không khí thoáng đăng của xă hội.

 

8. Hướng tới tương lai, anh nghĩ ǵ về thơ?

 

-  Mỗi nhà thơ phải tư nỗ lực là điều không cần phải nói. Quan trọng là nhu cầu và thái độ của xă hội đối với thơ.

   Thơ là tinh túy của tiếng mẹ đẻ. Dù trong tương lai có học quốc tế ngữ trên toàn thế giới (không phải ngôn ngữ của bất ḱ nước nào, dân tộc nào) th́ cũng phải học tiếng mẹ đẻ. Thơ c̣n là một dạng nhu cầu đầu tiên, sâu thẳm và bền vững của loài người từ khi có ngôn ngữ.

   Ước chi nghệ thuật ngâm thơ và đọc diễn cảm thơ cần được phát huy hơn nữa với các giáo cụ trực quan (băng, đĩa) để nhu cầu thơ cần bằng với nhu cầu nhạc trong xă hội (ở các quán cà phê, ở các tụ điểm văn nghệ).

   Chẳng lẽ nghệ sĩ ngôn từ đang viết chỉ cho ḿnh và chỉ cho những người cùng nghiệp?

                                                          

14.5.1997.

                                            (trích trong cuốn

Tṛ chuyện với văn nghệ sĩ

của nhà thơ LÊ HOÀNG ANH,

Nxb. Thanh Niên, 2000, tr. 19 - 22).

 

 

 

THƠ NHỮNG MÙA HƯƠNG

tập thơ thứ chín

TRẦN XUÂN AN

 

Mục lục

 

-      Trang đề tặng những trái tim cơi người, những nàng hương h́nh như không có thật. 6.

 

-      Phần một: Thơ dâng T́nh Yêu. Và yêu em như đất trời. 7.

 

-      Thơ ngỏ. 8.

1.   Hương, người mẫu của tranh bằng chữ. 9.

2.   Cùng Quảng Trị dạo chơi ba mươi sáu phố phường. 11.

3.   Một quăng Thái Hà. 13.

4.   Chén trăng ngọt. 15.

5.   Tam Kỳ, 1996. 17.

6.   Mưa chiều, hẹn với mùi hương lan đất. 18.

7.   Lời cây phố thị. 20.

8.   Với cô gái hoa chưng rượu cất. 21.

9.   Cát trắng đất nâu. 22.

10.   Bốn nhánh hoa sinh nhật. 24.

11.   Thoáng chiều hôm đường Thanh Niên. 27.

12.   Tam Kỳ, đường đê vàng hoa sưa. 30.

13.   Xin sợ hăi niềm cay chua. 32.

14.   Buồn cười với những sợi tóc râu màu khói. 34.

15.   Viết sau tấm ảnh Hồ Gươm. 36.

16.   Tản bộ qua cầu Chương Dương. 38.

17.   & 18. Những làn hương. 40.

17.   Hương và một thời. 40.

18. Hương xanh. 40.

19. Phượng của hai người. 41.

20. Đến với những ngày tháng trong lành. 42.

21. Chiều ghé thăm Bài thơ Đông Hà. 43.

22. Mẹ là cơi đời. 45.

23. Hương phố cũ. 47.

24. Rất Tết, mùa trẻ thơ. 48.

25. Có phải kẻ làm thơ t́nh ngớ ngẩn. 50.

 

-  Phần hai: Những t́nh thơ thuở đó. 51.

 

-  Thưa ngỏ về một mùa hương thơ cũ. 52.

26.   Tháng ngày. 53.

27.   Mưa cao nguyên. 54.

28.   Nghe không, người t́nh nhỏ bên kia Hải Vân đă xa. 56.

29.   Sao tím. 57.

30.   Thu Thành Nội. 58.

31.   Mưa thu. 59.

32.   T́nh mưa. 60.

33.   Lá và sông. 61.

34.   Thu ngoan. 62.

35.   Thơ xa người. 64.

36.   Chuyến tàu mùa thu. 65.

37.   Phượng mùa thu Đại Nội. 66.

 

-          Phụ lục: Những kỉ niệm văn nghệ. 68.

 

1.    Phạm Chu Sa (báo Thanh Niên chủ nhật, số ngày 25.08.1996). 69.

2.    Nguyễn Đông Nhật  (báo Doanh Nghiệp, số ngày 21. 08. 1996). 69.

3.    Vơ Văn Luyến (báo Quảng Trị, số ngày 13.05. 1997). 71.

4.    Trần Nhật Thu (tuần báo Văn Nghệ TP. HCM., số 37 – 98, 15 – 21.10.1998). 74.

5.    Tṛ chuyện với nhà thơ Lê Hoàng Anh (phỏng vấn và trả lời, trích trong cuốn Tṛ chuyện với văn nghệ sĩ, Nxb. TN., 2000). 75.

 

-       Mục lục. 80.

-       Ba bài thơ ngoài tập. 83.

-       Danh mục sách của tác giả. 92.

 

 

 

Ba bài thơ ngoài tập:

kỉ niệm Hà Nội

 

 

VỚI NHỮNG NGƯỜI BẠN

BÔNG ĐÙA BÊN HỒ HOÀN KIẾM

 

hồ toả khói mờ, trời xuống mây mơ

ngàn cánh nắng mai đậu trên Thê Húc 1

em là trăng, nên ngày không c̣n thực

rất hoa đào, thắp ấm một hừng đông

 

ngỡ em quan họ tung lụa cầu vồng

hay từ tay áo nâu sồng màu đất

lược cài tuổi thơ tươi non em cất

tự tiền kiếp nào, hoá Thê Húc xinh

 

em, con ngỗng trời huyền sử lung linh

bỗng bay bên vai, trắng ngần Hà Nội

tôi mặc áo the, đội khăn, tóc bối

guốc mộc nước qua, ngắm truyền thuyết xưa

 

lẫy nỏ Rùa Vàng tên bắn như mưa

triệu tia mặt trời găy trong làn nước …

khi chụp ảnh với Thánh Trần, mắt ngước 2

thấy gươm thần thành Tháp Bút, ngút trời

 

thi sĩ bông lơn đồng bóng giữa đời

nhặt lá bồ đề, ép tim vào sách

nửa thành Đài Nghiên – cái tâm hoá thạch

nửa hoá rùa vàng – chút t́nh thành kinh

 

yêu các em như trời đất, thất t́nh

đáng đời chăng, kẻ chỉ mê tín sắc

ơi ni cô đẹp nét không thơ Phật

ơi trăng ơi đào, ngỗng trời yêu ơi …

 

Hà Nội, 02.03.1997

Tp. HCM., 12.03.1997.

 

1.  Thê Húc: nắng ban mai đậu lại.

2.  Đền thờ Trần Hưng Đạo (Đức Thánh Trần) vốn được xây dựng ngay trong chùa Ngọc Sơn.

 

 

NGẪM KHỔ ĐẾ  1,

TẢN MẠN NIỀM VIỄN TƯỞNG

QUANH CHÙA MỘT CỘT

 

ni cô cùng anh rong chơi

thăm chùa xưa – đoá sen đời sắc nâu

vuông hồ gói cả trời sâu

hay khăn lụa biếc óng màu chép kinh?

đọc từng hoa súng, giật ḿnh

chùa này, bóng ảo của xinh xắn này?

 

nâu sồng ơi, ngh́n xưa đây

khói hương là thoáng sương bay hương đồng

 

cửa không, thơ không hư không

dáng chùa, ngọn đuốc toả hồng lửa thiêng

 

nhớ xưa, một nụ hôn thiền

ấm phương Nam ngưỡng vọng miền tâm linh

 

hoa súng ơi, anh đa t́nh

nh́n đâu cũng thấy lung linh hoa đầy

 

ngỡ bừng đuốc tuệ đêm ngày

thôi hiểu nhầm Quả đất này: trần gian

địa ngục? Cũng thành niết bàn

khi hai tay khoẻ tưởng ngàn cánh tay

cơi người viễn tưởng, hồn chay

với Tự nhiên, ta hết dày ṿ ta

 

cùng ni cô giữa ta bà

tâm đau khổ đế, la đà buồn ai …

 

tự thưa, tên kẻ khổ sai:

một mái nhà và chẳng hai bạn t́nh 2

 

cô em ni cô hát kinh …

quanh chùa Một Cột gặp ḿnh đang bay

 

phật đày thương chăng phàm đày? 3

hạnh bồ tát tu trong cay đắng đời

 

người bóc người, đỏ mồ hôi

t́nh lột t́nh, gió t́nh ơi, héo t́nh!

vấp chân ngọn cỏ sơ sinh

giẫm dăm chú kiến, giật ḿnh. Cứ đi!

về thôi, bông súng từ bi

anh c̣n cày ruộng xanh ŕ trang thơ

 

địa ngục ư? Yêu ngẩn ngơ

lúa thơm vào áo, gạo no tâm hồn

 

cơi người viễn tưởng, yêu hơn

cũng là Quả đất đầy tṛn dưới chân

 

mộng mơ thơ biếc bạt ngàn

nai nhà rộng trảng, ngựa hoang quên rừng

 

vẽ vời cùng cô em cưng

nông trang chùa dựng nâu cùng áo em

 

búp tim mở một cánh mềm

dáng chùa hoa súng ngày đêm một người

mặn mà mắt mặn môi tươi

phật yêu dấu là tiếng cười anh thương

chùa trong anh đi muôn đường

chùa em, hoài ghé nghe chuông, xanh đời.

 

Hà Nội, 03.03.1997

Tp. HCM., 13.03.1997.

 

1.  Khổ đế (một trong tứ diệu đế Phật giáo): chân lí về khổ đau; khổ đau là có thật. Tập khổ đế:nguyên nhân khổ đau, trong đó có tham vọng tư hữu…

2.  An, theo chữ Hán, tượng h́nh: một người nữ dưới một mái nhà.

3.  Phật (budha), chữ Phạn: người giác ngộ chân lí ngay trong đời sống, dù là đời sống phàm tục. Bất ḱ ai cũng có thể là Phật.

 

 

VU VƠ CHIỀU VĂN MIẾU,

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGH̀N XƯA

 

Thiên hà ngôn tai!

(Trời có nói ǵ đâu!).

 

Khổng Tử

 

1.

 

cô nàng mặc áo tứ thân

từ ngh́n xưa đến hát gần bên tôi

điện thờ, thầy Khổng sững ngồi

nhập thân t́nh tứ chọn lời Kinh Thi? 1

 

thưa em, duyên yêu là chi

râu nghiêm bạc, úa tim si thánh hiền

 

đâu vô danh vô vi thiền

đây bia chất xám, niềm riêng chói trời

giọng ca như rượu chuốc mời

em quan họ khảm vào đời ảnh em!

 

2.

 

tôi quỳ bên vuông cỏ mềm

chớp phim bè bạn, gió thêm rối bời

soi tôi xuống nước, nh́n tôi

mỗi bọt chữ, mỗi lả lơi ỡm ờ!

 

v́ đời, thầy Khổng t́m thơ

ngọt nồng em hát thực mơ, dâng đời

 

tiếng thơm, thơm cho nơi nơi …

(vẫn thương kính Lăo tuyệt vời, quên danh

Gióng vô danh hoá Trời Xanh 2

ngh́n sau nhang khói vờn quanh tâm h́nh!)

 

3.

 

rùa thiêng, biểu tượng thần linh?

bia tên tuổi trĩu dân ḿnh, bước lê?

lưng rùa, dựng sách tỉnh – mê

mê, bành trướng, mê, a ê bao đời! 3

 

(như Thánh Kinh vút trùng khơi

da dê mục chữ nhầm lời, buồn không!)

 

một thẻ tre cách điệu xong

mai rùa một mảnh – mênh mông: bia ngời …

“đàn bà khó dạy” (?!) ấy ơi 4

tôi nhạt đạo, ngoại đạo rồi, thưa em

 

4.

 

tháng giêng Văn Miếu, bên thềm

ngắm nàng đàn trong êm đềm chiều xanh …

thầy Chu An ngát hương thành …

yêu là Đạo! Tôi tập tành trăm năm

 

ngài ơi, công nghệ lú câm

giàu nhân nghĩa sao âm thầm rạ rơm?

 

cái danh cái lợi – cái ḥm?

cái t́nh, và cái lom khom rạp ḿnh!

… tâm linh – ơn dựng miếu đ́nh

tâm hồn, ngài hỡi – môi xinh í ời

 

5.

 

tôi về g̣ Đống Đa thôi

thắng Tàu, bởi học, vượt lời Tàu xưa!

 

Hà Nội, 02.03.1997

Tp. HCM., 14.03.1997.

 

1.  Ở đây, chỉ chú trọng mảng đề tài lớn nhất trong Kinh Thi: yêu đương (phần Quốc phong).

2.  Lăo:ông già. Gióng (tên làng); Thánh Gióng là biểu tượng Chiến sĩ Vô danh.

3.  Phần hạn chế trong kinh Thi(chủ yếu trong Tiểu nhă, đại nhă, Tụng). Kinh Thi chỉ là một trong chín pho sách kinh điển của Khổng giáo. Cả chín pho đều bị mất mát ít nhiều, lại bị lắp ghép, xuyên tạc, thêm bớt.

4.  Quan điểm của Khổng Tử về phụ nữ.

 

 

 

Trần Xuân An

Sinh ngày 10. 11. 1956 tại Huế;

Nhân tộc: Kinh (Việt Nam);

Quê gốc: Quảng Trị;

Tốt nghiệp ĐHSP. Huế (1974 – 1978);

Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 – 1983;

Hiện nay, chuyên sáng tác, nghiên cứu.

 

Tác phẩm đă xuất bản:

 

1.  Nắng và mưa, thơ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.

2.  Hát chiêu hồn ḿnh, thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.

3.  Tôi vẫn ở trên đường, thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993.

4.  Lặng lẽ ở phố, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.

5.  Kẻ bị ném vào băo, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.

6.  Hát với đời ơi thương mến, thơ, Nxb. Trẻ, 1996.

7.  Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998.

8.  Có một nơi lá măi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.

 

Tác phẩm đă hoàn tất bản thảo (*):

 

9.  Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, 1997; bản đă sửa chữa và bổ sung, 2001.

10.  Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998.

11.  Thơ những mùa hương, thơ, 1997 (bản in vi tính, 2002).

12.  Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, thơ, 1997.

13.  Sen đỏ, bài thơ ḥa b́nh, tiểu thuyết, 1999.

14.  Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn, 1999.

 

Soạn phẩm biên khảo đă hoàn tất bản thảo (*):

 

15.  Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000.

16.  Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.

17.  Những trang Đại Nam thực lục về Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời ḱ đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001.

18.  Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp (sưu tập và ghi chú), tư liệu ấn hành hạn chế, 2001.

19.  Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê b́nh sử học, 2002.

 

Tặng thưởng, giải thưởng:

 

1.      Báo Văn nghệ Giải phóng, 1975.

2.      Giải Sáng tạo trẻ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.

  

(*) Tất cả các tác phẩm, soạn phẩm biên khảo đă được xếp chữ vi tính, ấn hành trong phạm vi từ 10 đến 20 bản sách (gửi các toà soạn, nhà xuất bản, cơ quan khoa học lịch sử và một số nhà nghiên cứu, bà con, bạn văn thân thiết), trong khi chờ giấy phép và điều kiện để có thể xuất bản rộng răi. TXA.

 

  

(tính đến năm 2002)

 

 

 

GHI CHÚ ĐỂ KỈ NIỆM:

 

CUỐN SÁCH THỨ HAI TÁC GIẢ TỰ XẾP CHỮ, DÀN TRANG,

TR̀NH BÀY TRÊN MÁY VI TÍNH TẠI NHÀ.

 

KHỞI CÔNG VÀ HOÀN TẤT:

TỪ 07 ĐẾN 09 THÁNG 5, NHÂM NGỌ, NĂM THỨ 2

CÔNG NGUYÊN HOÀ B̀NH

(17 – 19 THÁNG  6.2002).

 

 

GHI CHÚ THEO THỦ TỤC:

 

TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN TỪNG CHỮ, TỪNG Ư TƯỞNG CỦA M̀NH. TRÂN TRỌNG

VÀ THÀNH  THẬT BIẾT ƠN.

 

 

THƠ NHỮNG MÙA HƯƠNG

tập thơ thứ chín

của TRẦN XUÂN AN

 

NHÀ XUẤT BẢN:

 

2002

 

CHỊU TRÁCH NHIỆM XUẤT BẢN:

 

 

BIÊN TẬP:

 

 

B̀A:

 

 

CHỮA BẢN IN:

 

 

In 1.000 cuốn, khổ 13x19 cm,

tại xí nghiệp in:

Số đăng kí kế hoạch xuất bản:

do Cục Xuất bản cấp ngày:

Quyết định xuất bản:

In xong và nộp lưu chiểu trong tháng:

 

 

GIÁ:

 

 

( hết tập )

 

Trở về trang chủ

THÔNG BÁO

               Cập nhật: 05/01/07

               (tháng / ngày / năm)

______________________________________________________________________________________________________________

 

 

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/home

 

hidden hit counter

 

Google page creator /  host

 

GOOGLE BLOGGER, DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE  


 

    lên đầu trang (top page)   

 01-5 HB7 (2007) = 15-3 Đinh hợi HB7