Tran Xuan An - Phu chinh dai than Nguyen Van Tuong_Tep 4_II
author's copyright TRẦN XUÂN AN

 

                                                                                                                                                                                                                        

05/01/07

14-04 HB6

( 2006 )           

 

TẬP II

 

 

Tệp 1

 

Tệp 2

 

Tệp 3

 

Tệp 4

 

Tệp 5

 

Tệp 6

 

Tệp 7

 

Tệp 8

 

Tệp 9

 

Tệp 10

 

Tệp 11

 

Tệp 12

 

Tệp 13

 

Tệp 14

 

Tệp 15

 

Tệp 16

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                               

  

Kính dâng lên bàn thờ cao tổ phụ:

NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 – 1886)

 

Trần Xuân An,

nội hậu duệ thế hệ thứ năm.

 

 

 

Tặng hai con thương quư của ba:

 

TRẦN XUÂN BÀI THƠ

& TRẦN XUÂN NHÂN VĂN

 

TXA.

 

 

Xem:

Blogger (Google) tháng 12-2005

http://tranxuananpcdtnvt2a.blogspot.com/

   & các trang tiếp theo: … 3a … 3b … 3c …

 

 

 

 

 

Tệp 4

PHÂN ĐOẠN  4 TRUYÊN KÍ THỨ 7

 

TRẦN XUÂN AN

 

CƯỠNG ƯỚC  “HỮU NGHỊ”

VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,

GIÁP TUẤT 1874

 

Truyện kí thứ bảy

(phân đoạn 4)

 

      9

      Ngày mùng một tháng mười một, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quư dậu (1873), hai phái đoàn của hai bên rời Huế. Hai hôm sau, mùng ba, chiếc tàu thuỷ D’Estrées rời cảng Đà Nẵng. Mùng năm, tàu đến Cửa Cấm (Hải Pḥng) (128).

      Đến lúc này, Philastre và những tên Pháp khác cùng linh mục thông ngôn Nguyễn Hoằng trong phái đoàn Pháp mới được thư thông báo của chính những tên thực dân đang đóng tại Hà Nội gửi xuống: Françis Garnier đă bị hạ sát cùng mấy tên quan lính viễn chinh. Philastre kinh hoảng. Y cảm thấy chưa bao giờ kinh hoảng đến thế. Y đập tay xuống bàn giận dữ. Các tên đồng bọn cũng sùng sục căm tức và phập phồng lo âu.

      Philastre vẫn đang bừng đỏ sắc mặt xen lẫn nét thất thần, nhưng cố b́nh tĩnh thông báo lại cho phó sứ Nguyễn Văn Tường và các viên quan tuỳ tùng của phái đoàn Đại Nam. Nh́n Nguyễn Văn Tường, người mà y rất kính nể và cảm phục, Philastre nói tiếp:

      - “Việc chắc không xong, phải phi báo [vào] quan Pháp soái [Dupré]. [Chúng tôi thấy] không nên ở lâu [tại đây]” (129).

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường thấy Philastre đang rất bối rối và tức giận, ông sợ sẽ hỏng việc lớn, nên mới thong thả nói một cách điềm tĩnh, từ tốn:

      - “Việc [chiếm] lấy Hà Nội, quư soái [Dupré] đă nói không phải bổn ư [của quư soái]. C̣n như sức [quân] binh bốn tỉnh [Bắc Ḱ] cũng mạnh, mà nước tôi cũng không đem ra tranh hoành. [Như thế] thiệt là hai bên đều không trái ư nhau. Đến như việc An Nghiệp [Françis Garnier] chết, [ấy là bởi:] hoặc tại kẻ trộm cướp nơi khác đến, hoặc tại dân bổn xứ khích giận. [Vụ] việc [ấy] chưa rơ ràng. Huống chi, trả thành để mau định ước, là lệnh quư soái [Dupré]; nhận thành rồi mới nghị hoà, là mạng [lệnh của] vua nước tôi. Chúng ta chỉ nên cần mạng lệnh ấy. C̣n như việc Hà Nội giết An Nghiệp [Françis Garnier], cũng như  An nghiệp [Françis Garnier] giết Nguyễn Tri Phương, đều là vụ [biến trong] t́nh h́nh, không phải chúng ta làm ra. Nay [chúng ta] chưa từng tới nơi [th́] biết việc thế nào. Mà [thật sự chúng ta mới] chỉ [được] truyền nghe, báo khống! [Như vậy] không những quư soái [Dupré] ở xa khó tính trước, mà chúng ta đi chuyến này thiệt là phụ chức trách lắm. Chi bằng phi thơ [:gửi thư] ra Hà Nội, [bảo] đem tàu hoả [:tàu thuỷ chạy hơi nước] nhỏ rước chúng ta tới nơi, [và chúng ta] như nên theo mạng lệnh trước, hội đồng mà làm, thời càng hay; hoặc nên hỏi cớ An Nghiệp [Françis Garnier] v́ sao mà chết, rồi sẽ báo. Vậy chẳng ổn tiện lắm sao?” (129).

      Philastre nhận thấy phó sứ Nguyễn Văn Tường nói rất phải lẽ. Y ngẫm nghĩ thêm một thoáng. Cơn giận dữ xen lẫn kinh hoảng cũng vơi nhẹ bớt nhờ sự điềm tĩnh của Nguyễn Văn Tường. Về việc đổi tàu thuỷ, Philastre tính lại, y vẫn thích đi chiếc tàu Đề Ta Gi (Decrès), và có ư định cho chiếc Đát Tờ Gi (D’Estrées) đang chở hai phái đoàn ra quay trở vào Gia Định để báo. Chiếc D’Estrées lớn hơn và chạy nhanh hơn. Philastre nói ra với Nguyễn Văn Tường điều đó.

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường bàn:

      - “Tàu quư quốc đă tới lại lui ra, e sĩ dân nghe tin, ắt bắt chước làm như Hà Nội, [th́ đến lúc ấy] ai cấm ngăn được. [Và lỡ sự thể xảy ra,] sợ khi [về] sau tổn hại càng lắm. [Đến thế], lấy ǵ thưa lại với quư soái? Nay nên khiến tàu Đề Ta Di (Decrès) ra cửa [biển] đón triệt giặc biển, c̣n chiếc tàu Đát Tờ Gi (D’Estrées) nên cứ chạy luôn tới Hải Pḥng. Trước [hết], giao lại thành Hải Dương, hiểu thị sĩ dân để [họ] rơ t́nh, tin thiệt, rồi [sau đó] qua Hà Nội, giao hết các tỉnh thành, và hỏi việc An Nghiệp [Françis Garnier], xong sẽ chạy giấy [thông] báo cả một lần, mới là trọn vẹn” (129).

      Philastre nghe theo đề xuất bàn bạc của phó sứ Nguyễn Văn Tường. Y cho tàu Decrès chạy đi dẹp giặc biển, cho tàu D’Estrées chạy đến Hải Pḥng, lại liền giao lại bốn tỉnh cho quan Đại Nam ta quản lí, trị nhậm, đồng thời y ra lệnh cho bọn quan quân Pháp rút khỏi các thành tỉnh, lui về tạm đóng tại Hải Pḥng, và đoàn tàu thuyền Jean Dupuis cũng không thể hạ neo nơi nào khác ngoài Hải Pḥng, vốn là nơi quy định. Philastre những trông mong ngày về, và nhất nhất đều theo yêu cầu của phó sứ Nguyễn Văn Tường.

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường vẫn luôn luôn giữ được thái độ điềm tĩnh trước t́nh huống khó khăn. Ông vẫn rất khôn khéo, vừa cứng rắn, đưa ra những dự kiến bất trắc, ngầm để cho Philastre bối rối, lo âu, vừa mềm mỏng, đề xuất những giải pháp có lợi và từ đó thuyết phục Philastre nghe theo.

      Philastre vốn là một tên thực dân biết điều nhất trong đám thực dân Pháp, lại đă được Dupré dặn ḍ gần như cầu cứu y trước sự thể Françis Garnier gây ra, nên Philastre không thể gây rối thêm. Trước khi Philastre ra Huế, chính Dupré đă nói riêng với y: “Với những lệnh rơ ràng như thế [từ Paris], làm sao tôi có thể xâm chiếm Bắc Ḱ được? Tôi không trách nhiệm ǵ về những việc đă xảy ra trên sông Hồng Hà. Garnier đă quá vượt quyền hạn của anh ta. Tôi chẳng lúc nào cho phép anh ta dùng bạo lực. Anh ta làm tôi nguy mất… Tôi là người hỏng [việc] rồi, và chỉ có anh [:Philastre] mới cứu tôi được thôi” (130). Sau khi biết Françis Garnier chết mấy hôm, Philastre lại nhận được điện của Dupré. Trong bức điện ấy hẳn có cả điện văn của bộ trưởng Hải quân Pháp Pothuau (?): “Biến cố buồn [về cái chết của Françis Garnier] mà ông báo cho tôi hay [đă] chứng minh những lo âu của tôi đối với phái bộ đi Bắc Ḱ mà tôi đă không thể chận lại được” (131). Philastre thấu hiểu tham vọng thực dân của chính đồng bọn của y đă và đang mâu thuẫn, giằng co với ư thức tránh né trách nhiệm. Philastre càng hiểu cuồng vọng xâm lược của bọn chóp bu và tướng lĩnh Pháp đang phải dè dặt, xung đột với t́nh trạng hiện thời đang hồi suy yếu của chính nước Pháp. Philastre hoàn toàn tỏ ra ngoan ngoăn trong các thoả thuận, một khi đă đạt được mục tiêu hạn chế trong “hoà” ước và thương ước sắp được kí kết! Có nhiều nguyên nhân, xét từ tâm địa, xét từ t́nh thế khách quan, để Philastre thoả thuận với thái độ như thế.

      Tuy nhiên, để thực hiện được sự thoả thuận trao trả bốn tỉnh Bắc Ḱ ấy, cũng không phải xong ngay trong một thoáng. Có rất nhiều trở ngại, nhất là sự chống đối của bọn Jean Dupuis, bọn thực dân Pháp do Françis Garnier và Esmez cầm đầu, kể cả các cố đạo Pháp, cùng với sự chống đối của bọn cơ hội, Hán gian, Việt gian  (“tả đạo”, “phù Lê”…) ở xứ Bắc Ḱ này!

      Ngày mùng tám tháng mười một nguyệt lịch (1873), trong dự định, sẽ là ngày khởi đầu cho tàu Decrès đi đánh dẹp giặc biển, pḥng ngừa chúng thừa cơ tấn công, lại gặp thuyền của chúng ghé đậu tại Hải Pḥng. Một trận vây áp diễn ra, bọn hải tặc bị buộc phải bỏ thuyền súng, quay về Tàu (132).

      Chiếc D’Estrées tiếp tục chở phó sứ Nguyễn Văn Tường và thống sát Philastre cùng hai phái đoàn hai bên đến Hải Dương. Thành đă bị chiếm bởi 01 sĩ quan và 30 tên lính Pháp (133). Đây là tỉnh trước đấy do Đặng Xuân Bảng làm quyền hộ tổng đốc. Nay bọn Françis Garnier đă đặt tên giáo dân “tả đạo” tên Trương, vốn là một gă thợ rèn, làm tổng đốc thay thế (133). Tên thợ rèn này được trọng dụng bởi y là “tả đạo” và cũng v́ y đă rèn cho đội quân tay sai từ một vạn hai (12.000) đến một vạn tư (14.000) tên “lính bản xứ” vô số vũ khí.

      Ngụy tổng đốc Trương xênh xang áo mũ, nghênh ngang xe ngựa, hống hét, tác oai tác quái, ngỡ là từ đây vĩnh viễn tham vọng mê muội về một “xứ Bắc Ḱ Thiên Chúa giáo thuộc Pháp bảo hộ” đă thành hiện thực vững chăi. Bất ngờ Françis Garnier bị chém bay đầu, lại bất ngờ Philastre và Nguyễn Văn Tường đến để tiến hành trao trả, tiếp nhận. Như thế là tất cả tham vọng lại đổ vỡ!

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường trực nhận và kết luận sau những phân tích, tổng hợp về t́nh h́nh: sự phản ứng của bọn “tả đạo” Việt gian… Ông cho quân lính giả dạng dân thường và dân giáo để ḍ xét, trinh sát. Tin t́nh báo thu về: tên ngụy tổng đốc Trương đang thất vọng, phẫn uất đến cùng cực, y quyết tâm phá hỏng việc trao trả và tiếp nhận lại thành luỹ, chính quyền, bằng cách bắt cóc phó sứ Nguyễn Văn Tường để làm sức ép, mặc cả và để trả hận (133). Đúng là phản ứng của những kẻ cơ hội bị bỏ rơi, ở trong thế phải chống lại cái chết.

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường liền bàn việc với Philastre. Trong khi đó, ông đă bí mật thông tư cho tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên đem quân ta đến. Bốn trăm (400) quân tỉnh Bắc Ninh, 200 quân tỉnh Hưng Yên cùng với số quân ta tại Hải Dương, tất thảy khoảng một ngàn (1.000) người lính (134). Đó là một lực lượng đủ để chống lại phản ứng cùng quẫn bởi u mê rất nguy hiểm của tên ngụy Trương. Và ngụy tổng đốc “tả đạo” tên Trương liền bị bắt, đem xuống tàu thuỷ giam lại. Tổng đốc thợ rèn phản quốc, tay sai giẫy giụa trong bi hài nhục nhă (134)!

      Sau đó, phó sứ Nguyễn Văn Tường tạm đặt quan viên quản trị, trong khi chờ sự bổ nhiệm chính thức của nhà vua (135). Ông chọn ngay nguyên Hải Pḥng sung biện Nguyễn Duy Tự, người đồng sự quen thân, vốn là tri huyện Thành Hoá, ở Quảng Trị năm nào, làm quyền sung hộ đốc tạm thay Đặng Xuân Bảng, người đang bị cách chức. Hai viên khác, Nguyễn Hữu Độ và Tạ Hiện, quan của quân thứ Hải – Yên, lại do Pháp đề nghị theo chúng để hỗ trợ việc giao nhận thành. Và trong số quan viên mới của tỉnh Hải Dương, c̣n có nguyên bang biện Hải – Yên quân vụ Vũ Duy Trinh, nguyên ṭng lục phẩm văn giai Lưu Đức Long (135). Vũ Duy Trinh là một viên quan của triều đ́nh, nhưng cũng là một kẻ đáng ngờ. Tuy nhiên t́nh h́nh đang cấp bách, chưa thể điều tra kịp (về sau mới phát hiện ra y là một tên giặc quấy nhiễu, cướp bóc, đă quy thuận, giỏi nịnh hót, và hẳn là gián điệp, đội lốt quan chức, chui vào hàng ngũ bộ thần, nhưng không thể có cốt cách sĩ phu! (136)). Vả lại, đây chỉ là tạm phân bổ… Ngày mười hai tháng mười một Quư dậu (1873) ấy, Hải Dương đă lại về ta!

      Ngày mười lăm (02.01.1874), chiếc tàu thuỷ D’Estrées lên đến Hà Nội. Nguyễn Văn Tường và Philastre bàn định việc trao trả và tiếp nhận lại hai tỉnh Nam Định và Ninh B́nh (137). Philastre tất nhiên cũng đồng thuận.

      Ngày mười tám (05.01.1874), Nguyễn Văn Tường, khâm sai đại thần, đại diện cho triều đ́nh Đại Nam, và Philastre, thống sát, đại diện cho phủ suư Pháp tại Nam Ḱ, cùng kí kết một thoả ước (138), gồm hai khoản:

      Khoản I: “Pháp phải giao trả cho triều đ́nh Huế tỉnh thành Ninh B́nh vào ngày 08.01.1874 và tỉnh thành Nam Định vào ngày 10.01.1874”.

      Khoản II: “Triều đ́nh Huế: không được đưa thêm quân vào các tỉnh thành đó, ngoài một số quân cần thiết, đủ để giữ ǵn trật tự; không được tập trung quân trong phạm vi toàn tỉnh; phải để cho số quân Pháp hiện có lúc đó ở Bắc Ḱ được đi lại tự do trên các tuyến đường thuỷ cũng như đường bộ; phải ra ngay bản tuyên bố ân xá tất cả những người vừa qua đă cộng tác với Pháp” (138).

      Trần Đ́nh Túc được bàn uỷ quyền lănh tổng đốc Định – An, Nguyễn Trọng Hợp quyền biện tỉnh vụ Ninh B́nh (lẽ ra là Trương Gia Hội). Phó sứ Đại Nam và thống sát Pháp vẫn ở lại Hà Nội để xử lí những việc c̣n lại (137).

      Thấy bước đầu rất cơ bản nhưng đă tạm ổn, phó sứ Nguyễn Văn Tường viết tập tâu đệ tŕnh vào kinh đô Huế. Vua Tự Đức “khen là châm chước thời cơ làm việc khéo” (139). Nhà vua lại bàn tính việc chính thức bổ nhiệm quan lại bốn tỉnh. Đồng thời vua Tự Đức trao trọn chức phỏng định thương ước toàn quyền đại thần cho Nguyễn Văn Tường. Có điều, theo yêu cầu của Dupré đề đạt ra Huế, việc định ước sẽ bàn sau tại Gia Định. Ngoài ra, Nguyễn Trọng Hợp lại chuyển làm quyền chưởng ấn tổng đốc Hà [Nội] – [Bắc] Ninh. Ông ta sẽ cùng Nguyễn Văn Tường hội đồng làm những việc ǵ liên quan đến sự vụ ngoại giao. Nguyễn Chính (Chánh) cũng được lệnh rời Thanh Hoá, mang quân về Ninh B́nh, Hà Nội để phủ dụ, trấn áp phản ứng cuồng xuẩn của một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” Bắc Ḱ phản quốc, tay sai (139)…

      Bọn sĩ quan Pháp, binh lính Pháp thuộc quyền của Françis Garnier cứ một mực bảo nhau và thậm chí chúng biểu lộ trước mặt Philastre, rằng Philastre nhận của hối lộ của triều đ́nh Huế (140). Trong việc tranh biện, bàn định trao trả Hà Nội và các tỉnh Bắc Ḱ, không ít những lời lẽ, cử chỉ chống trao trả xảy ra. Phải mất đến ba ngày trời mới ổn thoả (140).

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường và thống sát Philastre liền triệu tập một vạn hai (12.000) tên lính mộ (“lính bản xứ” do Françis Garnier tuyển). Để mở lượng hiếu sinh và khoan hồng, Nguyễn Văn Tường đồng ư cấp phát tiền lương cho chúng, rồi kiểm soát, tịch thu khí giới. Sau đó, cho chúng giải tán về nhà (140).

      Việc chia quân đi trấn giữ và tái lập trật tự ở Ninh B́nh, Nam Định và Hà Nội do Hồ Uy và Nguyễn Chính đảm trách (141). Nguyễn Trọng Hợp lại đi nhận thành Ninh B́nh, do đó, Trương Gia Hội phụ trách nhận thành Hà Nội (141).

      Bấy giờ, Jean Dupuis chưng hửng trước quyết định trao trả Hà Nội và các tỉnh Bắc Ḱ! Philastre làm như vậy là hầu như xoá sạch hai năm trời gây rối của y, kể cả việc y phối hợp quân với Françis Garnier để đánh chiếm. Jean Dupuis t́m cách gặp Philastre. Sau mấy hôm, Philastre mới cho y được hỏi chuyện và tŕnh bày ư kiến.

      - Thưa ông Philastre, tôi muốn hỏi v́ sao tàu chiến Pháp lại đốt phá hai mươi tám thuyền chở gạo Bắc Ḱ sang Hương Cảng (Hồng Kông) ở Cửa Cấm? Số gạo đó đâu chỉ của Hoa kiều, mà c̣n có vốn hùn hạp của tôi (142).

      - Điều đó tôi không được rơ. – Philastre phớt tỉnh –. Nhiệm vụ của tôi là trao trả lại Bắc Ḱ để định “hoà” ước và thương ước!

      - Nhưng phải bồi thường cho tôi chứ! – Jean Dupuis muốn gầm lên –.

      - Tôi đă bảo là không rơ!

      - Ông phải thương nghị và cho quân bảo vệ tàu thuyền tôi lên Vân Nam!

      - Tôi đă bảo là không rơ!

      - Thế th́, ông có phải là kẻ đă bán đứng nước Pháp tại xứ Viễn Đông này không? Ông phải hiểu rằng chiếm cứ Bắc Ḱ là cả một quá tŕnh gian khó hàng chục năm trời của người Pháp, của các cố đạo như Puginier, của các thương nhân như Jean Dupuis này và của các quân nhân như Doudart de Lagrée, Françis Garnier, Balny… Đâu phải khi không có bọn giặc Cờ và bọn thổ phỉ… làm cho Đại Nam suy yếu… – Càng nói, Jean Dupuis càng tiếc bao công sức, nên giọng trở nên lắp bắp –. Ông phải bồi thường, thậm chí phải trả giá!

      Philastre thấy cần phải cho Jean Dupuis biết mặt. Y hét lệnh, bảo quân lính Pháp bắt trói Jean Dupuis theo lệnh thiết quân luật. Jean Dupuis đành xuống nước, đổi giọng kêu nài, tuy vẫn c̣n hung tợn.

      “Phi-lát [Philastre] nói”:

      - “Người bán than làm chủ cái tiệm than của ḿnh; các quan An-nam là chủ trong nhà của họ; họ không muốn anh đến ở nhà họ th́ anh lấy quyền ǵ mà anh cứ đến, cứ ở?” (143).

      “Đuy-puy [Dupuis] nóng tiết lên, hỏi lại”:

      - “Nếu tôi đến ở Bắc-kỳ trái với nguyện vọng của người An-nam th́ thử hỏi người Pháp tới ở Nam-kỳ có đúng với nguyện vọng của người An-nam không?” (140).

      “Lẽ tất nhiên Phi-lát cứng họng, liền đáp”:

      - “Chúng ta đến Nam-kỳ với tư cách của kẻ cướp, kẻ trộm. Anh và Gác-nhê [Garnier] cũng là kẻ cướp, kẻ trộm thôi. Nếu Gác-nhê không chết th́ hắn sẽ bị truy tố ở toà án quân sự” (143).

      “Đuy-puy đ̣i lấy của triều đ́nh trong các thành để bồi thường cho hắn, th́ Phi-lát trả lời rằng, đô đốc Đuy-pơ-rê [Dupré] không có dặn ǵ về khoản này cả; Đuy-pơ-rê lại bảo cho Đuy-puy xa lánh Bắc-kỳ đi, đi lên Vân-nam đi, đi mà không được đem theo pháo thuyền quân đội như dạo trước”.

      “C̣n giám mục Puy-gi-nhê [Puginier], từ khi Phi-lát đến với Nguyễn-văn-Tường th́ xuống nước hẳn đi, khóc lóc. Ông thổi phồng thêm những chuyện có thật, là các quan và các nhà nho bắt giết người công giáo đă theo Pháp đánh lại đất nước Nam. Ông kể lể cho Ba-lê-zô [Balézeaux] rằng nhiều làng công giáo đă theo Pháp nay bị đốt; th́ Ba-lê-zô đáp”:

      - “Các quan An-nam cố sức ngăn cản sự trả thù được chừng nào hay chừng ấy, việc xảy ra nào phải lỗi tự họ đâu; người công giáo phải trả cái ǵ họ đă vay trong lúc Pháp chiếm đóng, đó là lẽ tự nhiên” (143).

      “Puy-gi-nhê than”:

       - “Bây giờ các ông lại đổ lỗi cho chúng tôi”. “Tôi đă mất hết uy tín đối với tín đồ công giáo rồi” (143).

      Ngày hai mươi lăm tháng mười một, Quư dậu (12.01.1874), quân Pháp rút khỏi thành Hà Nội về đóng tại Hải Pḥng. Quân và tàu thuyền Jean Dupuis cũng thế. Riêng Rheinart, tham biện Pháp, được đóng ở phố B́nh Chuẩn, ngoài thành Hà Nội, với bốn mươi (40) tên lính, với lí do để sẽ trông coi việc thương mại (144). Nhưng phải hơn một tháng bốn ngày sau, Hà Nội mới thật sự được trao trả (16.02.1874), theo thoả ước thứ hai (145) được kí kết, vào ngày 06.02.1874, giữa Nguyễn Văn Tường và Philastre:

      Khoản I: “Quân Pháp chỉ rút khỏi thành Hà Nội và giao trả thành Hà Nội cho triều đ́nh [Đại Nam] muộn nhất là mười (10) ngày sau khi triều đ́nh đă bố trí được chỗ cho quân Pháp đóng ở Sở Hải pḥng (tỉnh Hải Dương)”.

      Khoản II: “Triều đ́nh Huế phải dành cho Pháp một dải đất trên bờ sông Hồng, Hà Nội, để lập Toà Công sứ và doanh trại cho binh lính; nơi đó phải ở gần nơi mà sau này, khi thương ước đă thành, thương nhân Pháp có thể đến đấy lập nghiệp”.

      Khoản III: “Giăng Đuy-puy (Jean Dupuis) và những thương nhân Pháp, Trung Hoa cùng đi với Đuy-puy, cũng sẽ phải rời khỏi Hà Nội, đến tập trung ở Hải Pḥng và được phép ở lại Hải Pḥng cho đến khi có lệnh thông thương”.

      Khoản IV: “Riêng đối với Đuy-puy, nếu Đuy-puy muốn ngược sông Hồng lên Hưng Hoá để sang Vân Nam, th́ phải đề đạt ư kiến với đại diện của Pháp để đại diện Pháp thông báo cho triều đ́nh Huế; và triều đ́nh Huế không được từ chối. Nhưng, trong trường hợp này, Đuy-puy không được tự tiện trở lại Bắc Ḱ trước khi sông Hồng được khai thương. Nếu Đuy-puy tự tiện đóng ở những nơi khác, phía Pháp sẽ phải chịu trách nhiệm giải quyết; trường hợp bất đắc dĩ, triều đ́nh [Đại Nam] sẽ điều quân đến đuổi đi” (145).

      Về Jean Dupuis, thế rồi, cuối cùng y cũng bị “khánh kiệt, bị các nhà đương cuộc Pháp bỏ rơi”, mặc dù y tức tối “vào Sài G̣n kêu với suư phủ [Pháp] và đ̣i tiền phí tổn non một triệu nguyên” (145)! Thật là một cái bung xung bi hài!

      Như vậy là đă hoàn tất việc trao trả và nhận lại bốn tỉnh Bắc Ḱ, kể cả kho tàng, vật hạng. Về các thứ tiền bạc, Philastre soạn giao cho Trương Gia Hội nhận cất (146).

      Nhưng trong các làng thôn, phường phố, t́nh trạng lương – giáo lại bùng lên khốc liệt (147)! Mối bất hoà, căm ghét, ḱnh chống nhau giữa lương và giáo đă âm ỉ – nổ bùng – âm ỉ – nổ bùng từ nhiều năm nay. Đến nay, từ vụ biến gây rối của Jean Dupuis, Françis Garnier, trung châu Bắc Ḱ nước ta bị thất thủ tỉnh thành, đến việc hai bên trao trả, giao nhận này, mâu thuẫn ấy cơ hồ bộc lộ ra một cách trần trụi, rơ ràng và dữ dội hơn bao giờ hết. Bản chất tay sai của một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” phản quốc bộc lộ không hề giấu giếm và nay không thể chối căi. Nhưng đâu chỉ bọn lính mạt hạng ấy! Bọn cố đạo “tả đạo”, cùng những tên cỡ như ngụy tổng đốc Trương mới đáng kể! Giám mục Puginier luôn luôn khôn khéo tránh né bộc lộ bản chất thực dân, tỏ ra không dính líu đến thứ chính trị xâm lược, nhưng tận thâm tâm vẫn nuôi dưỡng các ư nghĩ ghê sợ và vẫn ngầm hoạt động theo ư nghĩ ghê sợ ấy. Những ư nghĩ ghê sợ vốn có ở Puginier trước đó, bấy giờ, nhưng về sau mới rơ ràng trên giấy trắng mực đen:

      “Nếu không có thừa sai và giáo dân, th́ người Pháp khác nào như những con cua đă bị bẻ hết càng. Ví dụ như vậy tuy mộc mạc song không kém phần chính xác và mạnh mẽ. Thực thế, nếu không có thừa sai và giáo dân, người Pháp sẽ chỉ có địch thủ bao vây; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức sai nhầm đưa tới với ác ư, làm bại hoại t́nh thế của họ: như vậy họ sẽ bị đẩy vào cái thế không hoạt động được ǵ rồi nhanh chóng phải hứng chịu những thảm họa thực sự. Họ sẽ không giữ nổi vị trí nơi đây, và sẽ bị buộc phải rời bỏ xứ này, nơi quyền lợi cùng cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại” (148)…

      Ngay những ngày cuối năm Quư dậu (đầu năm 1874), tại Hà Nội, Philastre đă trao cho Nguyễn Văn Tường và các quan ta xem một bức thư của J. Harmand, tên thiếu tá (quan tư), y sĩ, kiêm tỉnh trưởng (tuần vũ) tạm thời của Nam Định gửi Françis Garnier vào ngày 15.01.1874:

      “Tôi tiếp tục gặp những người đến viếng liên tục: Người ta sắp hàng hẳn trước cửa  nhà tôi, từ bảy giờ sáng đến tối, và tôi buộc ḷng phải tiếp tất cả, luôn trong giờ ăn. Đó là những kẻ, đă gom được một số người, yêu cầu được cấp khí giới, đề nghị được làm sĩ quan, thư lại hoặc là yêu cầu được bổ nhiệm tri huyện hoặc chức lớn hơn. Tất cả hoặc hầu hết là giáo dân [Nam Định] và một số lớn từ Ninh B́nh tới, được các linh mục giới thiệu. Trong tất cả các trường hợp ấy, các giáo dân tỏ ra tham lam vô sỉ, vừa vụng về vừa ích kỉ. Tôi luôn t́m cách tiết chế ḷng hăng hái này v́ lợi ích của họ. Tôi muốn bổ nhiệm, nếu được, nhiều người ngoại đạo hơn giáo dân, theo tỉ lệ dân ngoại đạo và giáo dân, trước là để không gây nên một sự bất b́nh tự nhiên trong nước, sau là bởi v́ giáo dân, hầu hết xuất thân hèn hạ, đă không được chính phủ An Nam dùng, không quen việc, hoàn toàn mới lạ với công việc hành chính. Lại nữa, rất ít người trong số họ là trí thức”. […] “Chắc chắn rằng giáo dân (…) đă xem sự có mặt của chúng ta như ngày của sự phục thù” (149).

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường nghĩ ngợi trước hiện thực Bắc Ḱ với những sự thật rất đỗi đau ḷng. Ông viết tập tâu đệ tŕnh vào Huế:

      “Việc lương – đạo thù nhau, thần đă từng lấy làm lo. Đă cho đạo binh kinh lược [của Nguyễn Chính (Chánh)] đi nhanh để trấn áp và [thông] tư cho các tỉnh bắt giữ, phủ dụ, khiến cho cùng yên… Thần trộm xét sự thế Bắc Ḱ dần dần sẽ xong, chỉ có việc lương – đạo không yên làm cho các việc nhân đó mà đổi khác” (châu bản, tấu, 05.12 Quư dậu, đầu năm 1874) (150).

      “Nay mai việc lương – đạo ở các tỉnh khá yên, chỉ c̣n lại vài tên côn đồ th́ đă có đạo binh của quan kinh lược [Nguyễn Chính] tuỳ cơ tiễu trừ, phủ dụ, ít lâu sẽ xong. Duy thần trộm nghĩ, muốn việc về sau tốt đẹp th́ nên xem chuyện lương – đạo là rất quan trọng. Kẻ gánh vác phải có nhiều cách thể hiểu dụ, dạy bảo khiến cho người ta trông cậy ở ḿnh mà không sợ hăi, tin ḿnh mà không nghi, mới có thể cùng quay về điều tốt đẹp” (châu bản, tấu, 05.12 Quư dậu, đầu năm1874) (150).

      Philastre lại viết bút đàm trao đổi công vụ với Nguyễn Văn Tường, cũng về sự thế lương – giáo hận thù nhau ấy, vào ngày 20.01.1874:

      “Khi các tổng đốc Ninh B́nh và Nam Định viết thư vắn tắt cho chúng tôi biết rằng các tỉnh của họ đều yên tĩnh, tôi biết đích thực rằng nhiều làng giáo dân ở đây hàng ngày bị thiêu huỷ và phá hoại” (151).

      “Các tổng đốc ấy, thật ra, có gởi lời hoặc văn thư quở trách nhẹ nhàng hành động của nhân sĩ (…). Lời răn đe của họ không được nghe v́ không có sự trừng trị sau đó” (151).

      Trong khi đó, triều đ́nh hạ sắc chỉ cho các quan nguyên trước làm việc ở bốn tỉnh, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Ninh B́nh, văn từ án sát, vơ từ lănh binh trở lên, người nào đă chạy thoát về Thanh Hoá, đều tha cho khỏi bị bắt trói, c̣n những ai tuỳ tiện trốn tránh nơi vùng giặc chiếm, đều bị trói đem về kinh giam chặt, đợi nghị xử (152). Cấp dưới của các tỉnh ấy, do quan tỉnh mới tiếp nhận, xét nghị (152). Về sau, đến tháng sáu Giáp tuất (1874), các quan đứng đầu bốn tỉnh bị thất thủ đều bị xử từ mức án tử h́nh tức khắc (trảm, giảo), hoặc chém nhưng được giam để được xét lại (trảm giam hậu), cho làm việc chuộc tội (153)…

      Giữa những ngày tháng Hà Nội bị giặc chiếm ấy, phủ Thuận Thành, huyện Gia Lâm (thuộc tỉnh Bắc Ninh) cũng bị Pháp chiếm, giao cho bọn ngụy canh giữ. “Khi ấy dân gian có nhiều kẻ đến lĩnh văn bằng của quan Pháp, ngầm về triệu tập bè lũ quấy nhiễu” (154). Tán tương Trương Quang Đản kéo quân đến đánh úp, chiếm lại thành, hạ sát năm mươi (50) tên ngụy. Bọn Pháp lại đem quân theo ngụy đến tái chiếm. Cuộc đánh chận do quân ta chủ động diễn ra. Ba trận giao chiến sau đó quân ta đều thắng. Pháp bị tử thương bốn (04) tên, ngụy bị hạ sát đến một trăm rưỡi (150) tên. Tướng ngụy tên Thao chạy trốn sang huyện Kim Anh, bị bắt sống. Đấy là chiến công rất đáng kể của Trương Quang Đản, Nguyễn Giao, và Ngô Văn Tán (liệt sĩ), cùng quân binh thuộc quyền chỉ huy của họ (154).

      Ngoài ra, có những cuộc chiến đấu tự vệ, chống ngoại xâm theo truyền thống ngh́n đời của chính nhân dân các tỉnh Bắc Ḱ. Ở Ninh B́nh, “máu chảy xuống tới mé sông” (155). Phủ Nam Sách thuộc Hải Dương trở thành nơi tập kết nghĩa sĩ. Nguyễn Mậu Kiên, Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Bản cũng dựng cờ nghĩa chống giặc tại Nam Định (155). Nhưng sự thật lịch sử ở Bắc Ḱ chưa bừng sáng những tầm vóc như Trương Định, Nguyễn Trung Trực với những chiến công lẫy lừng như Nhật Tảo… Cũng chưa thấy tiếng thơ nào hào hùng hoặc bi tráng như Đồ Chiểu…

      Thế rồi, thượng tuần tháng chạp Quư dậu (đầu năm 1874), Lê Tuấn và Nguyễn Tăng Doăn đệ gửi tập bản sớ ra Huế, tŕnh bày: Dupré sắp về nước, y cũng đă cử Rheinart ra thay Philastre, mong triều đ́nh chuẩn cho sứ thần Nguyễn Văn Tường sớm về Gia Định với Philastre để cùng sứ bộ định “hoà” ước (156). Vua Tự Đức sai Cơ mật viện mật tư cho Nguyễn Văn Tường:

      “Thành Hà Nội mới lấy lại được, việc xử trí c̣n nhiều điều khoản, [ngươi] ở đấy là có trách nhiệm chưa làm xong. Nếu phái viên mới [Rheinart] đă đến, khoản nào đă xong, khoản nào c̣n phải bàn sau, hết thảy phải bàn với Hoắc Đạo Sinh [Philastre] cho ổn thoả, để khỏi sinh trở ngại khác. Tất cả việc làm ở bốn tỉnh ấy, quyền phép về ta làm hết, nước [Pháp] ấy không dự ǵ nữa. Về việc [số] quân [Pháp] được ở lại và người mới đến thay [:Rheinart], nên làm thế nào [th́] cùng xử cho tương đắc, phải cùng viên kinh lược và tổng đốc mới bàn nhau trù tính cho được thoả đáng, phải [thông] tư cho quan tỉnh ấy tuân theo chỉ chuẩn mọi lần [mà] làm cho khéo, rồi sau [ngươi] mới về được. Khi nào [ngươi] cùng đi tàu với Đạo sinh [Philastre] cùng về, cũng nói khéo cho viên ấy tạm ở lại Đà Nẵng, đi đường trạm về kinh, trả lại mệnh lệnh, xin lời [vua] dạy bảo, để tiện đến trong Nam cho kịp việc” (156).

      Vua Tự Đức “lại nghĩ bốn tỉnh mới lấy lại được, t́nh của dân lương, dân đạo c̣n là khó xử, và việc giặc [Pháp] đặt dân gian [làm chức sắc] cũng thế, [nên nhà vua] lại mật dụ sai [Nguyễn] Văn Tường phải khéo xử, cốt được chóng yên: “Nếu các tỉnh quả đă hơi yên, quan quân [ta] ở, Tàu, Tây [rút] ra hết, hoặc [chúng c̣n] ở lại [số] ít, [th́] nghĩ bàn xong, mới được về kinh trả lại mệnh lệnh. C̣n quan [ngụy] của giặc [Pháp], phải bảo nước [Pháp] ấy băi [bỏ] hết mới hợp lẽ. Nếu không được th́ chỉ tạm để lại một vài chức nhỏ, c̣n [lại] th́ sẽ bỏ. Làm việc nước chỉ nêu rơ người lành, ghét bỏ kẻ ác, dựng nên thói tốt, tiếng tốt, người có tiết nghĩa phải ghi, kẻ bội nghịch phải giết. Phải theo thứ tự làm cho thoả đáng, cho hết kẻ phản trắc”” (157).

      Việc đă gần hoàn tất, khâm sai Nguyễn Văn Tường viết tập tâu đệ gửi vào kinh đô Huế, hẹn vào khoảng cuối tháng (từ hai mươi sáu đến hai mươi bảy tháng chạp Quư dậu) là ngày về. Nhưng t́nh h́nh lương – đạo ở Bắc Ḱ vẫn chưa yên, Nguyễn Văn Tường c̣n phiền bận xử trí. Gần đây, ông lại ngă bệnh, trong cái rét buốt cuối năm xứ Bắc, nên công việc đành phải chậm lại (158). Trong lúc đó, Dupré sắp hết ḱ hạn ở Nam Ḱ, phải về nước, nên y luôn gửi thư hối thúc triều đ́nh định ước cho xong. Tại Gia Định, Lê Tuấn từ lâu đă khá hồi phục, cùng với Nguyễn Tăng Doăn bàn định các điều khoản “hoà” ước mới, gần như đă hoàn chỉnh. Vua Tự Đức vẫn ra dụ bảo Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doăn:

      “Lũ ngươi vâng mệnh ra chốn biên giới [:Nam Ḱ], tất cả việc hai nước giao thiệp, có thể được yên lợi. [Trẫm ] đều chuẩn cho tự ư làm việc. Gần đây lại mới cho sắc ấn toàn quyền. [Trẫm] giao phó, uỷ thác, long trọng biết là chừng nào! Điều ước mới ở trong Nam, các ngươi đă nói trước với tướng Pháp, hoặc [kí kết] ở Gia Định, hoặc đi sang Tây [:Pháp], tưởng nên khéo làm cho xong việc.

      Nhưng nay bốn tỉnh, Hà Nội, Ninh B́nh, Nam Định, Hải Dương, vừa mới lấy lại, phải sửa sang nhiều việc. [Trẫm] hiện chuẩn cho phó sứ Nguyễn Văn Tường cùng với thống sát nước ấy là Hoắc Đạo Sinh [Philastre] đem ngay các việc phải làm, xét từng khoản, bàn giao cho phái viên mới là Lê Na [:Rheinart] [để] cùng với bọn kinh lược sứ Nguyễn Chính, tổng đốc Hà Nội Trần Đ́nh Túc làm cho ổn thoả. Bất nhật thống sát nước [Pháp] ấy cùng với Nguyễn Văn Tường trở về Gia Định, tức th́ cùng lũ các ngươi bàn nghị cho thoả đáng. Các ngươi nên đợi ít lâu, Nguyễn Văn Tường đến nơi, cùng nhau bàn bạc, châm chước, làm thành điều ước, tiện kịp đóng ấn. Vả lại lần này lời ước [làm] đến lần thứ hai, [th́] nên làm thế nào cho hoà hảo măi măi, mà tự ta có thể [được Pháp] đền bù được thiệt hại [bởi] việc gần đây. Các ngươi phải xem cơ tuỳ thế, thận trọng ngh́n muôn phần. Nếu phải cùng lập thành điều ước ngay, [th́] nên đem hết ư trí, để trọng lời hẹn thề. Hoặc phải sang Tây mới cùng nhau định ước, th́ gặp gỡ cơ hội, chuyển bát bớt thêm, lại nhiều dịp tốt.

      Nói tóm lại là điều ước [trẫm] đă chuẩn cho làm, c̣n có ngăn trở tŕ hoăn ǵ mà làm xong hay không xong, đi [Pháp] hay không đi, [là] do tướng [Dupré] nước [Pháp] ấy cùng các ngươi xét rơ lợi hại thế nào mà thôi. Các ngươi nên nghĩ làm hay thôi, so với làm trước, làm sau, đằng nào hơn, mới là chu đáo.

      C̣n như khoản đặt khâm sứ ở quốc đô [hai nước], chiểu theo phép công đă chép, đầu mối c̣n nhiều, chưa biết thế nào cho phải. Các ngươi phải nên bàn với tướng [Dupré] ấy. Ở trong điều ước có nói rơ: có nên đặt; chỉ đợi cửa biển ở Bắc Ḱ đặt lănh sự trước, sau [đó] một, hai năm đi lại, t́nh ư [hai nước] thoả hợp, [th́] khi ấy sẽ đặt lănh sự hoặc khâm sứ ở kinh sư [:kinh đô]. Tuỳ tiện nghĩ làm” (159).

      Ngày ba mươi Tết, tất niên năm Quư dậu, rơi đúng vào ngày 16.02.1874, chấm dứt một năm nhiều biến động, cũng đă đến. Đó là ngày thực dân Pháp trao trả thành Hà Nội. Lúc này Nguyễn Văn Tường vẫn c̣n ở Hà Nội, và ông đang gắng gượng ra sức làm cho xong việc, trong cơn ngă ốm vào cuối mùa đông rét mướt. Chính trong những khoảng khắc im vắng nhất, trên giường bệnh, ông thấy hiện rơ lên một Bắc Ḱ tan hoang trong cơn xoáy lốc của những mâu thuẫn:

§         Việt – Pháp

§         Lương – giáo

§         Việt – Hoa

§         Nam – Bắc (Đàng Trong – Đàng Ngoài).

      Ngày tháng vùn vụt nhưng cũng rất đỗi lê thê trôi qua, với những con người, vụ việc, cảnh huống luôn luôn chen lẫn, đan chéo vào nhau, không lớp lang, không thứ tự, như cuộc đời vốn thế. Bỗng dưng, sau một quăng cách để hồi tưởng, phản tỉnh, những ngày tháng ấy trong biến động lớn lao, đau xót của Bắc Ḱ và của cả nước, lại sáng lên bốn mâu thuẫn gay gắt đó.

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường c̣n nhận rơ một mâu thuẫn lớn khác của giai đoạn ông đang sống và hành xử. Mâu thuẫn lớn ấy, dẫu sao, vẫn không ngoài quy luật âm – dương của vạn vật và vũ trụ, vốn tương khắc, tương tác, tương sinh.

§         Á – Âu!

      Đó là mâu thuẫn thứ năm. Năm (05) biểu hiện của quy luật âm – dương!

      Nhưng thực tế là máu lửa của tham vọng thực dân, nhằm cưỡng bức, sỉ nhục, nô dịch! Phó sứ Nguyễn Văn Tường thấu hiểu, ông đang đứng trong trận lốc xoáy máu lửa ấy. Và ông thấy rơ, trước đây, chỉ là chiến tranh trong phạm vi giới hạn ở từng khu vực, châu Á Tế Á (Asie), châu Âu Ba La (Europe), châu  A Phi Lị Gia (Afrique)… với cách thức của riêng của từng châu lục. Khi vó ngựa đế quốc Mông Cổ giẫm nát châu Âu, chiến tranh cũng chỉ là bạo lực – bạo lực bóc lột – chống bóc lột một cách đơn giản.

     Ngẫm lại suốt lịch sử bốn ngh́n năm của dân tộc, ông chưa từng thấy cuộc chiến tranh nào như như cuộc chiến tranh này. Bây giờ, chiến tranh lại biểu hiện trên khắp mọi lĩnh vực: chiến tranh vệ quốc chống xâm lược bằng súng gươm, và cả bằng văn hoá dân tộc trong việc chống lại “tả đạo” (một công cụ tuyên truyền xâm lược); chiến tranh bằng chính trị, ngoại giao, c̣n chiến tranh ngay cả trong thương mại…

 

      10

      Hà Nội và các tỉnh Bắc Ḱ cũng như cả nước vừa trải qua một cái Tết Nguyên đán buồn hận với cả một nỗi đau khó lành lặn. Những âm hưởng của cuộc thất thủ trên vùng đất ngh́n năm văn hiến và là nơi sinh tụ đầu tiên của phần lớn dân tộc vẫn chưa dứt. Trên dải đất bắc hữu ḱ, nhất là ở Nghệ – Tĩnh, địa phận cổ xưa với tên gọi là châu Hoan, châu Diễn của Tổ quốc, vẫn như càng sục sôi căm uất.

      “Khi trước xảy ra việc biến loạn về An Nghiệp [Françis Garnier], các hạt Hưng Yên, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, đường sông nghẽn, thuyền buôn ít, thuế quan tấn đ́nh băi. Đến nay điều ước thông thương tạm thành…” (160) nhưng thật sự nhịp sống Bắc Ḱ chưa thể trở lại b́nh thường, nếu không muốn nói là c̣n rất căng thẳng!

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường đang mệt nhoài trong cơn bệnh cảm sốt, ngỡ đă biến thành thương hàn nhập lí. Nhưng không thể thoái thác được, ông phải gắng sức tự điều trị với sự bắt mạch, bốc thuốc, chăm sóc của các lương y. Bệnh chưa thuyên giảm, ông cũng cố giải quyết nốt những việc c̣n lại trên đất Bắc: thực trạng lương – giáo phục thù; việc thanh lọc, trục xuất bọn tay sai do các cố đạo và Françis Garnier đưa lên giữ các chức sắc, cỡ như ngụy tổng đốc thợ rèn “tả đạo” tên Trương, hoặc bọn Hán gian cơ hội, bất nghĩa; công tác chấn chỉnh lại guồng máy điều hành từ tổng đốc đến cai tổng…

      Nhưng không thể chậm trễ hơn, sau lời dụ cuối năm của vua Tự Đức, nên phó sứ Nguyễn Văn Tường đă cùng Philastre xuống tàu thuỷ vào kinh đô Huế. Ông cũng yên tâm khi biết vào những ngày sắp tới, vua sẽ chuẩn cho bố chính sứ Bắc Ninh Phạm Thận Duật thăng thự tuần vũ Hà Nội để giúp Trần Đ́nh Túc, bởi tổng đốc Hà – Ninh  Trần Đ́nh Túc, theo vua Tự Đức nhận định, mặc dù giỏi việc nhưng đă già yếu (161).

      Chiếc tàu rẽ sóng trong mưa bụi và gió rét. Càng vào phía nam, càng đỡ rét buốt và đỡ âm u. Nắng đă lấp loáng sáng trên mặt biển biếc.

      Đến Đà Nẵng, theo quy định của triều đ́nh, tàu mới được cập bến. Cảng Sơn Trà đă rực rỡ nắng ấm mùa xuân, khiến phó sứ Nguyễn Văn Tường tươi tỉnh lên chút ít.

      Hai phái đoàn Việt – Pháp lại đi đường bộ ra lại Huế, bằng kiệu và xe ngựa.

      Đến kinh đô Huế, vào một ngày đầu trung tuần, nhà nhà vừa hạ nêu xong, phó sứ Nguyễn Văn Tường chỉ kịp ghé về nhà, lại ngă ra bệnh lại. Sau một ngày đêm thuốc thang, ông lai tỉnh, và lại cố ngồi dậy viết tập tâu dâng lên vua. Trong khi đó, Philastre và phái đoàn Pháp được Bộ Lễ sắp xếp trú lại tại Sứ quán (162).

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường rất cảm động khi vua Tự Đức cử người đến thăm hỏi. Ông cũng nhân đó đệ gửi tập tâu, với nội dung về t́nh h́nh và công việc ở Bắc Ḱ, trong đó có một ư về Philastre, rằng đó là một người Pháp rất biết điều và có ḷng tốt với nước ta (162).

      Vua Tự Đức cũng sai các quan Viện Cơ mật – Thương bạc, thường gọi là Viện – Bạc, như Trần Tiễn Thành, đến thăm hỏi Philastre và ban một đạo dụ khen ngợi ông ta. Tính của ông ta vốn thế, thích được những ǵ có thể lưu giữ làm bảo vật kỉ niệm. Nguyễn Văn Tường đă nhờ linh mục thông ngôn Nguyễn Hoằng thử ḍ hỏi sở thích của Philastre, và Philastre cũng thành thật muốn có một tấm lụa với nét chữ hoàng đế viết lên đó (162). Chính bức đạo dụ vừa biếu tặng Philastre đă khiến ông ta thấy không có ǵ quư báu hơn. Nhưng vua Tự Đức cũng c̣n ban cho Philastre những tặng vật được thực hiện bằng kĩ nghệ kim hoàn tinh xảo khác (162).

      Phó sứ Nguyễn Văn Tường chỉ kịp viết một bản tập tâu và đề xuất khen thưởng ngoại giao th́ lại ngă bệnh nặng. Không cách nào khác, ông dâng sớ xin vua Tự Đức chọn người khác thay ông làm phó sứ, để cùng Philastre vào Gia Định bàn định “hoà” ước và thương ước. Vua liền dụ bảo:

      “[Bản] ước mới với sứ [thần] nước Pháp chưa định, [đó là] điều trẫm rất lấy làm lo. Ngươi làm việc sứ thần, phải mưu tính về sau… Đặc cách ban cho sâm quế ngự dụng [:của vua dùng]…” (163).

      Vua Tự Đức c̣n xuống dụ sai thầy thuốc điều trị cho Nguyễn Văn Tường chóng khỏi, với sự ban cấp thuốc thang đầy đủ, kể cả thuốc bồi bổ: sâm Cao Ly hạng lớn, mười lăm (15) chỉ; quế Thanh Hoá hạng nhất, hạng nh́, hạng ba, mỗi thứ hai phiến (163)… Phó sứ Nguyễn Văn Tường hết sức xúc động, v́ ông thừa hiểu, việc hoàng đế ban dụ sai thầy thuốc chữa bệnh cho một viên quan chức là cả một ân sũng lớn, hiếm thấy.

      Nhờ vậy, sớm được hồi phục sức khoẻ, Nguyễn Văn Tường lại xuống tàu cùng Philastre vào Gia Định.

      Hôm hai phái đoàn lên đường, quan Viện – Bạc tiễn chân theo lệnh vua, với lời vua gửi theo, dặn ḍ Philastre cố giúp cho thành hiệp ước (164)!

      Lúc phó sứ Nguyễn Văn Tường lên đường vào Nam Ḱ rồi, vua Tự Đức lại băn khoăn về phía Bắc, liền ra sắc chỉ cho kinh lược sứ Nguyễn Chính (Chánh), bảo nên theo cách của Nguyễn Văn Tường, là khéo dùng thổ hào, thu thập thổ dơng và khi đă biết khéo thu dùng như thế, th́ không lo ǵ không kiềm toả, chế ngự được trộm cướp và  nhất là xung đột lương – giáo, hiện vẫn c̣n đang gay gắt, thậm chí rất gay gắt (165)…

      Vào tối ngày rằm tháng giêng năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (03.03.1874), chiếc tàu thuỷ chạy bằng hơi nước mang tên D’Estrées chở phó sứ Nguyễn Văn Tường, thống sát Philastre, linh mục thông ngôn Nguyễn Hoằng cùng nhiều viên tuỳ tùng khác đến Sài G̣n (166).

      Cũng trong những ngày trung tuần tháng giêng ấy (167), vua Tự Đức nhận được bản sớ của tổng đốc An – Tĩnh Tôn Thất Triệt về việc khẩn cấp: Trần Tấn, Đặng Như Mai ở Nghệ An từ lâu đă khởi xướng phong trào “B́nh Tây sát tả”, nay phong trào ấy, sau sự biến thất thủ Hà Nội và thất thủ các thành tỉnh khác, đă nổ bùng dữ dội!

      Vua Tự Đức liền xuống dụ:

      “Về việc dân lương – dân đạo, triều đ́nh nhiều lần dụ bảo thiết tha. Thế mà thân sĩ tỉnh Nghệ An riêng giữ [ư kiến], bàn ngang, không hiểu việc biến đổi ở đời, như bọn Tấn, Mai lấy tiếng là giết người theo đạo mà mê hoặc mọi người làm loạn. [Cho nên, quan quân] phải nên đánh giết ngay, chớ để lan thêm ra…

      … Triều đ́nh dẫu muốn khoan dung, cũng không thể được, tất đến tan cửa nhà, mất cơ nghiệp, sao bằng cùng ở yên, không sinh sự với nhau, đều thoả đời sống là bằng phẳng êm đẹp. Huống chi đều là đất của vua, đều là dân của vua, đạo giáo dù khác nhau [Nho – Thiên Chúa, lương – giáo] nhưng mạng người th́ giống nhau, sao nỡ tự tàn hại nhau, tự bóc lột của cải của nhau…” (167).

      Những ngày rằm đầu năm Giáp tuất (1874), tại Gia Định, trong khi “hoà” ước do chánh sứ Lê Tuấn, tham biện Nguyễn Tăng Doăn và Prioux khởi thảo (168), chỉ mới thành dạng bản, chưa kịp bàn định nốt để kí kết, phong trào “B́nh Tây sát tả” ở Nghệ – Tĩnh đă nối lửa từ Bắc Ḱ, bùng lên chưa từng thấy!

       Lương – giáo quả đă lao vào một phen quyết chiến máu đổ thịt rơi trên đất “Hoan, Diễn do tồn thập vạn quân”! Vâng, Nghệ An, Hà Tĩnh vẫn c̣n mười vạn quân sẵn sàng chiến đấu! Và cả Thanh Hoá phía cực bắc hữu ḱ, Quảng B́nh phía nam, vốn là hữu trực ḱ, cũng thật sự vào trận. Tuy nhiên, tiếc thay, đấy là cuộc chiến tranh giữa hai lực lượng nhân dân. Đấy là một cuộc nội chiến đẫm máu, lan rộng trên bốn tỉnh Bắc Miền Trung. Kẻ thù đích thực là thực dân Pháp và bọn cố đạo mang bản chất thực dân lại hầu như không một tổn thất bé nhỏ nào: không một tên nào bị thương hoặc chết!

 

Hết tệp 4 truyện kí thứ 7

 

 

Viết đến ḍng chữ cuối của truyện kí thứ 7 vào lúc 11 giờ kém 05,

ngày 09.11.2002

(05.10 Nh. ngọ, HB.2).

TRẦN XUÂN AN

 

 


 (128)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 355.

(129)   Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu (QTCBTY.), (Cao Xuân Dục chủ biên; ban biên soạn gồm: Trần Đ́nh Phong, hiệu chính, Đặng Văn Thụy, Lê Hoàn; ban biên tập gồm: Nguyễn Đức Lư, Nguyễn Tư Tái), bản dịch tiếng Việt của chính Quốc sử quán triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá, 1998, tr. 502 – 504; ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 355 – 356.

(130)   NTP., sđd., 1974, tr. 219.

(131)   NTP., sđd., 1974, tr. 219.

(132)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 356.

(133)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 356.

(134)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 356.

(135)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 357.

(136)   ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 169 – 170.

(137)   Bản dịch lược ư: Dương Kinh Quốc, VN.NSKLS, tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 159 – 160. Xem nguyên văn tiếng Pháp: NTP., sđd., 1974, tr. 277 – 280.

(138)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 357.

(139)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 357 – 358.

(140)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359.

(141)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359.

(142)   CXL., sđd., 2001, tr. 317.

(143)   Jean Dupuis, Les Evènements du Tonkin, dẫn theo CXL., sđd., 2001, tr. 317 – 318 (lời dẫn gián tiếp và trực tiếp của GS. Trần Văn Giàu, gồm cả các câu in theo kiểu chữ đứng, được đặt trong dấu ngoặc kép, ở đoạn này).

(144)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359.

(145)   Bản dịch lược ư: Dương Kinh Quốc, VN.NSKLS, tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 159 – 160. Xem nguyên văn tiếng Pháp: NTP., sđd., 1974, tr. 277 – 280. Về kết cuộc của Jean Dupuis, xem: NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 90; VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 517 – 518.

(146)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359.

(147)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 360.

(148)   L.E. Louvet, Vie de mgr. Puginier, dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 82.

(149)   AOM. Aix, Amiraux 11689 (32), dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. &TH., UB.KHXH.TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 237 – 238.

(150)   Dẫn theo: Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường, bài “Nguyễn Văn Tường qua châu bản triều Nguyễn” của Trần Viết Ngạc, kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996, tr. 216; bài dă dẫn, tạp chí Xưa & Nay, số 100, tháng 9.2001, tr, 14 – 16 xem tiếp tr. 32.

(151)   AOM. Aix, Amiraux 11689 (41), dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 238.

(152)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 361.

(153)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 63 – 68. Về sau, đến tháng mười năm Bính tí (1876), số quan thất thủ và đầu hàng này được giảm án, cho đi làm việc chuộc tội ở  các quân thứ biên giới Bắc Ḱ. Xem danh sách ở ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 340.

(154)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 361 – 362.

(155)   CXL., sđd., 2001, tr. 310 – 313.

(156)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 362 – 363.

(157)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 363.

(158)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 368.

(159)   ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 369 – 370.

(160)   ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 6.

(161)   ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 9.

(162)   ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 8.

(163)   ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 9.

(164)   ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 9.

(165)   ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 9 – 10.

(166)   ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 10; NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 485.

(167)   ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 10 – 11.

(168)   NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 482.

    

Soạn xong phần chú thích

lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002

(10.10 Nh. ngọ, HB.2).

TRẦN XUÂN AN

 

 

HẾT TỆP 4

(PHÂN ĐOẠN  4 TRUYỆN KÍ THỨ 7)

 

Xin xem tiếp TỆP 5

(Phân đoạn 5 truyện kí thứ 7)

 

 

xem tiếp tệp 5  ) 

 

Trở về trang chủ

Cập nhật: 05/01/07

 

______________________________________________________________________________________________________________

 

 

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/home

 

hidden hit counter

 

Google page creator /  host

 

GOOGLE BLOGGER, DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE  


 

    lên đầu trang (top page)   

 01-5 HB7 (2007) = 15-3 Đinh hợi HB7