Tran Xuan An - Phu chinh dai than Nguyen Van Tuong_Tep 13
author's copyright TRẦN XUÂN AN

                                                                                                                                                                                                                        

05/01/07

           

 

TẬP I

 

 

Tệp 1

 

Tệp 2

 

Tệp 3

 

Tệp 4

 

Tệp 5

 

Tệp 6

 

Tệp 7

 

Tệp 8

 

Tệp 9

 

Tệp 10

 

Tệp 11

 

Tệp 12

 

Tệp 13

 

Tệp 14

 

Tệp 15

 

Tệp 16

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                               

  

Kính dâng lên bàn thờ cao tổ phụ:

NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 – 1886)

 

Trần Xuân An,

nội hậu duệ thế hệ thứ năm.

 

 

Tặng hai con thương quư của ba:

 

TRẦN XUÂN BÀI THƠ

& TRẦN XUÂN NHÂN VĂN

 

TXA.

 

 

Xem:

Tạp chí điện tử Giao Điểm tháng 11-2005:          

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm

Blogger (Google) tháng 12-2005

http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/

   & các trang tiếp theo: … 2a … 2b … 2c …

 

 

 

TỆP 13

phân đoạn 3

truyện kí thứ sáu

 

 

TRẦN XUÂN AN

 

VỚI NGỌN BÚT, THANH GƯƠM,

RA BẮC TIỄU PHỈ

 

Truyện kí thứ sáu

(phân đoạn 3)

 

      7

      Theo đường bưu trạm của quân thứ, tán tương Nguyễn Văn Tường đă đệ gửi tập bản sớ Xếp đặt công việc ở Bắc Ḱ vào kinh hơn mấy tháng rồi. Đó là tập sớ ông tự thấy là hết sức quan trọng bởi rất đỗi tâm huyết. Sau khi gửi, ông không ngớt suy nghĩ về sáu tỉnh Nam Ḱ. Lo việc Bắc Ḱ, làm sao quên được Nam Ḱ với những Trương Định, Thiên hộ Dương, Nguyễn Trung Trực và nhà thơ Đồ Chiểu với những bài văn tế nghĩa sĩ đau ḷng xé ruột, hừng hực nỗi căm thù giặc Pháp và khinh ghét “tả đạo”! Ông thấm hiểu tận tim gan niềm bi tráng Cần Giuộc:

“… Ngoài cật có một manh áo vải,

           nào đợi mang bao tấu, bầu ng̣i;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông,

           chi nài sắm dao tu, nón gỗ.

Hoả mai đánh bằng rơm con cúi,

           cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay,

           cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống ḱ,

                                  trống giục,

           đạp rào lướt tới,

           coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to,

           xô cửa xông vào,

           liều ḿnh như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược,

           làm cho mă tà, ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau,

           trối kệ tàu thiếc, tàu đồng

                                       súng nổ…”

      “Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh” tố cáo với muôn đời tội ác của giặc Pháp:

“Kể mười mấy năm trời khốn khó,

           bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết,

           trẻ già nào xiết đếm tên;

           đem ba tấc hơi mỏn bỏ liều,

           hoặc sông, hoặc biển, hoặc núi,

                                       hoặc rừng,

           quen lạ đều rơi nước mắt…

Phạt cho đến người hèn kẻ khó,

           thâu của quay treo,

           tội chẳng tha con nít đàn bà,

           đốt nhà bắt vật…”

      Chính nhà thơ mù loà nhưng tâm nhăn sáng ngời ấy, nhà thơ có nguyên quán Thừa Thiên nhưng mang cốt cách và tâm hồn Nam Ḱ lục tỉnh ấy, cũng khẳng định cho trái tim ḿnh trước sự xâm lăng văn hoá:

                     “… Dù đui mà giữ đạo nhà

                     C̣n hơn có mắt ông cha không thờ…”

      Và những bài hịch khác không ghi lại tên người viết, hầu như đă trở thành tiếng nói của phân số lớn nhân dân Nam Ḱ lục tỉnh, một đa số nhân dân cực ḱ sáng suốt, sáng suốt trong căm hận, dũng cảm, đau đớn, tuyệt vọng:

“Bớ các quan ơi,

           chớ thấy chín trùng [:nhà vua]

                                              hoà nghị

           mà tấm ḷng địch khái

  [:căm giận giặc] nỡ phôi pha,

           chớ rằng ba tỉnh giao hoà

           mà cái việc cừu thù đành lơ lửng;

Bớ các làng ơi,

           chớ thấy đồn luỹ dưới G̣ Công

                                              thất thủ

           mà trở mặt hại nhau,

           chớ nghe trên Bến Nghé phân cư

           mà đành ḷng theo mọi [:Pháp]!

Hỡi ơi, oán nhường ấy, hận nhường ấy,

           cừu thù nhường ấy,

           làm sao trả đặng mới cam;

           công bấy lâu, nghiệp bấy lâu,

           lao khổ bấy lâu

           nay đành nỡ bỏ qua sao phải?…”.

      Bộ phận nhân dân ấy đă chua xót khinh bỉ những kẻ sĩ, những tên lưu manh cam tâm làm nô lệ:

“… Xin chớ phân b́ kẻ sĩ

           hoặc ra làm phủ, hoặc ra làm

                                                huyện;

           ấy là đồ hư, đồ bỏ, đồ thúi, đồ nhơ.

Chớ thác chước thằng dân

                            hoặc theo [đi] mướn, hoặc theo đi

    [lính] thuê;

           ấy những đứa dại, đứa hoang,

                         đứa cùng, đứa quái…”

      Về một Trương Định, một Phan Ṭng đă vượt qua nỗi trăn trở, khắc khoải trong mâu thuẫn giằng xé giữa “trung quân” với “ái quốc”, “trung thần” hay “nghịch thần”, bởi chân lí đă rất giản dị, “dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là quư, xă tắc thứ nh́, vua chỉ đáng xem nhẹ):

“… Giúp đời dốc trọn ơn nam tử

Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần…”

“ … Viên đạn nghịch thần treo trước mắt

Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay…”

      Nhân dân Nam Ḱ lục tỉnh đang chịu đựng nỗi đau khổ lớn đến thế, chất chứa nỗi căm thù giặc Pháp, “tả đạo” sâu nặng đến thế, và họ đă trực diện chống Pháp, chống “tả đạo”. Cho dẫu biết trước là sẽ thất bại, Nam Ḱ vẫn chống giặc, bởi không c̣n con đường nào khác! Mặc dù triều đ́nh trên giấy tờ phải đành gọi họ là “nghịch thần”, nhưng trong nội bộ vẫn khen ngợi họ là những người trung nghĩa. Nam Ḱ lục tỉnh thế đấy, nhưng Bắc Ḱ c̣n đầy rẫy những phỉ là phỉ, phỉ Tàu, phỉ Việt, cột chân quan quân triều đ́nh nơi biên giới xứ Bắc! Chẳng biết làm thế nào được!

      Tháng mười một năm Tự Đức thứ hai mươi mốt (1868), sau khi tuân dụ vua, đ́nh thần điều nghiên suốt mấy tháng, và tháng ấy đă nghị xử vụ thất thủ Nam Ḱ. Ngay cả Nguyễn Tri Phương chủ chiến, Nguyễn Bá Nghi chủ “hoà” đều bị giáng, phạt cùng một loạt quan chức. Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp dẫu đă chết vẫn bị truy đoạt lại chức hàm. Đồng thời, nhà vua quyết định cho đục bỏ tên Phan Thanh Giản ở bia tiến sĩ, để lưu măi măi cái án trảm giam hậu với mục đích “giết người đă chết để răn về sau”… Vua Tự Đức đă ăn năn là “không biết tính xa, dùng người sai lầm” (63)!

      Cũng vào tháng mười một, năm sau, năm Tự Đức thứ hai mươi hai (1869), một tên quan năm với chức vụ giám đốc theo lệnh tướng Pháp ở Gia Định đáp tàu thuỷ ra Huế. Lần này, sứ giả Pháp được bái yết vua Tự Đức để dâng quốc thư. Quốc thư lại vẫn nội dung cũ: Pháp muốn ta giao hẳn cho chúng ba tỉnh Miền tây Nam Ḱ (An Giang,Vĩnh Long, Hà Tiên) bằng cách lập “hoà” ước mới (64). Đó là điều Nguyễn Văn Tường kịch liệt phản đối bằng một bản sớ hồi tháng ba, năm năm Tự Đức thứ hai mươi mốt (1868). Bản sớ ấy của ông nhằm vạch trần âm mưu của thực dân Pháp trong việc lập “hoà” ước mới ấy! Lần này tiếp sứ giả Pháp, vua Tự Đức và đ́nh thần yêu câu Pháp trả lại cho ta tỉnh Biên Hoà và thôi khoản “bồi thường chiến phí”. Pháp vẫn một mực tham lam!

      Sau đó ba tháng, đầu năm Tự Đức thứ hai mươi ba (1870), Pháp một lần nữa nằng nặc đ̣i lập “hoà” ước mới. Tên tướng suư Ô Khởi (Ô Khỉ, Ohier) về nước rồi, tên tướng khác sang thay ở phủ suư Gia Định là De Cornulier Lucinière vẫn tiếp tục trao quốc thư với yêu cầu cũ và chúng vẫn giữ ḷng tham lam cũ! Nhà vua tham khảo ư kiến các tỉnh thần. Tổng đốc B́nh – Phú Thân Văn Nhiếp, tổng đốc An – Tĩnh Hoàng Tá Viêm đề nghị phải được các nước phương Tây, các nước châu Á Tế Á công chứng, sau khi ta đă bác bẻ Pháp một số điều khoản để giành lại quyền lợi ở mức độ nào đó, nếu phải kí kết “hoà” ước mới. Nhóm đ́nh thần Trần Tiễn Thành tâu lên vua: “Ta đang hết sức chịu khuất, mong để chống chế, [nhưng] chưa có [đủ] cốt cách. Nếu lấy lời tranh luận, chẳng những không ích [ǵ], lại sinh khó ra. Xin tạm hăy chờ nước ấy [và nước Y Pha Nho] đưa thư trả lời, mới hợp cơ hội […]. Huống chi các nước khác cũng một giuộc với nhau […]” (65). Vua Tự Đức chỉ c̣n biết khẳng định một câu: “Ta không phải găng mà lí nước ấy là trái” (65). Nhà vua vẫn muốn giữ vững quan điểm không nhân nhượng, nhưng với sự nhũn nhặn, như năm kia đă khẳng định với bang biện Thành Hoá Nguyễn Văn Tường, người được triệu vào kinh, sung bồi sứ của sứ bộ dự định sang Pháp, Anh và Y… Khi được tin về vụ nhà vua tham khảo ư kiến tỉnh thần này cùng những ư kiến phúc tâu của họ, tán tương Nguyễn Văn Tường thấy chính Thân Văn Nhiếp, người từng dâng sớ xin vua “nằm gai nếm mật”, cũng đă phải chịu khuất. Hoàng Tá Viêm cũng đành chịu khuất. Có điều hai viên quan ấy đề xuất một việc rất b́nh thường nhưng hoá ra vẫn khó: phải được các nước phương Tây, các nước châu Á công chứng, sau khi ta đă bác bẻ Pháp một số điều khoản để giành lại quyền lợi ở mức độ nào đó, nếu phải kí kết “hoà” ước mới (65)!

      Tháng ba năm ấy, sứ giả Y Pha Nho lại sang đệ tŕnh quốc thư đáp lễ, nhưng không chịu theo nghi thức triều yết của nước ta. Vua Tự Đức cũng đành phải nhân nhượng! Quốc thư của Y Pha Nho nhắc lại việc trước đây vua Tự Đức cho lời lẽ nước ấy không thực tế trong thương thảo hội ước thương măi. Rồi cũng chẳng đâu vào đâu! Tên sứ giả ấy bái biệt, tự tiện ra ngay Nam Định bàn bạc với cố đạo, dân theo đạo ở đấy. Triều đ́nh phải ra lệnh cho quân binh bố trí ngăn chặn, pḥng bị (66).

      Điều thấy rơ nhất là trong mấy năm qua, Pháp vẫn một mực giữ ḷng tham, không chịu nhân nhượng ta một mức độ nhỏ nào, nhưng chúng vẫn nhiều lần ngoan cố ép buộc triều đ́nh nước ta kí kết “hoà” ước mới với điều khoản nhượng đứt thêm cho chúng ba tỉnh Miền tây, để hợp thức hoá hoàn toàn chủ quyền cho chúng trên lục tỉnh Nam Ḱ, trong thực tế chúng đă cưỡng chiếm trọn vẹn từ năm Đinh măo (1867)!

      Một lần nữa, tán tương Nguyễn Văn Tường tự khẳng định, không chiến và thủ th́ không thể đàm phán được ǵ hết. ““Chân lí (!)” thuộc về kẻ mạnh”! Kẻ bạo ngược cướp nước nhưng giàu có th́ “nói quấy nói quá chúng nghe ầm ầm”, huống chi bọn thực dân vốn cá mè một lứa!

      Thế rồi, một tin hết sức chấn động lan truyền đi! Thời cơ cứu lấy Nam Ḱ đă đến?

      Bốn tháng sau khi viết tập bản sớ về việc xếp đặt Bắc Ḱ và gửi vào kinh đô, đệ tŕnh lên vua Tự Đức, một sự kiện gây chấn động ở nước Pháp lan truyền đi khá nhanh qua những người khách thương cập bến ở Gia Định, Huế, Hà Nội, và cũng chính suư phủ Pháp tại Nam Ḱ báo tin cho triều đ́nh nước ta biết: Vua Nă Phá Luân đệ tam (Napoléon III: Charles Louis Bonaparte) của Pháp đă bị quân Phổ Lỗ Sĩ (Prusse / Đức) bắt sống, sau non hai tháng nổ ra cuộc chiến tranh giữa Pháp với Phổ (19.7.1870 – 02.9.1970) (67). Napoléon III dẫu đă liên minh với nước Nga sa hoàng, vẫn phải chiến bại, kéo cờ trắng đầu hàng Phổ, phải cắt nhượng cho Phổ hai tỉnh Alsace va Lorraine, đồng thời phải “bồi thường chiến phí” đến năm tỉ phật-lăng (franÇ). Cũng như ở Nam Ḱ, sau khi nhà vua đă kí hàng ước với hai khoản cắt đất, bồi tiền, nhân dân vẫn chiến đấu. Ở Pháp, cuộc xâm lược của Phổ Lỗ Sĩ chỉ thật sự hoàn tất vào bốn tháng sau (18.01.1871), lúc cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống Phổ hoàn toàn bị dập tắt, cũng là lúc nước Phổ dưới quyền thủ tướng Bismark, làm lễ thành lập đế quốc Đức ngay tại thành phố Versailles của Pháp, nay đă bị Đức chiếm đóng (68).

      Theo đường ngựa trạm và nguồn tin từ khách thương, hầu như các quan, sĩ phu đều biết tin tức đó. Họ chờ một sắc dụ từ triều đ́nh ban ra để tấn công quân Pháp tại Nam Ḱ, giành lại sáu tỉnh non sông Tổ quốc. Ai cũng nghĩ rằng thời cơ đă đến. Thế nhưng, khi “vua cho là có thể thừa cơ được, bàn sai Viện Thương bạc viết thư bảo tướng [Pháp ở Gia Định] ấy giao trả sáu tỉnh, để về mà cứu lấy căn bản” (67), th́ đ́nh thần lại bàn, và cuối cùng nhà vua cũng chỉ muốn lấy lời nhân hậu để thuyết phục Pháp! Thư gửi đi, nhận thư phúc đáp, để rồi cuối cùng “đ́nh thần cho là nước ấy không muốn điều đ́nh. Ta đương có việc ở biên giới phía Bắc, việc ở nước Tây [:Pháp] chưa nên nhân tiện hành động! Vua [cũng] theo lời!” (67).

      Triều đ́nh nước ta, nhân dịp đáo lệ triều cống, ngay lập tức lập sứ bộ sang Trung Hoa. Tháng mười năm ấy (1870), tán tương Nguyễn Văn Tường và các quan quân thứ dẫn quân đi đánh dẹp bọn phỉ, mở đường cho sứ bộ Nguyễn Hữu Lập, Phạm Hy Lượng, Trần Văn Chuẩn (69). Trong dịp đó, Nguyễn Văn Tường và các quan quân thứ biết ư định nhà vua cùng triều đ́nh: biên soạn sẵn bản ghi nhớ những điểm cốt yếu như một dạng đề cương cho sứ bộ căn cứ vào đấy mà ứng đối với Thanh triều cũng như với sứ thần các nước Cao Ly, Nhật Bản, Lưu Cầu (Riu Kiu), đáo lệ họ cũng đang đến Yên Kinh. Ngoài việc sứ bộ có nhiệm vụ thuyết phục vua Thanh tăng cường phối hợp với ta để tiễu trừ bọn giặc Cờ ở biên giới hai nước, trên lănh thổ ta, tán tương Nguyễn Văn Tường c̣n hiểu rơ thái độ ứng phó của triều đ́nh, trước t́nh h́nh cách mạng và chiến tranh Pháp – Phổ, trong dự kiến ở đề cương, là rất cẩn trọng, ngại gây hiềm khích thêm với Pháp và các nước Phương Tây, ngay cả khi sứ bộ không thể không bàn luận đến vấn đề ấy với vua Thanh và với sứ thần các lân bang! Cẩn trọng đến mức sứ bộ được dặn ḍ, mỗi mẩu giấy bút đàm xong đều phải được thu gom lại! Cẩn trọng và giữ quốc thể (69)!

      Nhạy cảm nhất với t́nh h́nh ở Pháp, có lẽ vẫn là các cố đạo Pháp, vốn thuộc Hội Truyền giáo của Paris tại nước ngoài.

      Đạo Gia Tô ở Pháp từng có một thời gian dài bị suy vi do những cuộc cách mạng dân chủ nổ ra trong nước. Cách mạng của nhân dân Pháp nổ ra từ thời tương ứng với giai đoạn nước ta gần như được thống nhất Đàng Trong – Đàng Ngoài, nhờ thanh gươm, vó ngựa quân Tây Sơn (1789), và cách mạng Pháp c̣n tiếp tục nổ ra ở những thập niên sau đó (1848, 1870). Đạo Gia Tô ở Pháp có một thời gian lại rất thịnh đạt, thực sự trở thành một công cụ xâm lược các nước hải ngoại, đấy là giai đoạn dưới triều Napoléon III, tên vua có nữ quỷ hoàng hậu Eugénie rất sùng đạo Chúa, triều đại kéo dài suốt mười tám năm (02.12.1852 – 1870) (68).

      Từ trước ngày Napoléon III bị Phổ bắt sống, phải đầu hàng, chấm dứt Đế chế II, các cố đạo và bọn dân đạo thân Pháp hoặc thực sự là tay sai của chúng ở nước ta đă lo sợ cuống cuồng! Nỗi lo sợ ấy đến với chúng muộn nhất cũng từ trước Tết Nguyên đán năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh ngọ (1970). Đó là dịp đầu năm mới dương lịch 1970. Bấy giờ, ở Pháp, những khẩu hiệu vang lên sau khi em họ Napoléon III, tên hoàng thân Pierre Bonaparte, ám sát Vitor, một nhà báo cộng hoà: “Nước cộng hoà muôn năm!”, “Bọn Bonaparte phải chết!”, “Đuổi bọn giáo sĩ ra khỏi nhà nước!”. Và từ đó, phong trào cách mạng bắt đầu bùng nổ đồng thời với cuộc chiến tranh Pháp – Phổ, dẫn đến cuộc cách mạng vô sản Công xă Paris, 18.3.1971. Đó là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới, tuy chỉ tồn tại trong bảy mươi hai (72) ngày (68).

      Do đó, trong tháng mười nguyệt lịch năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh ngọ (1870), giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ liền mật tâu lên vua Tự Đức thông qua môi giới là Trần Tiễn Thành :

      “Xin sai người đi đến Gia Định ḍ thám, dâng kế, khiến cho tướng Pháp trả lại ta sáu tỉnh, mang cả quân về nước, để dẹp nạn trong nước, rồi lại sang buôn bán như người Anh ở Hạ Châu [tức bán đảo Mă Lai].

      Cần chơi thân với người Anh, nước ấy thấy ta t́m đến người Anh, mới dễ nguôi ḷng về bàn định hoà ước. Lại phái người sang thủ đô nước Anh thăm ḍ, tuỳ tiện bày kế.

      Trần Tiễn Thành nhân xin sai Nguyễn Hoằng (người bên đạo theo sai phái) đi sang nước Pháp bảo là cho người đi học, rồi nhân tiện cho Nguyễn Trường Tộ theo sang để tŕnh bày lợi hại với viên cố đạo Tây [dương] và xem sự thể t́nh h́nh các nước Anh, Nga, Úc, Phổ. Và nước Pháp vẫn trông cậy ở hai viện Công hầu và Thứ dân, nêu ngầm thương thuyết với hai viện đó, có cơ hội ǵ, lần lượt tâu về” (70) .

      Một là, dâng lên kế hoạch để quân ta lấy lại sáu tỉnh Nam Ḱ. Nhưng sau đó nước ta vẫn quan hệ với Pháp về thương mại, như Hạ Châu (Mă Lai – Singapore) với người Anh (thực dân).

      Hai là, nên quan hệ mật thiết với người Anh theo thể thức đó để Pháp nguôi bàn chuyện định lại “hoà” ước, đồng thời phái người sang Anh thăm ḍ, tuỳ theo t́nh h́nh mà bày kế sách (chúng đang ép buộc triều đ́nh nước ta kí kết “hoà” ước mới với điều khoản nhượng đứt thêm cho chúng ba tỉnh Miền tây, để hợp thức hoá hoàn toàn chủ quyền cho chúng trên lục tỉnh Nam Ḱ).

      Ba là, Trần Tiễn Thành lại tâu xin cho linh mục Nguyễn Hoằng và Nguyễn Trường Tộ sang Pháp tŕnh bày với các viên cố đạo Pháp ở bên ấy (Hội Truyền giáo Paris), thương thuyết với lưỡng viện Quốc hội Pháp (Viện Quư tộc, Viện Thứ dân), đồng thời để xem xét t́nh h́nh các nước Anh, Nga, Úc, Đức…

      Vua Tự Đức cho rằng đó là việc hệ trọng, nên cho vời giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ, một người đă từng sang Tây du học lâu năm, vào kinh để hỏi về việc ấy (70)!

      Nhà vua hẳn không hề biết giáo dân Đinh Văn Điền ở Yên Mô, Ninh B́nh và giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ ở Nghi Lộc, Nghệ An cũng là một giuộc? Từ tháng mười nguyệt lịch năm Mậu th́n (1868), phải chăng phong trào lật đổ Đế chế II ở Pháp đă bắt đầu manh nha, và nỗi lo âu của Hội truyền giáo Paris đă truyền sang Đinh Văn Điền từ đấy? Nguyễn Trường Tộ với nỗi lo sợ ấy, nay đă trở nên cuống cuồng. Ngẫm cho cùng, thực chất những giáo sĩ, giáo dân người Việt đang cố t́m một lối thoát cho chính họ! Họ sợ rằng, một khi nước Pháp với phong trào cách mạng dân chủ tư sản và công xă vô sản nắm chính quyền ở Pháp, họ sẽ mất chỗ dựa! Cho nên, họ phải tính toán trước, đi nước đôi với cả Pháp lẫn Anh! Thay v́ bọn Pháp thực dân, chiếm hẳn lục tỉnh Nam Ḱ làm thuộc địa, họ muốn triều đ́nh chấp nhận thực dân Anh “bảo hộ” như ở Hạ Châu (Mă Lai)! Chẳng lẽ Nguyễn Trường Tộ không biết thực dân Anh đă hất cẳng Hà Lan, Bồ Đào Nha, chiếm hẳn “đất thuộc địa eo biển” ở Hạ Châu (Mă Lai), gồm Singapore, Malacca, Pénang, từ năm Tự Đức thứ hai mươi, Đinh măo (1867) (71)! Pénang, nơi từng được gọi là “mảnh đất bàn đạp” cho tiến tŕnh xâm lược của bọn thực dân Tây Âu, là “căn cứ địa” của các cố đạo bạch quỷ viễn chinh ở Viễn Đông, chuyên đào tạo những tên tay sai như Pierre Tạ Văn Phụng, Pétrus Trương Vĩnh Kư, và cả Nguyễn Trường Tộ!

      Tán tương Nguyễn Văn Tường chợt nhớ hôm nào khi khâm sai đại thần Vũ Trọng B́nh mới ra Lạng Sơn, các quan quân thứ chua chát bàn bạc về “tả đạo”.

      Sau bữa cơm chào đón khâm sai đại thần họ Vũ hôm ấy, họ chuyện tṛ măi, cho đến khi tiếng điêu đẩu vang lên báo hiệu đổi phiên tuần canh.

      - Hay là tên giáo dân Đinh Văn Điền này muốn thoát khỏi quyền lực của giáo hoàng La Mă như Anh giáo? Anh giáo là một thứ Thiên Chúa giáo (đạo Gia Tô) của nước Anh, độc lập, không có quan hệ với La Mă. Và y cũng muốn thoát khỏi nanh vuốt của Hội Truyền giáo Ba Lê (Paris)?

      - Những tên theo Thiên Chúa giáo (đạo Gia Tô) ở các nước như nước ta, giáo hoàng bạch tạng La Mă bảo ǵ chúng tuân lệnh răm rắp, đến mức bảo chấp nhận mất nước, làm dân nô lệ, chúng cũng vâng lời! Ngu không thể tưởng được!

      - Tên giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ vẫn như cái đuôi của con chó Ngô Gia Hậu (Gauthier). Chó bị chặt đuôi vẫn c̣n sống được, nhưng đuôi chó ĺa khỏi đít chó th́ thối rữa khác ǵ khúc thịt chết! Nguyễn Trường Tộ đă bao giờ rời khỏi hai tên giám mục Hậu (mgr. Gauthier), Phê Chính Hoà (mgr. Croc) đâu! Nguyễn Trường Tộ như thế, nữa là Đinh Văn Điền!

      - Việc “sát tả” ở nước ta, đâu phải chống dị giáo Tin Lành như vua Phi Líp đệ nhị (Philippe II) của Y Pha Nho và vua Lu Y đệ thập tứ (Louis XIV) của Pháp! Hai hoàng đế Tây Âu ấy giết hại biết bao nhiêu người chỉ v́ dị giáo! Ở nước ta, đó là vấn đề giữ nước khỏi bị xâm lược, nô dịch, sùng bái Nhi Nhu (Giê Su, Jésus) mà quên mất tổ tiên, anh hùng dân tộc! Ai chẳng biết những tên cố đạo như giám mục Hậu (Gauthier), giám mục Hoà (Croc) là thực dân đội lốt tôn giáo, nhất là tên giám mục Phu Nhi Chi (Puginier) ở Kẻ Sở (Hưng Yên), ở Hà Nội!

      - Giá như tên Nguyễn Trường Tộ bỏ hẳn đạo Gia Tô để đứng vào giới Văn thân nho sĩ chúng ta th́ hay biết bao nhiêu! Chỉ tiếc là y không chịu bỏ “tả đạo” mà chỉ chấp nhận bỏ tổ tiên, nguồn cội mà thôi! Ta học triết thuyết Khổng Mạnh nhưng đâu có thờ lạy, sùng bái, mê muội như y sùng bái, mê muội Nhi Nhu (Jésus) đâu! Chúng ta vẫn chỉ thờ kính tổ tiên, nguồn cội và anh hùng dân tộc ta, c̣n lập Khổng miếu là chỉ để tỏ ra biết ơn danh nhân “vạn thế sư biểu” thôi! Hăy xem trên bàn thờ các nhà, từ dân cho đến quan, có bức tượng, tấm tranh nào tạc, vẽ Khổng tử đâu! Chẳng lẽ Nguyễn Trường Tộ chưa hiểu tiểu truyện Nhi Nhu (Jésus) trong Kinh thánh, chẳng lẽ chưa đọc Gia Tô bí lục và những chương về Cảnh giáo (một tên khác của đạo Gia Tô) do Nguyễn Văn Siêu mới viết?

      - Thôi, xin phép các quan! Để bữa khác! Thế nào triều đ́nh cũng có thông tư về t́nh về lương – giáo. Nhưng nhiệm vụ chính của ba đạo quân binh chúng ta là tiễu phỉ! Phải diệt cho bằng hết bọn phỉ Tàu, phỉ Bắc Ḱ mới rảnh tay, nhẹ đầu để lo việc lấy lại Nam Ḱ và làm việc khác được!

      Bấy giờ, lúc đêm đă bước sang canh hai, các tướng tá mới chia tay nhau đi làm công việc của ḿnh.

      Tán tương Nguyễn Văn Tường một lần nữa lại băn khoăn trước câu hỏi: Phải chăng Đinh Văn Điền, Nguyễn Trường Tộ muốn bày tỏ một thái độ chống Pháp để xác lập chính nghĩa trước dư luận và trước triều đ́nh để tiếp tục theo Thiên Chúa giáo? Hay chỉ muốn t́m một chỗ dựa mới, một khi nước Pháp đă bùng nổ cách mạng dân chủ và công xă Paris?

      Và điều tán tương Nguyễn Văn Tường thấm thía nhất vẫn là: Thời cơ giành lại lục tỉnh Nam Ḱ đă xuất hiện, nhưng chớp lấy thời cơ ấy để đuổi bọn cướp nước bị bấn loạn ở sào huyệt chính quốc, ta vẫn không chớp lấy nổi, do chân tay triều đ́nh ta quá yếu, thân thể triều đ́nh ta quá kiệt quệ! Thế nên đành tiếc rẻ, để vuột mất thời cơ! Điều rất đơn giản, ai cũng có thể biết, là phải chuẩn bị sẵn lực lượng để chớp lấy thời cơ, giành chiến thắng, nhưng thật sự rất đỗi nan giải lại là việc chuẩn bị lực lượng! Bọn phỉ Tàu hàng vạn tên, bọn cổ phỉ (phỉ hùa reo) người Việt hàng mấy ngàn tên vẫn không ngừng ra sức quấy nhiễu ở biên giới và miền biển Bắc Ḱ, với súng ống đạn dược được Pháp, Anh viện trợ, bán chác qua tay lái buôn Jean Dupuis!

      Tán tương Nguyễn Văn Tường không thể không t́m hiểu về nước Pháp và Thiên Chúa giáo, nhân dân vẫn đang gọi là nước Phú bạch tạng, bạch quỷ và tả đạo, dữu dân. Không ai không biết câu ngạn ngữ trích từ sách binh pháp: “Biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng!”. Trong điều kiện phải đương đầu trước cuộc xâm lăng của Pháp và đương đầu với một tôn giáo đă bị xuyên tạc bản chất để thành công cụ thực dân, nô dịch, ông không thể không t́m hiểu đối phương. Đó là điều tất nhiên!

     

      8

      Sau khi thấy t́nh h́nh biên giới Bắc tạm yên, quân Thanh của Phùng Tử Tài rút về Trung Quốc, bấy giờ, Nguyễn Văn Tường viết tập bản sớ “Về kế hoạch xếp đặt công việc ở Bắc Ḱ”. Ông không lạc quan về t́nh h́nh một cách chủ quan, khinh địch. Quả thật, nếu bọn giặc Cờ không tràn qua lại, ngóc đầu dậy, bọn cổ phỉ (giặc hùa reo) người Việt (Kinh, Tày, Thái, Mèo…) không tiếp tục “giậu đổ b́m leo”, “theo đóm ăn tàn”, quan quân ta cũng có thể chớp lấy thời cơ chiến tranh Pháp – Phổ nổ ra, cách mạng dân chủ và Công xă Paris bùng dậy, Đế chế II của Bonaparte ở Pháp sụp đổ, để kéo đại binh vào giải phóng lục tỉnh Nam Ḱ. Mặc dù không dễ mua được súng đạn hiện đại như quân kháng chiến Mễ Tây Cơ (Mê-hi-cô, Mexico) (72), một nước giáp ranh với Mỹ Lợi Kiên (US. America), mặc dù cũng không thấy chủ trương buông nhả thuộc địa của chính phủ Công xă Paris (73), nhưng nếu t́nh h́nh thuận lợi hơn, quân binh triều đ́nh cùng với nghĩa sĩ Nam Ḱ nước ta vẫn có thể đánh bật được bọn phủ suư Pháp, tiêu diệt được bọn mă tà, ma ní của chúng, và chắc chắn nước ta sẽ đạt được chiến thắng nhất định, vào thời điểm thời cơ xuất hiện.

      Mỹ Lợi Kiên (US. America) là một nước có nhiều tên cao-bồi (cowboy) luôn luôn kè kè súng đạn, ăn ngủ với súng đạn, lại có nhiều tên lái buôn giàu có nhờ buôn lậu súng đạn. Do đó, ngay ba năm trước (1867), quân kháng chiến Mễ Tây Cơ, dưới sự lănh đạo của một linh mục thoát li khỏi giáo quyền La Mă, đă mua được súng đạn hiện đại, và nhờ vậy, đă quét sạch bọn Pháp ra khỏi nước, cho dù nước Mễ không có thời cơ như năm Canh ngọ (1870) này.

      Năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh ngọ (1870) này, thời cơ ngh́n năm có một đă xuất hiện, mặc dù chính phủ Công xă Paris vẫn muốn giữ chặt thuộc địa mà Đế chế II xâm lược được, mặc dù quân ta vẫn c̣n thiếu súng đạn tối tân của thời hiện đại (thế kỉ XIX), nhưng rơ ràng t́nh h́nh đă thuận lợi hơn trước. Vậy mà tiếc thay, chính bọn Tàu giặc Cờ lại tràn sang, và bọn cổ phỉ (giặc huà reo) người Việt ngóc đầu dậy, giam chân đại quân triều đ́nh nước ta ở Bắc Ḱ!

      Hoặc giả, phải chăng một phần khác, ta vẫn không chớp lấy nổi thời cơ, do binh đao liên miên, do chân tay triều đ́nh nước ta quá yếu, thân thể triều đ́nh nước ta quá kiệt quệ? Thế nên đành tiếc rẻ, để vuột mất thời cơ!

      Tháng sáu nguyệt lịch, tán tương Nguyễn Văn Tường viết tập bản sớ “Về kế hoạch xếp đặt công việc ở Bắc Ḱ”, những tưởng tạm yên. Nhưng, sau đó non một tháng, ngay tháng bảy, Tô Tứ (Tô Quốc Hán), một tên đầu sỏ giặc Cờ, cùng với Tăng Á Trị, trước đây đă xin hàng ở Lạng Sơn, nay lại nổi dậy làm phản. Hai tên tướng phỉ Tàu cũng thuộc bọn giặc Cờ, loại Cờ vàng, Đặng Văn và Hoàng Sùng Anh, cùng hàng vạn tên tiểu tốt khác lại tràn sang nước ta quấy nhiễu, chiếm cứ, cướp bóc, giết chóc (74). Như thế, rơ là sau khi ba mươi mốt doanh quân nhà Thanh của tướng Phùng Tử Tài mới rút, bọn phỉ ẩn núp được tại núi rừng Thái, Tuyên, Cao, Lạng… lại lập tức nổi dậy, hàng vạn tên đồng bọn mới bị dẫn độ về Tàu lại tràn sang!

      Các quân thứ phải phiên chế lại. Đoàn Thọ, tổng thống Bắc Ḱ quân vụ. Tổng thống quân thứ Lạng – Bằng Vũ Trọng B́nh đă được phong hiệp thống Bắc Ḱ quân vụ. Lê Bá Thận, tham tán quân thứ Lạng – Bằng và sau đó chuyển về Thái Nguyên. Ông Ích Khiêm, tán lí. Thành Lạng Sơn lại trở thành đại bản doanh của các quân thứ như hồi năm Mậu th́n (1868), lúc mới xuất quân ra Bắc!

      Trước t́nh h́nh đó, tán tương Nguyễn Văn Tường lại phải lên ngựa cùng một số lớn lính tuỳ tùng sang tận Phủ Thái B́nh của Trung Quốc để thương thuyết. Tướng Phùng Tử Tài lại sai phái tri phủ Thái B́nh nhà Thanh sang hiểu dụ lũ phỉ ấy. Đó là Từ Diên Húc (75).

      Cũng trong tháng tám nguyệt lịch, tên tướng phỉ Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc đă xin hàng quân binh ta. Y thưa, về nước Tàu, thế nào y cũng bị tử h́nh, nên y xin được ở lại Bảo Thắng thuộc tỉnh Hưng Hoá để cùng đồng bọn làm ăn. Thấy y là một trong những tên tướng tàn quân của Thái b́nh thiên quốc, tuy đă biến chất thành phỉ, tuy cũng đă từng toan chiếm cứ Cao Bằng để xưng hùng, xưng bá, nhưng dũng cảm, có tài cầm quân và tâm địa không đến nỗi tàn ác lắm, quan quân ta đồng ư cho y theo để chịu sai phái tiễu trừ phỉ. Bố chính sứ Hưng Hoá Nguyễn Huy Kỷ là một viên quan mộ đạo Phật, từng được thuộc cấp và dân chúng rất mực kính nể, xem ông như Phật sống (76). Chính Nguyễn Huy Kỷ và án sát Trần Doăn Đạt đem việc xin hàng, đái công chuộc tội của y tâu vào vua Tự Đức. Nhà vua bảo rằng: “Dùng người Man đánh người Man là một việc cần. [Lưu] Vĩnh Phúc vốn thù nhau với Hoàng [Sùng] Anh, nên khéo khích dùng. Nhưng sợ tính chưa thuần, khó quen dần. Đừng hi vọng quá nhiều, lại thành ra khó chế ngự” (52).

      Từ đó, Lưu Vĩnh Phúc trở thành một người đắc lực.

      Như thế, một mặt có Từ Diên Húc (tri phủ nhà Thanh) hiểu dụ chiêu hàng bọn phỉ Tàu, một mặt có những người Tàu như Lưu Vĩnh Phúc truy quét chính đồng bọn người Tàu cam tâm làm phỉ. Ngoài ra, tổng thống Bắc Ḱ quân vụ Đoàn Thọ lại c̣n muốn chỉ sử dụng lính Nam Ḱ! Ông đă tâu vào kinh, nên tuyển thêm lính Nam Ḱ (hiện sinh sống tại các vùng tị địa ở B́nh Thuận), v́ lính Bắc Ḱ hèn nhát không sử dụng được! (Phải chăng tâm thế binh lính Đàng Ngoài ít nhiều u ám, mệt mề bởi bất măn trước sự phân biệt đối xử?). Vua Tự Đức trách, vấn đề là tướng, chứ không phải binh sĩ (77). Vua c̣n dẫn lịch sử, quân nào đă từng đánh tan quân Nguyên – Mông, quân Minh? Sau đó, quân Chiến Tâm được thành lập, tuyển mộ lính tráng từ Hà Tĩnh trở ra Bắc (77).

      Trong khi các quân thứ phiên chế lại và vạch kế sách tiễu trừ phỉ như vậy, thành Cao Bằng lại bị bọn phỉ Tàu, phỉ Việt đầu hàng làm phản. Các tên đầu mục phỉ Nguyễn Tứ, Trương Thập Nhất, Đặng Văn, Lục Văn dẫn bốn, năm trăm tên tốt phỉ đánh úp, chiếm thành, giết mất án sát Hoàng Tạo, v́ ông không chịu khuất phục, c̣n bố chính Nguyễn Văn Thận bị mất tích (78)!

      Thế là thành Cao Bằng lần thứ hai bị chiếm!

      Đó là một tin trong tháng chín năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh ngọ (1870), làm rúng động triều đ́nh và các quân thứ!

      T́nh h́nh biên giới Bắc không thể yên được, trở lại căng thẳng như cũ!

      Vua Tự Đức liền ban dụ trong khắp cả các quân thứ, các tỉnh trong nước (79)!

Thành Cao Bằng mất vào lúc tương đương với thời điểm Phổ đánh bại Pháp (9.1870)! Thời cơ thuận lợi cho nước ta xuất hiện, ta đành để trôi qua, vuột mất!

    

Hết phân đoạn 3 truyện kí thứ sáu (c̣n tiếp)

                                                             

Viết đến ḍng chữ này lúc 16 giờ kém 10 phút,

  ngày mùng ba tháng mười, năm 2002

(27.8, Nh. ngọ, HB.2),

tại thành phố Hồ Chí Minh.

TXA.                                                             

 

                   

(63)    ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 267 –270.

(64)    ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 382.

(65)     ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 7 – 8.

(66)     ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 17 –18.

(67)     ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 47 – 48.

(68)     LSCĐTG., tập 1, Nxb. KHXH., 1986, tr. 342 – 357; tập 2, Nxb. KHXH., 1985, tr. 7 – 65.

(69)     ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 56 – 59.

(70)     ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 59 – 60.

(71)     LSCĐTG., tập 3, Nxb. KHXH., 1985, tr. 299 – 324.

(72)     LSCĐTG., tập 1, Nxb. KHXH., 1986, tr. 352.

(73)     Theo các tác giả Nguyễn Văn Hồng, Vũ Dương Ninh, Vơ Mai Bạch Tuyết, trong Lịch sử cận đại thế giới, (LSCĐTG.), tập 1 & tập 2, Nxb. KHXH., 1986 và các tư liệu khác: Khi cuộc chiến tranh Pháp – Phổ 1870 – 1871 nổ ra, Karl Marx có theo dơi sâu sát, nhất là đối với phong trào công nhân Pháp và Công xă Paris. Chính Karl Marx đă góp phần chỉ đạo cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới ấy. Tuy nhiên, Karl Marx và Quốc tế Cộng sản I (thứ nhất) không hề đề cập đến vấn đề thuộc địa với ư hướng ủng hộ các dân tộc chống chủ nghĩa thực dân xâm lược, cụ thể như trường hợp nước ta chống Pháp chẳng hạn. Vấn đề ủng hộ phong trào giải phóng các dân tộc (các đất nước) bị áp bức bởi chủ nghĩa thực dân, đế quốc tư bản chủ nghĩa chỉ được đề cập lần đầu tiên bởi V. I. Lénine trong luận cương “Vấn đề thuộc địa” (1920). Phải chăng đó là lí do cơ bản để Bác Hồ viết bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin” (1960)? Xin lưu ư ở nhan đề bài viết ấy: chủ nghĩa Lê-nin chứ không phải chủ nghĩa Mác – Lê-nin! Chúng tôi chú thích để thấy rằng  các nước Á, Phi, Mỹ la-tinh chống Âu Mỹ xâm lăng nói chung, và nói riêng triều Nguyễn cùng dân tộc ta chống Pháp, đều ở trong một điều kiện không có một lực lượng nào ở Âu Mỹ ủng hộ, nếu không nói là, như thế, mặc nhiên ngay cả Quốc tế Cộng sản I & II vô h́nh trung cũng đều đứng về phía Âu Mỹ xâm lược. Có người cho rằng, ngay cả Quốc tế III cũng chủ trương tiến hành cách mạng vô sản ở chính quốc trước, mới có thể giải phóng các thuộc địa. Chính nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong cuốn “Bản sắc văn hoá Việt Nam” (Nxb. Văn hoá Thông tin, 1998), bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh, đỉnh cao của văn hoá Việt Nam” đă viết: “Chân lí mà Nguyễn [Ái Quốc] phát hiện và đấu tranh không biết mệt mỏi sau khi đă vào Đảng Cộng sản Pháp chính là t́m mọi cách lôi cuốn Quốc tế III và các đảng cộng sản theo con đường mà chính ḿnh là người phát hiện. Điều này vào những năm hai mươi hăy c̣n quá mới, nên không mấy người cộng sản trong các nước đế quốc tán thành” (sđd., tr. 448); “… Nguyễn Ái Quốc vào [Đảng Cộng sản] với một mục đích riêng, khác đa số những người cộng sản: khiến Quốc tế III ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, xem nó ngang với nhiệm vụ thực hiện cách mạng ở chính quốc. Ta hiểu điều đó rất mới và rất khó”. Phan Ngọc c̣n trích dẫn lời Nguyễn Ái Quốc: “C̣n các đảng cộng sản của chúng ta như Đảng Cộng sản Anh, Hà Lan, Bỉ và các nước khác, mà giai cấp tư sản ở đấy đă chiếm giữ thuộc địa th́ đă làm những ǵ?… Tất cả những việc mà các đảng của chúng ta đă làm về việc này thật hầu như chưa có ǵ cả. C̣n về phần tôi, là một người sinh trưởng trong một nước hiện nay là thuộc địa của Pháp và là một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, tôi lấy làm tiếc phải nói rằng Đảng Cộng sản Pháp chúng tôi làm ít và rất ít cho các nước thuộc địa” (Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 1, 1995) (tr. 450). Sau Cách mạng tháng 10 Nga 1917 mà c̣n như thế! Ở đây, chúng tôi chỉ chú thích để làm rơ ư tưởng: Các nước Á, Phi, Mỹ la-tinh chống Âu Mỹ xâm lăng nói chung, và nói riêng triều Nguyễn cùng dân tộc ta chống Pháp, đều ở trong một điều kiện không có một lực lượng nào ở Âu Mỹ ủng hộ. Và chỉ giới hạn vấn đề ở đó. Ngoài ra, các khái niệm “chủ nghĩa xă hội không tưởng” (trước Karl Marx, chúng tôi thay thế bằng các từ ở thế kỉ XIX là “lí thuyết xă hội đại đồng viễn tưởng”), “chủ nghĩa xă hội khoa học” (từ Karl Marx) và “chủ nghĩa xă hội hiện thực” (từ Lê-nin, tại Liên Xô…) tự bản thân chúng đă rơ nghĩa, thiển nghĩ khỏi cần phải minh định, giới thuyết cụ thể.

(74)    ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 39.

(75)     ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 42.

(76)     ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 62 – 63.

(77)     ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 44.

(78)     ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 46.

(79)     ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 50 – 51…

 

 

Hết

phân đoạn 3

truyện kí thứ sáu

(c̣n tiếp)

 

XIN XEM TIẾP TỆP 14

phân đoạn 3

truyện kí thứ sáu

 

 

 

xem tiếp tệp 14  ) 

 

Trở về trang chủ

Cập nhật: 05/01/07

______________________________________________________________________________________________________________

 

 

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/home

 

hidden hit counter

 

Google page creator /  host

 

GOOGLE BLOGGER, DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE  


 

 

    lên đầu trang (top page)   

 01-5 HB7 (2007) = 15-3 Đinh hợi HB7