WEB. TRAN XUAN AN'S WORKS (BOOKS)

Poet / writer & researcher

Twenty one published-books

(poem; novel; essay; research; critical contribution on history, literature...)

The HCM City Literature-writer Association member

 

 

 

 

                 author's copyright
      

 

 

KỈ NIỆM VỚI LÊ TIẾN CÔNG

VÀ VÀI NÉT PHẢN BIỆN LUẬN VĂN CỬ NHÂN SỬ HỌC CỦA ANH


Trần Xuân An

 

 

 


1

Trong mấy ngày đầu của một tháng 7, cách đây 4 năm, tôi có dịp ra Huế để tham dự Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886). Trong dịp ấy, tôi được biết thêm một người nghiên cứu trẻ tên là Lê Tiến Công. Đúng ra, trước đó khoảng một tuần, tôi cũng đă có vài phút chuyện tṛ với một người trẻ tuổi tôi chưa từng biết mặt, cũng chưa hề biết tên (mới hay bài tham luận của tôi, “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi (05 tháng 7-1885)”, anh và các nhân viên của Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên - Huế đang gơ phím vi tính để in thành tập “Các báo cáo khoa học”, tài liệu chính của cuộc hội thảo). Tôi bắt đầu quen Lê Tiến Công qua giọng nói trước khi gặp, nhưng khi gặp Lê Tiến Công, thật sự tôi không có ấn tượng ǵ nhiều về anh trong lần đầu gặp mặt ấy, ngoại trừ một chi tiết: Lê Tiến Công nghiên cứu và viết luận văn cử nhân về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886).


Đến khi xuất bản xong bộ sách “Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)” (Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2004), tôi gửi sách tặng anh và nhờ anh chuyển tặng giúp đến các nhà nghiên cứu cùng một số nhà văn, thi sĩ ở Huế. Qua đó, tôi và Lê Tiến Công có dăm bảy cuộc điện thoại. Tôi càng hiểu anh là một người trẻ tuổi vừa tâm huyết với đề tài nghiên cứu, vừa rất nhiệt t́nh trong quan hệ, giao thiệp.


Có một điều rất đáng nhớ, trước hội thảo ấy khoảng hai tháng (5-2002), tôi mới sắm chiếc máy vi tính đầu tiên và lần đầu tiên gơ ngón tay ḿnh vào bàn phím, sửa chữa, bổ sung và hoàn tất bản thảo “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), ‘những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được’”, chủ yếu là cùng hai đứa con xếp chữ phần phụ lục, trích đoạn “Đại Nam thực lục”. Nhưng một điều trở thành cái mốc kỉ niệm khó quên là chính bởi Lê Tiến Công, tôi mới bắt đầu nhờ người đă mua giúp máy vi tính, vỡ ḷng cho tôi về vi tính – Bùi Quang Ngọc, một kĩ sư tin học trẻ quen thân –, nối mạng liên thông toàn cầu (internet) và mở hộp điện thư (email), vào khoảng thời gian đầu năm 2005, sau Tết Nguyên đán Ất dậu, chính xác là ngày 14-3 HB5 (2005). Tôi nối mạng liên thông để nhận luận văn cử nhân sử học của Lê Tiến Công từ Huế gửi vào. Đó là nguyên nhân trực tiếp. Nhưng nguyên nhân xa hơn, rộng hơn, là để trao đổi với những ai yêu quư sử học (và văn chương) trên khắp hành tinh của chúng ta, điều mà tôi đă viết trong “Lời thưa đầu sách” của cuốn sách “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), ‘những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được’”.


Sau hai hôm, sau vài cái điện thư thăm hỏi, ngày 16-3 HB5 (2005), lần đầu tiên tôi nhận và đọc một văn bản ở dạng điện thư có tập tin đính kèm như vậy.



2

Lê Tiến Công gơ phím với font VNtime new roman, hệ mă VietWares. Tôi lại không có phần mềm font và mă ấy. Khi in ra giấy để đọc, mỗi chữ đều bị một lỗi cách quăng, các kí tự không liền nhau thành chữ, nhưng vẫn có thể đọc được.


Với 84 trang giấy A4 trong t́nh trạng đó, luận văn của Lê Tiến Công vẫn chứa đựng tất cả công phu, trí tuệ và tâm huyết của một sinh viên năm cuối bậc đại học. Tuy nhiên, nhận thức lịch sử, phương pháp phân tích và quan điểm nhận định lịch sử của anh có những điểm tôi cho là chưa chính xác và thoả đáng, mặc dù về cơ bản, tôi thấy cách tiếp cận đề tài của anh khá gần gũi với những cuốn sách, bộ sách tôi đă viết và đă in vi tính hay đă chính thức xuất bản.


Dẫu rất quư mến và cảm nhận được một triển vọng tương lai là sẽ trở nên một nhà nghiên cứu tài năng ở Lê Tiến Công, tôi vẫn phải đối thoại phản biện với anh về những điểm cần thiết. Tuy nhiên, tôi quá bận nhiều việc khác, nên chỉ đề nghị anh đọc những cuốn sách tôi đă viết, xuất bản với h́nh thức sách in giấy hay sách điện tử (e-books). Tôi tự tin rằng, khi đọc xong số sách của tôi cùng đề tài anh nghiên cứu, viết luận văn, anh sẽ không thể không nhất trí với tôi.


Ít lâu sau, qua Yahoo Mail, anh có gửi điện thư với phần đính kèm vào TP.HCM.. Đó là một bài viết anh trích ra từ luận văn, có chỉnh lí, bổ sung: “Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường trong công cuộc chuẩn bị kháng chiến chống Pháp”.


Sau vài tháng, Lê Tiến Công có dịp vào TP. HCM.. Tôi và anh cùng người bạn gái của anh đă cụng li chúc mừng lần gặp mặt đó trong một tiệm ăn đặc sản Huế. Người bạn gái của anh vui vẻ nâng máy ảnh ghi h́nh chúng tôi, hai người đang ngồi đối diện với cô.


Trong lần gặp mặt đó, h́nh như tôi có nhắc lại với Lê Tiến Công, bài viết về “tứ nguyệt tam vương” của anh, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 220, tháng 9-2004, trừ một, hai chi tiết nhỏ bị sơ suất không đáng kể (thật ra Ưng Chân - Dục Đức với Ưng Kĩ - Đồng Khánh không phải là hai anh em cùng cha khác mẹ…), tôi hoàn toàn nhất trí với anh. Tôi cũng khá nhất trí với anh về bài viết anh mới gửi vừa rồi, và lấy làm tiếc là anh không công bố bài viết ấy rộng răi hơn. Tôi biết anh cũng như tôi, rất ngại khi phải gửi bài ra hải ngoại. Nhưng tôi bị trói buộc quá sức, gặp dịp tôi cũng liều “ra trận”, “cọ xát” hay “vượt biên tinh thần” ǵ đó (đùa một chút!); c̣n anh, anh không dám. Anh có sự ràng buộc nào đó và chấp nhận sự ràng buộc ấy, ai cũng hiểu và thông cảm.



3


Đến khi chính thức xuất bản hai cuốn sách, “Tiểu sử biên niên phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), kẻ thù không đội trời chung với chủ nghĩa thực dân Pháp” “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), một người trung nghĩa”, với h́nh thức sách in giấy (9-2006), sau trên dưới một năm xuất bản trên mạng liên thông toàn cầu, tôi có cảm giác của một tác giả có nhu cầu đối thoại. Chợt nhớ lại luận văn cử nhân và bài viết phát triển từ luận văn ấy của Lê Tiến Công, tôi đề nghị anh đồng ư đưa lên web của tôi. Lê Tiến Công nhất trí. Anh gửi vào bản luận văn ấy lần thứ hai.


Bản thứ hai này, cũng qua đường Yahoo Mail, tôi khỏi dùng VietSpell để chuyển thành hệ mă unicode. Anh đă tỉa bớt những câu, những đoạn ở phần mở đầu, có t́nh chất quy phạm của một luận văn. Hầu như anh không sửa chữa, bổ sung ǵ thêm.


Và lần này, sau khi đưa lên web bài viết trích ra từ luận văn ấy, tôi đưa lên luôn cả luận văn cử nhân sử học (2002) của Lê Tiến Công. Như thế th́ rất cần phải góp ư, phản biện với một người đă vừa bảo vệ thành công luận án thạc sĩ (2006). Mặc dù luận án thạc sĩ của Lê Tiến Công viết về đề tài khác, nhưng tôi tin chắc về mặt phương pháp luận và “tay nghề” nghiên cứu của anh đă vượt xa tŕnh độ của chính anh cách đây đă 4 năm về trước. Dẫu vậy, tôi chưa rơ Lê Tiến Công thạc sĩ hiện tại đang thẩm định lại luận văn cử nhân của anh như thế nào. Trong giới nghiên cứu cũng như sáng tác, có khi những công tŕnh, tác phẩm đầu tay lại là những ǵ một đời tâm đắc nhất, cho dù bao giờ cái đầu tay cũng c̣n những vụng về, non nớt về kĩ thuật, phương pháp, vốn kiến thức và kinh lịch (vốn sống trải nghiệm). Tôi muốn nói, luận văn cử nhân của anh có nhiều chi tiết nhỏ và vài điểm mấu chốt đến nay chắc hẳn anh đă nhận ra tính chất sai lệch trong đó, mặc dù nh́n chung về cơ bản là xứng đáng để lưu giữ, sửa chữa, bổ sung và phát triển.


1. Về giai đoạn đầu dân tộc ta chống thực dân Pháp, dưới ngọn cờ phong kiến nhà Nguyễn (1858 – 1885), tôi chỉ nhấn mạnh đến một nhận định có tính chất bao trùm, xuyên suốt của anh:


“… T́nh h́nh đó đă gây cho địch nhiều hoang mang lo sợ. Nhưng cũng chính lúc đó triều đ́nh Huế lại kư với Pháp hiệp ước 5 / 6 / 1862, cắt 3 tỉnh Miền Đông và Côn Lôn cho Pháp cùng với những nhượng bộ nặng nề khác. Mục đích của triều
đ́nh Huế là để rảnh tay đối phó với cuộc nổi dậy ở Bắc Kỳ. Trong suy tính của triều đ́nh, nước ta sẽ lấy lại được ba tỉnh miền Đông một khi đă giải quyết xong việc Bắc Kỳ. Như vậy, có thể nói, triều đ́nh Huế sợ nhân dân hơn sợ giặc (nhấn mạnh – TXA.). V́ vậy đă tạo điều kiện về thời gian ḥa hoăn cho quân Pháp củng cố lực lượng, tiếp tục âm mưu xâm lược nốt ba tỉnh miền Tây. Đến 6 / 1867, thực dân Pháp chỉ mất 5 ngày để thực hiện xong mục tiêu đó mà không tốn một viên đạn, một tên lính nào. Nhưng ngay sau đó, phong trào kháng Pháp của nhân dân lại tiếp tục dâng cao, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Tam - Phan Ngũ, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân... Phong trào kháng Pháp lan rộng khắp Nam Kỳ, khiến cho kẻ thù khiếp sợ. Nhưng cuối cùng, do triều đ́nh Huế cố t́nh bỏ rơi, t́m cách ngăn cản, thậm chí tiếp tay cho giặc Pháp đàn áp phong trào, v́ vậy các cuộc khởi nghĩa lần lượt thất bại”.


Tôi nhận thấy Lê Tiến Công đă ít nhiều viết theo sách giáo khoa và sách giáo khoa hiện nay lại mang những “di căn” của Đàng Ngoài, một Đàng Ngoài của vua Lê chúa Trịnh thất bại, và bị thống trị, ḱm chế bởi nhà Nguyễn Đàng Trong. Mặt khác, Lê Tiến Công viết theo quan điểm và lập trường chống guồng máy cai trị, mà chống guồng máy cai trị cho dù ở thời đại nào, quan điểm, lập trường ấy h́nh như cũng luôn luôn có sức lôi cuốn. Nói đơn giản là cứ cho nhân dân tất thảy đều đúng và chính quyền tất thảy đều đáng lên án, th́ mới nghe qua, cảm thấy rất thuận ḷng dân và thuận ḷng kẻ sĩ, trí thức vốn dễ thân dân. Anh không biết rằng Đàng Ngoài thường xuyên nổi dậy chống triều Nguyễn với ngọn cờ đă bị lịch sử vượt qua là “phù Lê” sao? Và không biết “giặc theo đạo Gia-tô” ở Đàng Ngoài là rất đáng sợ đối với triều Nguyễn sao? Tạ Văn Phụng (Lê Duy Phụng) là tiêu biểu. Rồi lại thêm loại “giặc Cờ”, tàn dư Thái B́nh thiên quốc biến tướng thành phỉ, mưu toan xưng hùng xưng bá ở Bắc Kỳ! Thật ra, Lê Tiến Công có đề cập đến, nhưng khi nhận định, hầu như anh theo nếp ṃn là rặt một giọng lên án triều Nguyễn. Rơ ràng là thiếu nhất quán và khá mâu thuẫn! Đâu phải chỉ viết “có thể nói, triều đ́nh Huế sợ nhân dân hơn sợ giặc”, theo mạch văn là giặc Pháp, mà quên rằng trong nhân dân c̣n có loại giặc nội loạn, giặc “tả đạo”, giặc “phù Lê”.


Có lẽ Lê Tiến Công cũng cần bổ sung quan điểm toàn cục, nh́n rộng ra toàn cảnh thế giới trong các thế kỉ từ XVI đến XIX, đầu thế kỉ XX, để từ đó thấy t́nh cảnh của hầu hết các nước Á, Phi, Mỹ la-tinh, kể cả Trung Hoa, khổng lồ về địa dư và dân số, trước nạn thực dân Phương Tây, Âu Mỹ nói chung! Nói đúng hơn, không phải Lê Tiến Công không hiểu và không đưa vào luận văn quan điểm đó ở một vài chỗ, nhưng chỉ một vài chỗ mà thôi, c̣n tựu trung Lê Tiến Công vẫn chỉ đóng khung với quan điểm cục bộ, thấy Đại Nam chứ không thấy toàn cảnh Á, Phi, Mỹ la-tinh, trong đó, có cả Trung Hoa, và có thể kể thêm Ấn Độ khổng lồ!


Bấy giờ, vũ khí lạc hậu là một trong vài nguyên nhân chung của nhiều nước, dẫn đến sự thất bại trước liên quân Phương Tây, Âu Mỹ xâm lăng. Vũ khí quyết định cách chiến đấu của người chiến sĩ, quyết định binh pháp của các tướng cầm quân. Các vị danh tướng, như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Tá Viêm, Hoàng Diệu, Ông Ích Khiêm, Tôn Thất Thuyết, với
vũ khí và binh pháp cổ truyền, đều thất bại đau đớn trước vũ khí và binh pháp Phương Tây, cụ thể là Pháp, Tây Ban Nha! Chẳng lẽ Lê Tiến Công không thấy được điều này sao?


Nói cho công bằng, triều Nguyễn chịu trách nhiệm về việc mất nước. Nhưng đâu phải chỉ triều Nguyễn, mà chính là giáo dân Thiên Chúa giáo Việt Nam và chính một bộ phận khá lớn nhân dân Đàng Ngoài, phải chịu chung trách nhiệm ấy. Đồng thời, phải thấy tŕnh độ chung về khoa học kĩ thuật của các nước Á, Phi, Mỹ la-tinh, trong đó có kĩ thuật hàng hải, công nghệ vũ khí và điện báo nữa!


Ngoài ra, tưởng cũng cần nhắc thêm: Nước ta không chỉ đối diện với sự xâm lược của liên quân Phương Tây (Pháp, Tây Ban Nha...), mà c̣n đứng trước mưu toan xâu xé, chia đôi Bắc Ḱ với Pháp của Trung Hoa! Trung Hoa c̣n kí hiệp ước Thiên Tân (27 - 4 Ất dậu [09 - 06 - 1885]), câu kết với Pháp, cô lập hoàn toàn nước ta nữa!


2. Về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), mặc dù nh́n chung, Lê Tiến Công cố gắng làm sáng tỏ khá nhiều những điểm anh gọi là “điểm gút” về ông. Tuy vậy, điểm mấu chốt nhất là cuộc kinh đô quật khởi, bị thất thủ (05 - 7 - 1885 / 23 - 5 Ất dậu) và hai tháng sau đó, anh phân tích, lí giải không thật đúng với sự thật lịch sử. Một điều khá tai hại là anh sử dụng các nguồn tư liệu nhưng không phân loại tư liệu, xác định độ khả tín của từng nguồn tư liệu. Những trích dẫn của anh, có chỗ anh chỉ lẩy ra các đoạn tệ hại nhất, nhưng không phân biệt thể loại (châu bản, sử [biên niên hay khảo luận], vè, thơ, bài báo…) và do đó anh nhận định sai lạc. Chỉ cần nói một điều: “Vè Thất thủ kinh đô”“Hạnh Thục ca” là loại văn vần có cốt truyện. Chắc hẳn anh thừa biết, theo diễn biến cốt truyện, có khi nhân vật có thể bị đẩy vào t́nh huống tệ hại nhất để rồi sau đó mới thấy được thực chất trong sáng của nhân vật. Hai đoạn anh trích dẫn viết về thời điểm Nguyễn Văn Tường vào Nhà Chung gặp cố đạo Caspard (cố Lộc hay cố Kim Long), không phải là hai đoạn kết luận về thực chất của Nguyễn VănTường! Đó là chưa nói đến tính xác thực của loại văn chương công khai thời mất nước, mà tôi từng viết:


“Súng rền, khâm sứ bôi nhoà

Ḥm tù đỏ, ‘Hạnh Thục ca’ hoen vàng

‘Vè Thất thủ’ giữa dân gian

Giọng run lệch, bởi chuông vang giáo đường”


(Trần Xuân An, “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), một người trung nghĩa”, Nxb. Thanh Niên, 2006, tr. 291 – 292).


Và đây là hai đoạn tôi phân tích sơ lược về hai tác phẩm đó, chắc Lê Tiến Công đă đọc


Về “Vè Thất thủ kinh đô”:


“Cước chú của bài thơ số 27, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):


(*a) Vè “Thất thủ kinh đô”, theo chúng tôi, cũng rơi vào quỹ đạo của luận điệu tuyên truyền do Pháp và triều đ́nh Đồng Khánh tung ra. Đây là một thủ đoạn rất tinh vi của thực dân Pháp; hoặc do dân gian mù ḷa trong nhận thức, nhận thức chính trị với tư duy đơn giản kiểu rạch ṛi, tuyến tính cứng nhắc trong các vở tuồng cổ, cải lương, chèo cổ, mà vô h́nh trung có lợi cho Pháp và bọn tay sai.

Ca ngợi Tôn Thất Thuyết lại bằng những câu:


“Chú nào con vợ chưa thành

Cho về sở định sở sanh việc nhà

Chú nào lưa mẹ c̣n cha

Cho về bảo dưỡng, vậy mà đừng đi”


Có nhà sử học, nhà văn cho rằng đấy là chủ nghĩa nhân đạo của Tôn Thất Thuyết!


Không đời nào có kiểu tuyển quân kháng chiến ḱ quặc với các tiêu chuẩn như thế. Thế th́ chẳng c̣n người lính kháng chiến nào hết (chỉ chọn người đă mồ côi cha mẹ và đă có vợ con!). “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” (tục ngữ), “mỗi người làm một trận” (Nguyễn Trăi), “đàn ông nào, đàn bà nào, thấy Tây cứ chém phứa, thấy Nhật cứ chặt nhào” (Hồ Chí Minh), chứ đâu phải tuyển quân kiểu đó! Tuyển quân kiểu đó, không phải kháng chiến, mà chỉ “băng ḿnh tếch dặm sơn pḥng náu nương” (VTTKĐ., câu 1036)!


Vè “Thất thủ kinh đô” chỉ minh họa theo luận điệu của thực dân Pháp và triều đ́nh Đồng Khánh: Tôn Thất Thuyết chỉ t́m kế thoát thân, chứ chẳng kháng chiến ǵ cả.


Vè “Thất thủ kinh đô” đă bắn vào tim Tôn Thất Thuyết viên đạn bọc đường: giết chết nhân cách Tôn Thất Thuyết bằng viên kẹo ca ngợi ngọt lịm mà bên trong là mũi đạn có thuốc súng công phá.


C̣n với Nguyễn Văn Tường, vè “Thất thủ kinh đô” triệt hạ cả tư cách, phong độ lẫn lập trường chính trị. Tuy vậy, vẫn nói rơ: đến mức không thể ḥa hoăn với Pháp được nữa, bởi Pháp cố t́nh gây hấn, dùng kế khích tướng, ép Triều đ́nh một cách ngạo mạn, ông đă bày tỏ thái độ (tuy bị nhu nhược hóa!):


“Ai có tài ra chốn binh đao

Miễn yên nhà [yên] nước, lẽ nào dám can”

(VTTKĐ., câu 633 - 634)


Và ở đoạn kết, lúc kinh đô Huế đă thất thủ:


Đô thành, quan Quận giao ḥa

Lựa chiều hơn thiệt nói mà với Tây

Tây phiên gẫm vẫn giận thay:

– “Đem ḷng cự chiến c̣n đến đây làm ǵ?

May mà Nam Việt bại suy

Tây mà bại, đạo phen ni cũng không c̣n...”

(VTTKĐ., 1335 - 1340)


Quan một cho đến quan ba

Quan năm quan sáu vậy mà cũng nghe

Đ̣i triệu các quan tỉnh trở về

Sự t́nh y ước cho ra bề đục trong

Tin th́ tin, dạ c̣n pḥng

Nam triều tể tướng nó đem ḷng phục binh

(VTTKĐ., 1371 - 1376)


“Mời quan tể tướng xuống mau

Để kịp xuống tàu về nước Lang Sa”

(VTTKĐ., 1535 - 1536)


Dẫu có chút nào đúng với ĐNTL.CB., tập 36, các trang 63 - 64, 220 - 222, 247, tuy tinh thần chủ chiến đă bị xuyên tạc phần lớn, th́ những đoạn khác vẫn có quá nhiều sai lạc nghiêm trọng (sai lạc cả những chi tiết nhỏ lẫn những mảng hiện thực lịch sử lớn).


Vè “Thất thủ kinh đô” không phân biệt được chủ chiến trong đấu tranh chính trị, ngoại giao và chủ chiến bằng vũ trang là một, “nhất dạng”, dẫn đến sự lệch lạc trong việc xây dựng h́nh tượng nhân vật theo tưởng tượng hư cấu chủ quan.


Vè “Thất thủ kinh đô” đă xuyên tạc, li gián cả hai người lănh đạo cao nhất của nhóm chủ chiến, làm phong trào Cần vương hoang mang, tan ră, khiến người yêu nước không nhận ra thủ đoạn tuyên truyền của Pháp và triều Đồng khánh, rất dễ bị mắc lừa!


Vè “Thất thủ kinh đô” c̣n là cách biện minh cho Pháp, tả đạo, bọn tay sai và phe chủ “ḥa”! (Xem các bài dụ của Từ Dũ – Nguyễn Nhược thị Bích viết thay – và của Đồng khánh về Tôn Thất Thuyết). Chả thế mà Le Bris đă dịch ra tiếng Pháp, đăng trên tạp chí "Những người bạn cố đô Huế" (BAVH.), số 1, năm 1942... (xem thêm tr. 235).


Chúng tôi chưa nói đến vè “Thất thủ Thuận An”, một sáng tác được cho là của dân gian v́ đă lưu truyền trong dân gian, với những sai lạc, những xuyên tạc nghiêm trọng của nó: “đánh tráo nhân vật hư cấu”, Nguyễn Trọng Hợp thành Nguyễn Văn Tường, đồng thời biện minh cho tên thực dân tả đạo Caspar! Tên cơ hội, tay sai Nguyễn Trọng Hợp th́ Đại Nam thực lục, chính biên, tập 36, 37 và Đại Nam liệt truyện, tập 4, sđd., đă ghi quá rơ hành trạng của y cũng như ư thức làm tay sai cho Pháp của y...”.


(Trần Xuân An, “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) – Thơ – Vài nét về con người tâm hồn, tư tưởng”, chú thích ở bài thơ số 27:

http://tranxuanan-writer-6.blogspot.com
/2006/11/nguyen-van-tuong-1824-1886-tho-vai-net_1864.html
).


Cũng như nhà thơ Lương An, tôi không nói đến bản “Vè Thất thủ kinh đô” tái chế, giả mạo được viết lại vào năm 1969, sau Tết Mậu thân 1968 ở Huế:


“ … trích dẫn "Vè thất thủ kinh đô" ở một dị bản nào đó với một đoạn mà trong 7 bản lưu hành trước đây do Lương An sưu tầm, chỉnh lí, đều không có đoạn ấy. Có thể đoạn ấy thuộc dị bản thứ 8, gọi là "bản Đạm Hiên". Lương An đă thẩm định bản Đạm Hiên này như sau: "Cũng xin nói thêm là chúng tôi có một bản đánh máy bản do ông Đạm Hiên ở Huế hiệu đính năm 1969. Nhưng đây là một bản gần như viết lại hoàn toàn, không phải là hiệu đính, nội dung lại có nhiều lệch lạc. Bản này chúng tôi không dùng" (Lương An, bản thảo "Vè chống Pháp", viết tay, chụp lại; tr. 2 của bài "Về công tác văn bản và chú thích vè "Thất thủ kinh đô"" thuộc bản thảo này)”.


(Kiến Phúc – Wikipedia

http://tranxuanan-wikipedia.blogspot.com
/2006/06/wikipedia-kin-phc-bn-lu-b.html
).



Về “Hạnh Thục ca”:


“(3). Trần Trọng Kim nhận định về tác giả Hạnh Thục ca: “… Bà Lễ tần Nguyễn Nhược Thị [Bích] có thể biết đúng sự thực theo cái quan điểm của người ḿnh bấy giờ” [!] [nhấn mạnh – TXA.]. (HTC., lời tựa Trần Trọng Kim, sđd., tr. X). Nhận định ấy, phải nói là sâu sắc: nhận thức sự thật lịch sử theo lăng kính riêng và lăng kính thời đại phong kiến. Theo Trần Trọng Kim, đó là quan điểm (:lăng kính) bảo hoàng. Ông ta cũng tŕnh bày rơ, bản HTC. ông t́m được đă bị chép lại và chép sai nhiều chỗ. Trong lời tựa và ở phần chú thích, Trần Trọng Kim bị sức ép lộ liễu hoặc ngấm ngầm của cường quyền thực dân, nên đành phải cố t́nh xuyên tạc thêm. V́ thế, ít nhiều đă rơi vào mục đích “đập tan tành” uy tín Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, theo ư đồ của thực dân Pháp, tả đạo. Do đó, trừ đi mấy chỗ ấy, c̣n lại, những đoạn HTC. khẳng định nét tích cực (yêu nước, chống Pháp đến cùng …) của Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đă trở thành vô cùng giá trị, đạt mức xác tín cao. Và cũng với mức xác tín cao như vậy, đoạn HTC. viết về âm mưu của Rheinart và Hồng Hưu trong cái chết của Kiến Phúc (HTC., sđd., tr. 31 – 34). Xin xem kĩ ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 176 – 177.


Cần nói thêm: Trần Trọng Kim ít nhiều có tinh thần dân tộc, chống Pháp. Trong thời bị Pháp đô hộ, ông ta chỉ là một nhà giáo, học giả. Đến thời phát xít Nhật xâm lược, Trần Trọng Kim mới … “bị mời” làm thủ tướng!”.


(Trần Xuân An, “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), một người trung nghĩa”, bài “Bi kịch ở đỉnh điểm mâu thuẫn và sự chiến thắng của nhóm chủ chiến yêu nước triều đ́nh Huế”:

http://tranxuanan-nvtnntnghia.
blogspot.com/
).


Trong "Hạnh Thục ca", ở những đoạn cuối, mới phần nào khẳng định được nhân cách và thái độ, ư thức chính trị chống Pháp, chống bọn tay sai của Nguyễn Văn Tường:


Pháp nhân [= người Pháp] lập ước hội đồng

Những điều lấn hiếp khó ḷng y theo

Văn Tường chẳng khứng thuận chiều

Trái t́nh, Hữu Độ mượn điều Bắc quy”

(HTC., sđd., tr. 48).



Điều quan trọng nhất, có lẽ là ta đừng bao giờ mắc mưu của bọn xấu, chuyên xuyên tạc, bôi nhọ v́ mục đích chính trị xâm lược bằng cách trích dẫn tràn lan tác phẩm của chúng, hoặc sử dụng tư liệu có xuất xứ là các tác giả vô t́nh mà trở thành cây bút xấu (viết trong ṿng vây của thực dân, tả đạo chẳng hạn). Ta cứ trích dẫn như thể liệt kê mà không hề thẩm định khảo chứng các nguồn tư liệu ấy, làm như ta khách quan, trung lập, vô tư, nhưng thực chất là ta ngây thơ! Tôi đă từng viết để đối thoại với một người, đại để, ví dụ ở đây: Lê Tiến Công không bao giờ “đạo văn” (xin lỗi Lê Tiến Công, khi ví dụ như thế), nhưng có một bài báo vu khống Lê Tiến Công như vậy; vậy th́ khi viết tiểu sử Lê Tiến Công, ta có trích dẫn bài báo đó hay không? Trích dẫn bài báo ấy là mắc mưu chúng!


Trong luận văn của Lê Tiến Công, bản anh gửi cho tôi đọc vào ngày 16-3-2005, có đoạn anh trích một câu của một tác giả kinh điển Marxiste (tôi viết hoa): ““Trong mọi vấn đề thuộc khoa học xă hội học, phương pháp chắc chắn và cần thiết để thực hiện [là – ct.] có được thói quen đề cập vấn đề một cách đúng đắn và
không bị sa đắm vào rất nhiều chi tiết hoặc nhiều ư kiến đối lập nhau (nhấn mạnh – TXA.). Điều kiện quan trọng nhất của sự nghiên cứu khoa học là không nên quên sự liên hệ lịch sử, căn bản là nhận xét vấn đề theo quan điểm sau đây: Một hiện tượng nào đó đă xuất hiện trong lịch sử như thế nào, các giai đoạn phát triển của nó là ǵ, [mà??? / và] đứng trên quan điểm của sự phát triển [về quá tŕnh phát triển – ct.] của nó để xem xét hiện nay hiện tượng đó đă trở nên như thế nào” [41, 512]” (thứ tự tư liệu tham khảo: 41: Các Mác – Ăngghen, Chủ nghĩa Mác, NXB Sự Thật, H. 1970, tr. 512).


Tôi nhận thấy chúng ta cần phải tỉnh táo như thế: “đề cập vấn đề một cách đúng đắn và
không bị sa đắm vào rất nhiều chi tiết hoặc nhiều ư kiến đối lập nhau” (nhấn mạnh – TXA.) [*]. Những câu hỏi muôn thuở, muôn nơi của người nghiên cứu vẫn là: Who? What? When? Where? Why? How?. Lê Tiến Công có dùng thuật ngữ: phương pháp lịch sử; anh c̣n nhắc đến phương pháp lô-gic, và phương pháp cụ thể hơn: đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp tư liệu; nhưng quên một thuật ngữ chính xác hơn: khảo chứng tư liệu, trong đó có phân loại tư liệu; và cần thiết phải diễn đạt rơ hơn nữa: quan điểm về sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong mối tương tác với các sự vật, hiện tượng khác; quan điểm lịch sử - cụ thể, cái nh́n bao quát cả bộ phận lẫn toàn cục



Và về tư liệu gốc, mong Lê Tiến Công đừng quên
bản án chung thẩm cực ḱ quan trọng, do ngụy triều Đồng Khánh kết án nhóm chủ chiến (có chữ kí của De Courcy), và chúng đă thi hành án này đối với Nguyễn Văn Tường:


“Tôn nhân phủ và đ́nh thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ đă quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, th́ Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và chém ngay, để tỏ rơ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo”. (ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 35).


Hai điều nhỏ cuối bài, xin được góp ư với Lê Tiến Công:


+++ Ngày tháng lịch sử trong luận văn của anh không được chính xác lắm, như thể anh đă vô t́nh viết sai hẳn hoặc gơ phím nhầm quá đáng.


+++ Với các trích đoạn tư liệu, rất cần thiết phải kiểm tra lại kẻo bị thiếu sót hoặc bị sai chính tả, nghiêm trọng nhất là bị sai chữ (chữ “tác” thành chữ “tộ”).


Và tôi tạm ngừng bài viết ở đây. Mong Lê Tiến Công đọc kĩ những cuốn sách, bộ sách tôi viết về đề tài “nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) trong bối cảnh nửa sau thế kỉ XIX” và đă xuất bản bằng h́nh thức sách in giấy, sách điện tử. Xin đọc thật kĩ và đối chiếu từng chi tiết
[**]. Tôi tin rằng Lê Tiến Công sẽ chỉnh lí lại luận văn của anh, để luận văn ấy trở thành một cuốn sách hẳn hoi.


Mong rằng bài viết này cũng là một kỉ niệm của chúng ta.


Từ khoảng 8 giờ sáng đến 16 giờ 28’,

thứ năm (thứ sáu cũ), 24 - 11 HB6 (2006)

Trần Xuân An


& 6 : 35, 25 - 11 HB6 (2006).

 

 

___________________

 

 

[*] Ở đây, xin hiểu ư tưởng "không bị sa đắm vào rất nhiều chi tiết hoặc nhiều ư kiến đối lập nhau không có nghĩa là phủ nhận các thông tin, các nhận định có nhiều xuất xứ khác nhau trên cơ sở tôn trọng tối đa sự thật lịch sử. Một khi đă tôn trọng tối đa sự thật lịch sử (bao gồm sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử), các chi tiết và các ư kiến mặc dù đối lập nhưng về cơ bản tất nhiên là thống nhất với nhau. Ư tưởng của câu trên chỉ diễn đạt các chi tiết và ư kiến đối lập trong mâu thuẫn đối kháng, quyết tiêu diệt nhau. Các chi tiết và ư kiến nảy sinh từ mâu thuẫn đối kháng thường là xuyên tạc, chụp mũ, bôi nhọ bất chấp sự thật lịch sử, và càng nguy hiểm hơn, nếu các chi tiết và ư kiến ấy được bịa ra, lại được biểu đạt với các thủ thuật, thủ đoạn tinh vi trong kĩ xảo tuyên truyền (văn chương, h́nh ảnh...). V́ thế, vấn đề đặt ra một cách khoa học và nghiêm cẩn là phải khảo chứng tư liệu, trên cơ sở phân loại tư liệu, trong đó có cả việc loại bỏ những tư liệu giả, xuyên tạc, bôi nhọ, xuất phát từ tâm thế chính trị hay do mục tiêu chính trị, và tư liệu được viết ra bởi những người vô t́nh bị mắc mưu tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ. Cố nhiên việc loại bỏ các thứ tư liệu loại ấy phải được công bố rộng khắp. Ngay trong thư mục tham khảo, nó cũng cần phải được ghi chú rơ ràng để người đọc khỏi bị vướng mắc vô lối.

11 : 15' & 14 : 18', thứ nhất (thứ hai cũ), ngày 27-11 HB6
[7-10 Bính tuất HB6].
TXA.

 

 

[**] Có thể v́ điều kiện thời giờ eo hẹp, khó có thể đọc hết và đọc thật kĩ tất cả những cuốn sách, bộ sách tôi đă viết về đề tài này để đối chiếu. V́ vậy, vui ḷng lưu ư bài viết cơ bản và quan trọng nhất:

 

NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886)
VỚI NHIỆM VỤ LỊCH SỬ
SAU CUỘC KINH ĐÔ QUẬT KHỞI (05 - 7 - 1885)


Trân trọng & thành thật cảm ơn.

28-11 HB6 (2006)

[08-10 Bính tuất HB6]

 

 

[***] Thật ra, Lê Tiến Công  đă có bài viết:

PV (Lê Tiến Công),

BỘ TRUYỆN - SỬ KƯ - KHẢO CỨU TƯ LIỆU LỊCH SỬ

"PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886)"

Tạp chí Huế Xưa & Nay

số 68 (3 – 4) 2005

mục Thông tin lịch sử – văn hoá Huế, tr. 103 – 104:

http://tranxuananpcdtnvt4c.blogspot.com/

 

 

 

 

Thử nghiệm CÁCH TR̀NH BÀY  /  11-12 HB6

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÂN THÀNH CẢM ƠN 

Docs.Google.com / HOST, 1asphost.com / HOST

& Yahoo, MSN. search

Nobody have permission for editting this document.  

 

_________________________________________________________________________________________________

Trở về

trang bài mới -- sách mới -- tin tức mới: 

 

http://tranxuanan.writer.2.googlepages.com/baimoi-sachmoi-tinmoi-1.htm

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/baimoi-sachmoi-2

 

trang "Những trang mục trên 'Web Tác giả Trần Xuân An'":

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/webtacgiatranxuanan

 

trang chủ "Web tác giả Trần Xuân An":

 

http://tranxuanan.writer.googlepages.com

 

hidden hit counter

Google page creator  /  host

DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE  
 

    lên đầu trang (top page)