author's

copyright

trần xuân an

ngẫu hứng đọc thơ

phê b́nh thơ

Nxb. Văn Nghệ TP.HCM., 2005

05/01/07

 

 

Bài 1

 

Bài 2

 

Bài 3

 

Bài 4

 

Bài 5

 

Bài 6

 

Bài 7

 

Bài 8

 

Bài 9

 

Phụ lục 1

 

Phụ lục 2

 

                             

        

   Bài 4

 

ĐỌC THƠ PHAN VĂN QUANG                                                

 

1

Hồi c̣n là sinh viên, bên một vài quầy báo ở Huế, tôi đă đọc loáng thoáng thơ t́nh Phan Văn Quang trên những tạp chí văn nghệ được ấn hành tại Sài G̣n. Sau Ngày Thống nhất khoảng hơn hai năm (vào đầu học ḱ 2, năm học 1977 – 1978), trên một chuyến xe khách từ Đông Hà vào Huế giữa đợt thực tập sư phạm, tôi không ngờ người ngồi cách ḿnh không xa, lớn hơn tôi khoảng sáu, bảy tuổi, chính là anh. Hẳn anh có một vài người em, người cháu học ở Trường Cấp III Đông Hà, nên qua đó, Phan Văn Quang biết tôi, và anh ngỏ lời chào.

Có thể gọi đó là một chút cơ duyên văn nghệ.

Măi đến khi Phan Văn Quang đảm trách công việc phát hành tạp chí của toà soạn Cửa Việt, tại Thành Cổ, thị xă Quảng Trị, tôi mới có dịp cùng anh thân quen, nhất là những dịp anh vào Hải Lăng, một huyện gần đó.

Đúng như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường giới thiệu ở đầu tập thơ riêng Ta ôm một nửa đời luân lạc: “Phan Văn Quang là một nhà thơ thuộc ‘trường phái phong trần’ kia mà tôi may mắn được đánh bạn trong những ngày trở lại cố hương; gương mặt ch́ bởi nhiều màu nắng, áo cũ bởi nhiều bụi đường, và thơ mang không gian rộng của những phương trời”; “Đọc tập thơ đầu tay của Phan Văn Quang, dù mỏng thôi, tôi tin anh là thi sĩ” (1).

Chất thi sĩ của Phan Văn Quang chỉ có thể nhận biết lúc đọc thơ anh, và đặc biệt là lúc nghe anh đọc thơ. Giọng nói anh thường khi là khá nhanh, nhanh đến nỗi nuốt chữ, ngỡ như anh luôn luôn tất bật, hối hả đến hụt hơi, nhưng giọng đọc thơ của Phan Văn Quang lại trầm lắng, da diết.

Đọc thơ của một người thơ dám bảo với cuộc đời như tự nhủ với trái tim ḿnh rằng, Ta ôm một nửa đời luân lạc, tôi không thể không nhận ra ḷng yêu đời của Phan Văn Quang, cho dù nửa cuộc đời anh trải qua là trôi nổi, ch́m đắm.

Tôi không nghĩ điều cảm nhận đầu tiên đó chỉ là ấn tượng về một con người mà tôi được quen thân, nhiều lần gặp gỡ, chuyện tṛ, trà rượu, ngâm hát, rong chơi. Không, điều đó thể hiện rất rơ ngay trong chính hai tập thơ anh đă xuất bản (2).

Phan Văn Quang là một nhà thơ thuộc “trường phái phong trần”, vất vả, cực nhọc suốt “một nửa đời luân lạc”. Đúng vậy, cho dù phải trải qua “một nửa đời luân lạc”, anh vẫn muốn thiết tha ôm gh́ lấy quăng đời ấy, không chối từ, phủ nhận nó bao giờ. Anh đă viết: “Bạn tôi nói: dù nghèo đói mấy cũng đừng chê đời. Vợ tôi nói: dù nghèo đói cũng đừng xa nhau. Con tôi nói: dù nghèo đói cũng đừng bỏ con. V́ những lẽ đó tôi đă làm thơ và sẽ măi măi làm thơ” (3). Ngẫu nhiên trùng hợp, Phan Văn Quang không chỉ yêu đời như một quan niệm của Hermann Hesse, một nhà văn Đức từng đoạt giải Nobel văn chương: “Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này” (4). Ở Phan Văn Quang, không có sự đổ vỡ tan hoang, trầm trọng về niềm tin vào cuộc đời, về lí tưởng, lẽ sống, hệ giá trị như Hesse và thế hệ nhà văn Đức, Phương Tây, sau Đệ II Thế chiến. Ở anh, anh cũng như bạn anh, ḷng yêu đời trong cơ cực được diễn đạt là “đừng chê đời”, chứ không phải là đừng chán đời (đừng yếm thế) – hai chữ “chán đời”, thường thấy trong thơ sĩ phu Đàng Ngoài ôm mối hận “phù Lê” như Phạm Thái (thời Quang Trung), Cao Bá Quát (thời Tự Đức)… Thơ Phan Văn Quang ngoài ư thức và tâm niệm “đừng chê đời”, c̣n thể hiện t́nh nghĩatrách nhiệm trong hoàn cảnh nghèo đói, mặc dù anh chỉ dám khiêm tốn gói gọn trong chức năng người chồng, người cha, và cao quư hơn thế, là người thơ.

Yêu đời, t́nh nghĩa và trách nhiệm, cho dẫu cơ cực, phải chăng là những nét chủ đạo trong hai tập thơ Ta ôm một nửa đời luân lạcMưa nắng quanh đời?

 

2

Thật ra, Phan Văn Quang không viết nhiều về những cơ cực, khốn khổ của suốt nửa cuộc đời nổi trôi, ch́m đắm. Trong hai tập thơ, chỉ nổi lên một tứ thơ gây cho tôi cảm giác gần như ớn lạnh ở một bài thơ rất ngắn. Tôi nghĩ, phải đau đớn đến quằn quại và ư thức sâu sắc về nỗi đau ấy, Phan Văn Quang mới có thể viết Bong bóng bay, cái đầu đề cứ ngỡ như trong ngần niềm vui thơ dại.

Sân bóng loạn chân người

Tung những đường banh hồ hởi

Chiến thắng thuộc phần ai?

Không khí căng lồng ngực

Vỏ da nào bọc lấy thân tôi?

 

C̣n phút nao ḷng

Sân xanh sang màu tím

Người chạm người

Chân ứa máu

Tôi mơ thành bong bóng bay (5).

Đây là bài thơ không chỉ độc đáo và sâu sắc ở tứ thơ, không chỉ khắc ngay vào ḷng người nhờ tứ thơ, mà cả ngôn từ cũng rất ấn tượng, mặc dù rất dung dị một cách sinh động. Nửa cuộc đời luân lạc, lăn lóc, như quả bóng trên sân cỏ cuộc đời, bị những cầu thủ của hai đội tranh đoạt để đá bật, đá ṿng, sút, lừa, đạp; nếu có dùng đầu thay chân th́ cũng là một động tác đánh, húc. H́nh ảnh quả bóng cho dù được khắc chạm vào cúp hoặc cúp được đúc theo h́nh ảnh quả bóng, th́ vinh quang chiến thắng cũng thuộc về cầu thủ chứ chẳng thuộc về nó. Quả bóng chỉ là phương tiện của cầu thủ! Và nếu mươi lần “người chạm người, chân ứa máu”, th́ hẳn quả bóng c̣n bầm dập muôn vạn lần hơn thế bởi hàng vạn, hàng vạn cú đá, cú húc. Không có thân phận nào bi thảm như thân phận quả bóng. Phan Văn Quang ư thức được thân phận ḿnh giữa đời một cách bi thảm. Nhưng viết về niềm bi thảm, thơ anh vẫn cứ như không, không có ngôn từ thảm thiết, cay đắng, mà tự thân h́nh tượng – tứ thơ trong trọn bài thơ thể hiện ra, tạo nên một hiệu quả sâu, mạnh.

Ở câu kết là cả một khát vọng hoá thân, khát vọng đổi đời, khát vọng thoát kiếp, chính xác hơn là khát vọng được trở về với tuổi thơ với ước mơ bay cao giữa trời bát ngát, lồng lộng và khoáng đạt, cho dù chỉ bay bổng vài giờ ngắn ngủi, bong bóng bay cao mơ ước giữa trời kia rồi sẽ x́ vỡ, rơi rụng. Chính khát vọng được đào thoát khỏi thân phận, “trốn” về với tuổi thơ, khiến người đọc trào nước mắt.

Bong bóng bay là bài thơ cực ḱ hàm súc, mộc tân thức (modern-style). Tôi cho rằng, đó là tuyệt tác của thơ Phan Văn Quang. Rất tiếc phong cách chủ đạo của thơ anh không phải thuộc thi pháp ấy.

H́nh như trước khi đi đến ư thức bi đát về thân phận đó, người thơ Phan Văn Quang phải trải qua những giờ phút, những ngày tháng đối diện với chính ḿnh. Anh không là Narciss, tự say mê bóng ḿnh. Anh không hẳn là Bồ Đề Đạt Ma, chín năm đối diện với bức vách để suy ngẫm, t́m ra bổn lai diện mục. Hẳn tâm thức anh cũng không như một nhà văn nữ xứ Huế Tuư Hồng vốn nổi tiếng về bút pháp táo bạo, có một lần “tôi nh́n tôi trên vách”. Nhưng ai lại không có lần phải nh́n lại chính ḿnh, soi rọi vào tận cơi sâu thẳm nhất của ḿnh, theo cách của ḿnh! Và vấn đề là ở đó: theo cách của riêng ḿnh.

Phan Văn Quang không thuộc vào phân số người trong xă hội Việt Nam trải qua những cơn băo táp cách mạng và băo táp đổi mới trong tâm thức chăng? Tôi không tin vậy. Người thơ này đă từng Hoang mang, trong một khu rừng sâu, bên bờ suối vắng, để đối mặt với chính ḿnh, với cung cách rất Phan Văn Quang:

Bên suối lặng ḿnh soi đáy nước

Trong trời chiều sinh động hai ta

Bóng nh́n ta và ta nh́n lại

Giữa thinh không hai đứa khóc oà (6).

“Trong trời chiều sinh động (? sinh – động? sinh – đọng? sánh, đọng?) hai ta”. Chữ không diễn đạt được ǵ, chỉ là chữ thừa. Tôi ngẫm nghĩ, có thật hai chữ “sinh động” này đă rất thừa, và làm hỏng một bài thơ tuyệt hay? Nhưng dẫu sao, nh́n trên tổng thể, bài thơ bốn câu Hoang mang rất hay này đă thể hiện được tâm trạng của một người vốn không có ư định chủ động đối diện với chính ḿnh, mà chỉ là lúc t́nh cờ “soi đáy nước”, bất giác thấy bóng ḿnh nh́n ḿnh, và anh nh́n lại bóng. Người cùng bóng người nh́n nhau, cùng bật oà ra tiếng khóc trong niềm hoang mang. Thật ra, người thơ tự khóc oà về ḿnh đó thôi, sau nhiều tháng năm không một lần nào có dịp soi gương ngắm lại ḿnh, chợt thấy ḿnh già đi, gầy khô, hốc hác hẳn đồng thời đă vong thân (tha hoá), trót mang “khuôn mặt người khác” như một nhân vật Nhật Bản của Kôbô Abê (Kobo Abé) (*), hoặc tha hoá như h́nh tượng tên lính phát xít Đức “lạc lối về”, Henrich Boll (**) đă khắc hoạ.

Đó phải chăng là lúc Phan Văn Quang nhận ra ḿnh, ở một bài thơ khác (Theo chim về biển), và người thơ rong ruổi cùng cánh chim nào về với cát trắng, sóng biếc, “chim bay về từ những đồi hoang / chiều lên xanh hồn ta một cơi / trong nửa đời c̣n nặng hoang mang”. Nhưng rốt cuộc, anh vẫn rơi vào tâm trạng bi kịch khác, mặc dù nhận thức rơ về thực trạng của ḿnh hơn: “đánh mất nửa đời không vốn liếng / như tuổi vàng mất biệt tăm hơi / chiều nay trên rừng ta khản giọng / hiu hắt ḷng – rượu uống mềm môi” (7).

Hoang mang là trạng thái không thể định hướng, không phân biệt được chân – giả. Nhưng ở Phan Văn Quang, đó không phải là tâm trạng thường trực. Anh t́m cách hoá giải sự khủng hoảng trong tâm thức ḿnh, chỉ bằng một chút thiền, chút vô vi bất nhi bất vi trong một công việc b́nh thường, giản dị nhất:

Bồng cháu chú chạy khơi khơi

Bé cười làm thẹn biển trời xanh lơ

Ồ! Một điều rất trẻ thơ

Mà ta xuôi ngược bơ phờ tóc râu.

                                       (Trẻ thơ (8))

Nụ cười trẻ thơ hồn nhiên làm xấu hổ cả đất trời hồn nhiên, đối với Phan Văn Quang lúc ấy, là cả một chân lí cuộc sống lớn lao, sâu thẳm mà vô cùng đơn giản.

Cuối cùng, Phan Văn Quang nhận ra một nẻo đường dấn thân, tích cực hơn. Bài thơ có nhan đề được chọn làm tên cho cả tập, Ta ôm một nửa đời luân lạc, tuy vẫn c̣n hằn nỗi cuồng ca, “thấp thoáng ngoài khơi thuyền ngược sóng / trong này ta cất giọng cười khan”, nhưng đă hi vọng, “có mở được ḷng xưa khuất lấp”, cho dù “trăng yên mây kín tự bao giờ”. Ấm ḷng thay, khi anh t́m ra hạnh phúc ngỡ đă mất:

Nhớ thuở xa người – xa rất mực

Chớm xuân tin trổ ngọn bên đồi

Áo xưa trăng loăng ngời như lụa

Thấy ḷng phai giữa bóng trăng phơi

 

Đôi lần ghé thăm người em gái

Thiếu nữ thương ta, ta rất thương

Hạnh phúc nào xanh ḷng luân lạc

Khi trăng về ngủ muộn cuối đường (9).

Ngay cả những lúc cơ khổ nhất, anh vẫn có một ư thức trách nhiệm, và cũng may mắn thay, lại là trách nhiệm trong t́nh yêu đương, hạnh phúc. Kỷ niệm rừng sáng bừng một trời tươi sáng:

… Sau ba ngày mưa dầm

        hôm nay trời thơm nắng

Anh lên rừng hái củi

        cùng t́nh yêu em rực rỡ trong ḷng

Bài hát hôm qua ngân dài núi đồi

                                     mênh mông

Ồ lá và hoa thi nhau hoà với chim với suối

Mo cơm, túi nước ngất ngưỡng trên vai

                   theo chân anh bước đuổi… (10)

Bài thơ viết dưới chân thành cổ cũng thể hiện điều đó với tất cả sự chắt chiu, trân trọng, tŕu mến:

Thoang thoảng hương đời thơm tóc em mùi cốm

Thiết thực vô cùng anh làm việc hăng say.

Ngôi trường thơ ấu, chừ ngói đụn rừng lau

Anh mở ḷng theo mười ngón tay mau

Ở nơi này cũng c̣n ít nhiều viên gạch tốt

Mồ hôi thấm hai lần áo trong ngày nắng đốt

Anh nghĩ xây dựng quê hương

           cũng từ những điều nhỏ nhặt vô cùng

Vài viên ngói cũ sẽ đậm màu ngôi trường mới

Trong bữa cơm chiều nay

Có mẹ già và em trai c̣n đi học

Anh miên man nói chuyện ngày mai

Chắc như bắp, như một cộng một là hai

Gạo sẽ có, ḷng sẽ vui, bàn tay này cày cấy

Từng giọt mồ hôi từng hạt giống tương lai (11).

Tôi không rơ những nỗi đau trong nửa đời luân lạc có lần suưt quay về làm quằn quại ḷng anh, lần ấy xảy ra vào thời điểm nào. Lúc anh đă hạnh phúc? Lúc anh c̣n cơ khổ? Chắc chắn ấy phải là những tháng ngày cho dù có hạnh phúc nhưng chưa thật ổn định trong công việc làm ăn kiếm sống. Bấy giờ, Phan Văn Quang vẫn c̣n lặn lội giữa rừng hoang nước độc, t́m miếng ăn cho ḿnh, cho con, dẫu biết “ăn của rừng, rưng nước mắt”. Đây là h́nh ảnh một toán “ngậm ngải t́m trầm” hay “đăi cát t́m vàng” một thuở khó khăn chung:

“Trải chiếu giữa sàn / Mưa chém vào phên nứa / Chai rượu đứng nghiêm chào những người bạn cũ / Đĩa mồi mấy con mực nằm nghiêng / Xưa như trái đất vẫn c̣n thằng áo rách / Manh chiếu lủng tṛn thành chiếc mâm / Lúc nhúc những chiếc li cụng vào đêm sâu / Vỡ mặt – tháng năm dài /  Niềm vui vô t́nh lấp sau liếp cửa / Sợ chạm phải nỗi đau xưa… // Ngoài hiên, mưa / Chiếc dép, chiếc giày ngả nghiêng bên vệ cỏ / Ngủ say”

                                                                     (Tĩnh vật sống (12)).

Dăm bảy năm nay, Phan Văn Quang cũng thôi làm công việc phát hành ở toà soạn tạp chí Cửa Việt, anh cùng vợ mở quán cháo bột cá tràu (cháo bánh canh cá lóc) ngay tại nhà ở thị xă Đông Hà. Có lẽ thời đoạn này là thật sự ổn định, ổn định nhất trong đời anh. Tuy vậy, là một nhà thơ, anh không thể ngủ vùi trong sự yên ổn đó – sự yên ổn có thời Chế Lan Viên đă phê phán, “một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn”.

Ở tập thơ thứ hai, Mưa nắng quanh đời, có bài vẫn chứa chất một nỗi suy tư, thao thức và trăn trở, nhất là niềm tự vấn của người cầm bút, vốn được tôn vinh là dám mang thiên chức chứng nhân của thời đại. Đó là nỗi niềm ở một ngày mùa xuân, khi chợt nhớ thi sĩ Phùng Quán chăng?

“Vắt cạn kiệt bă cơm / từ hạt gạo tháng mười / Chắt mạch nước đỏ bùn phèn váng vất / Khơi chút lửa / chuốc men nồng lên mắt / Trước ngày xuân ngồi lại tự vấn ḿnh // Rượu đầu môi sẽ là phút lặng im / Thiếu vắng quá tiếng chim đầu núi / Đêm sâu thẳm níu v́ sao chợt tắt / Ngă ḷng đời, chạm mặt những vần thơ // Uống rượu làng với chân dung người xưa / Tâm đựng phải nỗi ḷng cay cực / Xin cạn chén phơi bày ḷng chân thật / Hẹn một ngày / tưới rượu xuống Hồ Tây”.

                                                 (Uống rượu với chân dung Phùng Quán (13))

Nhân Ngày Thương binh – liệt sĩ 27. 7. vào năm 1997, Phan Văn Quang có dịp ra Hà Nội, anh viết về một liệt sĩ của thi ca, một đời anh kính mến, ngưỡng vọng:

Ngắm sóng Hồ Tây, Hà Nội phố

Rưng ḷng tưởng nhớ một nhà thơ.

                          (Lang thang chiều Hà Nội (14))

Tâm hồn thơ Phan Văn Quang không “chê đời”, như bạn anh nói và anh xem như tâm nguyện của chính anh, cho dù phần số anh vất vả, long đong, cơ cực, chỉ mới thư thả trong dăm bảy năm gần đây về cơm áo. Tôi không nghĩ Phan Văn Quang sống theo triết thuyết “an bài định phận”, mà anh cố sống “an bần lạc đạo”, v́ cái chí của nhà thơ đâu phải là miếng cơm manh áo, cho dù một thi sĩ tiền chiến đă viết, “cơm áo không đùa với khách thơ”, và ở đây, “lạc đạo” là vui với “Thi đạo”. Phùng Quán, thi ca và Cḥi Ngắm sóng của ông không phải là biểu tượng về một liệt sĩ của thơ ca (dám sống v́ thơ, dám chết cho thơ, chung quy chính là sống chết v́ nhân dân, đất nước), trong thơ Phan Văn Quang đó sao!

Nhưng giữa ḷng kính yêu, ngưỡng vọng Phùng Quán và dám sống chết như Phùng Quán là cả một khoảng cách rất rộng. Điều đó, hầu như đối với ai cũng vậy. Có phải vậy không, anh Phan Văn Quang thân mến?

 

3

Nhà thơ Phan Văn Quang của Quảng Trị gió nóng, xương rồng, cát trắng không chỉ thế. Ở anh, c̣n phần tâm hồn thơ của nỗi ngậm ngùi, thương nhớ kỉ niệm, của những nét đẹp buồn. Có một chùm thơ anh in ở cả hai tập! Phải chăng đó là những bài anh yêu nhất, tuy có bài chưa hẳn là hay nhất?

Quả thật, Tháng sáu Pleiku là một bài thơ đẹp, đẹp và buồn, cái buồn rất đẹp. Đó là một phần trong tuổi trẻ luân lạc Phan Văn Quang.

“Ở Pleiku trời như sương khói / Áo màu xanh, xanh lá ven đường / Ta cũng thấy má người au đỏ / C̣n tóc chừng ngai ngai mùi hương / / Nhà em đầu, nhà anh cuối phố / Mà mấy khi đều đặn t́m nhau / Ḱa nhà em bông chi ngoài ngơ? / Ngập ngừng ḷng quên bỏ lại sau // Em yên ổn quanh đời che chở / Khoảng vườn xanh, cửa thép im ĺm / Một cây thông già lêu nghêu đứng / Chiều nay thêm một bóng lặng thinh // Ở Pleiku buồn khi đêm xuống / Nghe rất thèm một mái nhà êm / Nghĩ rằng ở đây hoài cũng lạnh / Ta về buồn ấp ủ hơi đêm // Tháng sáu Pleiku đầy hơi nước / Ta lang thang như kẻ cùng đường / Mới biết ta có thời tạo nghiệp / Ở Pleiku – t́nh tan như sương” (15).

Đọc thơ Phan Văn Quang, Tháng sáu Pleiku, tôi hiểu thêm vẻ đẹp của nỗi buồn trong veo, tôi chợt ngộ ra một điều giản dị mà sâu sắc nhất của lẽ đời: Trong hoàn cảnh nào đi nữa, ḷng người vẫn c̣n có thể phát hiện, bắt gặp, trải nghiệm cái đẹp buồn, cái buồn đẹp, có khả năng làm thăng hoa trái tim người, vốn tiềm tàng trong cuộc sống, ngay cả trong cảnh nổi trôi, ch́m đắm, cơ cực và bị đẩy vào t́nh trạng “đau đớn đến quằn quại”, nói như Hermann Hesse, nhà văn Đức.

Ngậm ngùi rời Huế cũng in hai lần ở hai tập. Bất ḱ ai cũng không thể không bâng khuâng, rưng rưng cảm động khi đọc, như thể đọc lại kỉ niệm của chính ḿnh:

“Ở đây ta buồn và mây thấp / Như sân ga lặng lẽ mưa về / Nặng t́nh – Huế cho người đưa tiễn / Nặng ân – ta có hẹn quay về // Ra đi răng nghe ḷng nằng nặng / Trong mắt em ủ kín một đời / C̣i hụ, tàu lên đường tháng chạp / Huế th́ mưa bát ngát đất trời // Nh́n em qua chiều không rơ mặt / Làm răng ta khỏi nhớ trời mưa / Có em đứng buồn như cây rũ / Nghe trong ta t́nh đă giao mùa // Huế ơi qua được bao mùa bướm / Bướm bay loáng thoáng những con đường / Văng (***) đường tan trường nhiều con gái / Văng hồn em trong Huế tang thương // Ra đi c̣n nhớ đ̣ Thừa Phủ / Nhớ sông Hương mưa trắng một ḍng / Gửi lại em người t́nh thơ dại / Trọn một đời hoa bướm thong dong” (16).

Hoá ra, thơ với những suy nghĩ, cảm xúc đẹp dung dị, với một hệ ngôn từ, nhạc điệu đẹp đơn sơ, lại thấm thía vào ḷng đến thế.

Đúng ra, nh́n trên tổng thể, thơ Phan Văn Quang thiên về khuynh hướng thẩm mĩ thi ca này (chứ không phải khuynh hướng thẩm mĩ thi ca “đời”, “phong trần” – gió bụi), tuy có nhiều bài chưa đạt như thế hoặc ở những cung bậc khác. Chưa đạt như thế là hạn chế, nhưng ở những cung bậc khác lại là sự đa dạng, phong phú của một phong cách thơ.

Kể thêm về khuynh hướng này, Phan Văn Quang c̣n có nhiều bài khá hay. Trong đó, có hai bài thật sự có tứ: Con c̣ng bướng bỉnh của tôi ơi! (17), Cơi riêng (18).

 

4

Một cách đương nhiên, thơ Phan Văn Quang đă làm phong phú thêm nền thi ca Quảng Trị vốn chưa phải là đă có bề dày, tuy có những đỉnh cao ṿi vọi (thơ Chế Lan Viên chẳng hạn). Trong công cuộc Đổi mới gần hai thập niên qua, cũng như tại các tỉnh khác trong nước, ở Quảng Trị đă xuất hiện hoặc xuất hiện lại những nhà thơ thuộc về nhiều hoàn cảnh, số phận khác nhau. Nhờ vậy, nền thi ca Quảng Trị và nói chung, thi ca Việt Nam, thật sự thoát khỏi “nền văn học quan phương” đơn thuần, hoặc như ai đó đă mỉa mai phát biểu: thoát khỏi “nền văn học cán bộ” đơn điệu, duy nhất một “chuẩn mực”. Và cũng nhờ vậy, thơ dần dần tiến đến một chân lí vốn được đúc kết, tôn vinh tự bao giờ trong sách giáo khoa và trong xă hội: Văn chương nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng, là tấm gương phản ánh trung thực xă hội, thời đại, theo cách của nó. Thơ Phan Văn Quang phản ánh được những “góc nhân dân” nhưng thật ra rất tiêu biểu, rất điển h́nh, bên cạnh những ǵ tiêu biểu, điển h́nh khác, có thể gọi là các “góc chính thống”, của Quảng Trị và của cả nước ta.

Đọc thơ Phan Văn Quang, tôi cảm nhận được một tâm hồn thơ, h́nh dung được một người thơ chỉ có thể xuất hiện ở thời đoạn lịch sử trước và sau ngày sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, sông và cầu Thạch Hăn bị chia cắt, lại được nối liền, cho đến hai thập niên Đổi mới. Thiếu đi một nhà thơ Phan Văn Quang là cả một thiếu sót không ǵ bù đắp được.

Có một Phan Văn Quang như thế trong thơ, và rất nhiều Phan Văn Quang như thế trong đời. Thơ Phan Văn Quang đă nói lên bao tâm trạng, nỗi niềm, thay cho rất nhiều Phan Văn Quang thầm lặng khác. Nếu không có Đổi mới (công cuộc Đổi mới cần phát huy mặt tích cực), thơ ca sẽ nghèo nàn, đơn điệu biết bao, và “thơ ca như một tấm gương phản ánh trung thực xă hội, thời đại” cũng khiếm khuyết biết bao!

Nhà văn và cũng là nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đă viết về Phan Văn Quang: “Thi sĩ là người duy nhất trên đời biết ‘cảm ơn sương mù’. Tôi th́ cảm ơn Phan Văn Quang, đă lưu ư về những ǵ tôi đă có, đă hờ hững quên, và bây giờ t́m thấy lại” (19). Tôi thấy cần viết thêm về anh như đă viết, bởi “sương mù” không phải là tất cả Phan Văn Quang. Qua thơ anh, tôi thấy sáng lên chất “đời”, chất “sử”, một thứ ghi chép xă hội học, sử học sống động về một phân số nhân dân – xă hội, về một địa phương đất nước – thời đại, mà chỉ có thơ ca mới có thể phản ánh được, theo cách của nó (bao gồm cả yếu tố chủ quan, cá nhân, cảm tính). Đó là xă hội, lịch sử qua tâm trạng thi ca của một con người chỉ hiện hữu ở một vùng đất, một thời đại nhất định. Nói như thế, không có nghĩa thơ Phan Văn Quang là thơ ca kí sự! Không, Phan Văn Quang là nhà thơ Quảng Trị trữ t́nh đích thực, đúng nghĩa.

Tôi cảm ơn Quảng Trị đă có một Phan Văn Quang. Đó là một Phan Văn Quang học trường làng, trường tỉnh; bị bắt làm lính ngụy, được giũ bỏ áo lính ngụy; trở về cày ruộng, phát rẫy, t́m trầm, đăi vàng; sau nửa đời trôi nổi, ch́m đắm, cơ khổ, lam lũ, tất bật, anh đă đảm trách việc phát hành tạp chí văn nghệ cách mạng, rồi bán cháo bột cá tràu ở nhà, được bầu làm phân hội trưởng Phân hội Văn học thuộc Hội Văn nghệ Quảng Trị. Đồng thời, đó cũng là một Phan Văn Quang đau đớn, khóc cười, tỏ t́nh, yêu đương, hạnh phúc, uống rượu, suy tư, thao thức, hi vọng…  theo cách của riêng anh và bạn bè anh (trong đó có tôi). Một Phan Văn Quang ấy với bao nhiêu cảnh huống, tâm trạng khác nữa! Như mọi nhà thơ khác, tất cả những ǵ Phan Văn Quang từng nếm trải bằng chính bản thân, đă và sẽ được trái tim anh tinh lọc để trở thành thơ ca. Mai sau, sẽ có những lớp người h́nh dung lại: Có một nhà thơ thuộc “trường phái phong trần”, tốt nghiệp “đại học cuộc đời” như Macxim Gorki (20) như thế, một phân số thế hệ như thế, một thời đại ở một vùng đất Quảng Trị quê nhà như thế với những tập thơ như thế.

 

TP. HCM., khởi viết từ 14 g ngày 29. 9. 2004;

hoàn tất lúc 16 giờ 54 phút, ngày 30. 9. 2004

(17. 8. G. thân HB4);

sửa chữa xong lúc 09 giờ 35 phút ngày 01. 10. HB4.

TRẦN XUÂN AN

 

 

(1) Phan Văn Quang, Ta ôm một nửa đời luân lạc (TÔMNĐLL.), tập thơ đầu tay, Hoàng Phủ ngọc Tường đề tựa, Hội VHNT. Quảng Trị xuất bản, 1993, tr. 3 – 4.

(2) Phan Văn Quang, Mưa nắng quanh đời (MNQĐ.), tập thơ thứ hai, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1997.

(3) Nhiều tác giả, C̣n đây thương nhớ, tuyển tập thơ, Hội Văn học – nghệ thuật Quảng Trị xuất bản, 1993, tr. 64.

(4) Hermann Hesse (1877 – 1962), Câu chuyện ḍng sông, giải Nobel 1946, bản dịch Phùng Khánh & Phùng Thăng, Nxb. Lá Bối & Nxb. An Tiêm, bản in lần thứ 6, 1974, tr. 5. Theo lời giới thiệu đầu sách (ở một trong sáu lần xuất bản), Câu chuyện ḍng sông đă trở thành Thánh Kinh mới của mấy thế hệ tuổi trẻ Tây Đức và Phương Tây, sau Đệ II Thế chiến, mặc dù nội dung cuốn tiểu thuyết này là sự t́m đến giá trị giáo thuyết Phương Đông (h́nh tượng nhân vật trung tâm là Tất Đạt [Siddhartha], một chàng trai trẻ từ bỏ Bà La Môn, quyết tâm tu khổ hạnh, rồi trở về với đời sống thương gia, t́m chân lí trong việc làm giàu, đánh bạc, chung sống với một kĩ nữ, sinh con, và để qua đó, nhằm học tập ở thực tế bằng chính sự trải nghiệm của bản thân về hạnh phúc – khổ đau – dục vọng; cuối cùng là sự giác ngộ Đạo Thiền – Lăo Trang bên một bờ sông vắng). Việc xem Câu chuyện ḍng sông là Thánh Kinh mới không phải là hiện tượng nhất thời của tuổi trẻ Tây Đức và Phương Tây sau Chiến tranh thế giới lần II do sự đổ vỡ đức tin Thiên Chúa giáo…

(5) MNQĐ., sđd., tr. 46.

(6) TÔMNĐLL., sđd., tr. 16.

(*) Kôbô Abê (Kobo Abé), Khuôn mặt người khác, Phạm Mạnh Hùng dịch, Nxb. Đà Nẵng – Nxb. Thanh Hoá, 1986.

(**) Henrich Boll (tác giả giải Nobel 1972), Lạc lối về, Huỳnh Phan Anh dịch, Nxb. Văn Nghệ TP. HCM. tái bản, 1997.

(7) TÔMNĐLL., sđd., tr. 23.

(8) TÔMNĐLL., sđd., tr. 11.

(9) TÔMNĐLL., sđd., tr. 21 - 22.

(10) MNQĐ., sđd., tr. 37 - 38.

(11) MNQĐ., sđd., tr. 35 - 36.

(12) MNQĐ., sđd., tr. 23.

(13) MNQĐ., sđd., tr. 7.

(14) MNQĐ., sđd., tr. 52 - 53.

(15) MNQĐ., sđd., tr. 28 - 29.

(***)  “Văng đường”, “văng hồn”. Đây là chữ “văng” trong từ ghép thường dùng “lai văng”, “khách văng lai”, “lai văng đường”, “văng sanh đường”. “Văng” là đến thăm viếng nơi nào đó, khác với “văn” trong từ ghép “văn cảnh”, có nghĩa là đến ngắm cảnh, mặc dù người ta vẫn nói, “văng cảnh chùa”. Ở bài thơ trên, “văng đường” chính là “lai văng đường” (nhà thăm viếng ở một doanh trại…) hay “văng sanh đường” (nhà phúng điếu c̣n đặt quan tài)? Và “văng hồn”, có nghĩa là thăm viếng hương hồn người chết; câu thơ phải là: văng hồn, em trong Huế đau thương? Đề nghị tác giả Phan Văn Quang đính chính lỗi in ấn.

(16) MNQĐ., sđd., tr. 11 - 12.

(17) MNQĐ., sđd., tr. 22.

(18) MNQĐ., sđd., tr. 34.

(19) TÔMNĐLL., sđd., tr. 4.

(20) Xem: Lời tựa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, TÔMNĐLL., sđd., tr. 3.

 

 

  

Đă gửi:

 

Vơ Văn Luyến (01. 10. 2004) để nhờ chuyển đến:

1. Tạp chí Cửa Việt

2. Anh Phan Văn Quang.


 

 

 

E-mail: tranxuanan_vn@yahoo.com

Cập nhật 05/01/07                                                                    Trở về trang chủ

                                                                 

______________________________________________________________________________________________________________

 

 

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/home

 

hidden hit counter

 

Google page creator /  host

 

GOOGLE BLOGGER, DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE  


 

    lên đầu trang (top page)   

 01-5 HB7 (2007) = 15-3 Đinh hợi HB7