author's

copyright

trần xun an

ngẫu hứng đọc thơ

ph bnh thơ

Nxb. Văn Nghệ TP.HCM., 2005

05/01/07

 

 

Bi 1

 

Bi 2

 

Bi 3

 

Bi 4

 

Bi 5

 

Bi 6

 

Bi 7

 

Bi 8

 

Bi 9

 

Phụ lục 1

 

Phụ lục 2

 

                             

        

   Bi 2

 

ĐỌC THƠ V VĂN LUYẾN

 

1

Ti cứ mi bng khung khi tm đọc lại tập thơ đầu tay của V Văn Luyến. Điều đầu tin ti trực nhận ra cch đy đ hơn một năm, V Văn Luyến cũng như một số người thơ khc, hon ton khng phải ngẫu hứng khi chọn tn cho tập thơ đầu lng, tập thơ gồm gần bảy mươi bi thơ anh đ cưu mang, trải lng với bạn b, người đọc trn nhiều trang bo suốt hai mươi năm qua: Trầm hương của gi (1). Trực nhận ấy đến lc ny, khi muốn chia sẻ với anh qua những dng chữ của một bi viết, ti khng thể khng nhớ lại dăm cu thơ, đoạn thơ trong tập.

Ở bi thơ Trầm hương, V Văn Luyến thể hiện cảm xc của tm trạng thường thấy nơi su thẳm của tri tim nhiều người, khi về lại một lng qu, lng qu ấy lại chnh l mảnh đất đ cho anh tnh yu v chứng kiến trong anh niềm đau rạn vỡ, hối tiếc. Sau rất nhiều năm thng, người thơ cứ mải m tm về kỉ niệm.

Qu kiểng Hong Anh chạm ng

Cht g như thể ma thu

Hối tiếc một thời rạn vỡ

Tnh đy, người đ xa m

 

Tm giữa vườn xanh mắt thẳm

Hỏi hoa mấy độ đơm bng

Hỏi tnh ngy thơ vụng dại

Buồn nghe lặng tiếng trầu khng 

 

Ngẩn ngơ anh về thả gi

Trầm hương k ức ngt trời

Nỗi niềm mang mang hoa cỏ

Lng chiều sương khi xa xi.

Với định chỉ trch dẫn đi ba dng, nhưng bi thơ Trầm hương của V Văn Luyến chỉ vỏn vẹn 12 cu, lại rất kh lng gạn bớt. Điều ngăn ti đừng gạn bớt, đ chnh l hnh ảnh anh về thả gi / trầm hương k ức ngt trời ở đoạn kết của bi thơ. Khng phải l hoi niệm, hối tiếc về những g trt đ tri qua nhưng hiện tại vẫn cn c cơ may lại gắn b, chuộc lại lỗi lầm xưa! Quả thật, giữa đời ny c bao niềm đau, n hận trong k ức của tri tim vẫn chỉ l niềm đau, n hận, cho d cơ may cn đ. Ở Trầm hương, chừng như người thơ về thắp một nn hương trn nấm mộ người yu dấu xưa. Vĩnh viễn khng cn cơ may no nữa!

Tuy thế, ti vẫn tm một cch tiếp cận tứ thơ trong Trầm hương khc hẳn như cảm nhận ban đầu. Tự nhủ với chnh mnh, ai bảo gi trầm hương kia khng phải l thoang thoảng hay ngt trời trầm hương ngy Tết? Chiều ba mươi, đm giao thừa v những ngy nguyn đn khng gian quanh ta chẳng ngan ngt, bảng lảng khi trầm hương l g. V cũng tự nhủ, ai bảo ma thu thực tại khng l ma xun kỉ niệm trong k ức? Cũng đu hẳn tiết trời thực tại lc người thơ trở về chắc hẳn l ma thu! R rng l cht g như thể ma thu, như thể ma thu chứ khng phải ma thu! V như thế, ci xa m no đ trong bi Trầm hương cũng chỉ l một phố phường, lng qu no xa lắc đ thi. Ci xa m ấy khng phải l nơi m lng người chỉ c thể giao cảm bằng những ln khi trầm hương khấn niệm.

Với cch tiếp cận thứ hai ny, ti cảm thấy ấm lng hơn; v hnh như nhờ Trầm hương của gi, ti nhớ về trầm hương nguyn đn thng ging, cho d mi mi chỉ cn trong kỉ niệm về người yu dấu xưa.

Thơ V Văn Luyến c những bi nhẹ nhng như c như khng m gợi mở nhiều chiều, lại thấm tha như thế. Anh khng cầu k, lập dị trong cảm xc thơ. Thơ anh cứ từ tốn hiện ln trn trang giấy với những g rất gần gũi, hầu như ai cũng một lần đ trải qua. Nhưng thơ V Văn Luyến cũng nu gọi người đọc. Ti khng thể ngừng lại cảm xc c cht g như thể khm ph thế giới thơ trong anh.

Lại gặp một lần nữa hương v trầm ở bi Thơ vui viết lc buồn. Thật ra, niềm vui được hồi tưởng qua tm trạng khng những khng vui, m chừng như cũng khng phải buồn b. Nỗi buồn xen lẫn niềm hi vọng chăng? Cũng khng phải l niềm hi vọng mnh liệt.

Anh mường tượng lc trở về

Cht đồng nội cn ngậm hương sắc o

Trời đầy mưa, lng mong tạnh ro

Dấu mi xưa toả sng tnh trầm

Một đoạn thơ tươi sng niềm hi vọng về tiếng gọi ma thu dịu nhẹ dưới vm trời khng ướt sũng mưa! Hương khng cn l mi trầm, r rng l hương đồng nội, nhưng mi người yu dấu xưa vẫn phải lưu dấu xưa để toả sng tnh yu thơm ngt mi trầm. Sao vẫn l ma thu, vẫn mi trầm trong hương đồng nội? Tm hồn V Văn Luyến mi mi nguyn đn với cht tnh đầu chăng, cho d tuổi chớm thu?

Hay tnh trầm l khối tnh c đặc như tri tim nghệ sĩ Trương Chi trong cổ tch, nhưng khng phải l khối tnh trầm tuyệt vọng m ngt thơm hạnh phc trong hi vọng?

Thơ V Văn Luyến biết dừng lại để mời gọi đồng thời mở ra những nẻo đường của tưởng tượng thơ.

V lại hương cng trầm, nhưng ở bi Nắng trong mưa, vốn được đặt trước bi trn, l một từ ghp với một ngữ nghĩa nhất định. Lần ny, khng thể khng gạn đi dăm cu c hnh ảnh với ngn từ so cũ, để cn lại một trong hai đoạn thơ đẹp nhất bi:

Buổi chiều ru ti

Bằng xa xi trầm hương của gi

Cơn gi ướt sũng thị thnh

Lm sao hong kh thng ngy cỏ mật

Đ l cuối chiều ở một ng phố, hẻm phường no đ, nắng a rơi theo mưa từng giọt, lng lnh. Người thơ vẫn lắng nghe v đn nhận trầm hương của gi một thuở xa xi, từ lng qu xa xi. Lng người thơ vẫn l kỉ niệm thng ngy cỏ mật đồng nội, m thị thnh ho ra l lực cản, một lực cản sũng nước!

Nếu tập thơ khp lại với hnh ảnh trong cụm từ nguyn vẹn ny: Trầm hương của gi, chng ta cũng c thể hnh dung v cảm nhận được tm hồn v thế giới thơ của V Văn Luyến. Tuy vậy, ti thấy cần phải chia sẻ với anh nhiều hơn, dẫu biết rằng, cho d anh viết về cha mẹ, về anh chị, về đứa em t non yểu, về vợ con, v về Huế, H Nội hay về Mỹ Thuỷ của Quảng Trị qu nh, cho d anh viết về bạn b, hay về Rembrandt, về OHenry, hnh như tm hồn V Văn Luyến vẫn chỉ c thể thể hiện ra trang giấy với mi trầm hương của gi.

Trầm hương của gi, mi của tm linh giao cảm với ai đ khng cn nữa trn đời?

Trầm hương của gi, mi của tm linh giao cảm với nghn xưa mnh mang trong dăm ngy Tết nguyn đn rực rỡ?

Trầm hương của gi khng chỉ thế.

 

2

Ti ngần ngại khi by tỏ cht lin tưởng c vẻ xc thịt, ph hoa ny: Trầm hương của gi, mi hương liệu gợi ln niềm tinh khiết trong giọt nước hoa, thứ nước hoa vốn đ lm giảm bớt tnh xa hoa, kiu k, kch thch? Mi hương liệu trầm trong vin x phng chỉ để lm ngt thơm da thịt thing ling?

Thơ viết về tnh yu thời trai trẻ của V Văn Luyến khng t, nhưng anh rất t viết về nụ hn nồng chy, cảm gic rạo rực của pht tay chạm vo tay, của nh mắt lướt vội qua vm ngực thanh nữ trn đầy, xinh đẹp đến bng hong, ngy ngất. Đng hơn, V Văn Luyến c cảm nhận, nhưng cảm nhận tnh yu với xc thịt trầm hương thanh khiết.

Mỹ Thuỷ, một vng biển qu nh Quảng Trị, với V Văn Luyến:

Ci tn đẹp như nng tin c / Trong truyện cổ tch /  Đm đm / Nng hiện ra trn thảm ct / Lặng nghe con sng x bờ / Lặng nhn những v sao đổi chỗ / Những nụ hn xẹt thnh vệt sng / Mng lung thin h kht vọng / Bỗng yu hơn mặt đất con người / Mỹ Thủy  // Những chiếc phong cầm xanh / Tấu khc hoan ca ngy họp mặt / Cầm tay nng tin c rt mật / Vo bi thơ Mỹ Thuỷ yn lnh.

Người yu dấu ho ra chỉ l nng tin c cổ tch! Nụ hn khng phải nồng nn, đắm đuối, m cuống qut, chỉ dm vội vng như v sao băng bay xẹt ngang trời, cho d niềm khao kht l cả thin h. Ci cầm tay khng rạo rực, nng bừng, m chỉ l nng ln bn tay người yu dấu để rt mật vo thơ cho một vng qu biển yn lnh, sau rất nhiều thng năm nơi ấy mu đổ, sng bom go tht.

V một cửa biển khc, trn đất Thừa Thin Huế: Thuận An.

Biển Thuận An đầy gi

Thổi vơi dng toạ Thiền

Vầng trăng trong lồng ngực

Vuốt đường cong thin nhin

 

Biển v ưu qu thể

Nụ hn xẹt ngang trời

Min man mai xa Huế

Cổ tch la vo ti.

Ti cam đoan rằng, Mỹ Thuỷ v Thuận An trong V Văn Luyến l một, nhưng với Thuận An, người thơ trong anh to bạo hơn. Người thơ thấy gi Thuận An mặn m đến mức ci đời bị thổi vơi mất những dng người toạ thiền với quyết tm đạt đến chinh niệm, xua tan nhục dục. Tuy vậy, với người thơ, vầng trăng khng phải trn lồng ngực, m trong lồng ngực. Trước khi vuốt đường cong thin nhin, tri tim phải thật sự toả sng như vầng trăng. V v thế, biển dạt do như mun đời vẫn dạt do vỗ sng, nhưng vẫn v ưu trước những nụ hn phớt nhanh trn đi mi nồng thơm, trn g m ngan ngt của người yu dấu.

Đ l trầm hương của gi, nụ hn của gi, vuốt ve của gi, trong thơ V Văn Luyến.

V Văn Luyến cn viết Tnh ca ma đng. Trong bi thơ lục bt ny, vẫn l vầng trăng tỏ v nụ hn nồng, nhưng khng cn l ẩn dụ kn đo:

Biết rằng ti đ mất em

Sao ti / Vẫn sống ci đm bắt đầu

Ci đm trăng tỏ chn cầu

Nụ hn chy đến mai sau khng tn

Ci đm / Những tưởng đa mang

Với thời gian / Với khng gian / Cồn co

Ci đm / Lặng lẽ nhn nhau

Cao xanh chấp chới nghn cu nn vần

Thi em / Từ tạ ngy xun

Hoa mơ r cnh ph dung sớm chiều

Rồi ra / Cũng một lần thi

Nồng nn như rượu / Say rồi lại qun

Lục bt l thể thơ đầy thch thức. Tuyệt vời lục bt, nhưng kh khăn nhất vẫn l lục bt. V Văn Luyến bị vần lục bt nu vo khun so ở một đi cu, nhưng tnh thơ anh rất thật, thật trong một lần trt lỡ mi nồng, trt lỡ mắt ngọt, nhưng cũng thật trong thức trch nhiệm. V anh cng thật khi th nhận, ho ra đ chỉ l nụ hn của tnh yu ngỡ bền lu, chung thuỷ, ngờ đu như đa hoa ph dung chng a!

Lần ny, V Văn Luyến khng cn ni đến trầm hương, anh ni đến rượu. Khng phải rượu sung. Đng l rượu nồng nn. Ai đ say rồi qun, cn anh mi nhớ. Nỗi nhớ trong anh cũng l trầm hương, lm thăng hoa một lần phạm tục v một đời phm tục.

V Văn Luyến c một bi thơ với tứ thơ đ kh quen thuộc đối với nhiều nh thơ Quảng Trị: Đi bn dng sng tnh sử. Ring về đề ti ny, anh viết khng mới hơn, hay hơn hoặc su hơn, nhưng vẫn rất đng trn trọng. Điều đng trn trọng ấy l tưởng su kn ở ngoi bi thơ: C g đng yu hơn khi người yu l c gi qu nh c cảm xc gắn liền với tnh sử qu hương, chứ khng phải vay mượn từ văn ho nước ngoi.

Th đ yu con sng khi đi bn em

Anh hoi cảm về c li đ ngy xưa ấy

Nước vẫn chảy bo vẫn tri

                      nhưng hnh hi tri tim ở lại

Đập nhịp rộn rng

 

Dẫu bao lần đến hẹn sang ngang

Cứ ngần ngại dng sng nước chảy

Con đ trầm chm một đời con gi

C thể no lặp lại trong nhau?

 

Cơ chi trời thắp nắng mi ma đng

Em ngồi kể mối tnh xa xưa ấy

Rồi doạ dẫm: Nếu anh yu thế đấy

Em sẽ lm con nước biếc nguồn trong!

Khng phải con đ bằng trầm hương. Con đ dn d đ trầm mnh, chm lun một đời c thn nữ li đ ngang tuyệt vọng, nng nổi quả quyết tự trầm mnh! Nhưng cho dẫu nước chảy bo tri, tri tim Trương Chi trong lồng ngực c gi li đ xinh đẹp mi mi cn lại trong thơ. C gi Quảng Trị như anh viết, duyn tơ một ngy thương đau trắng tc, cn chng trai sĩ tử vc lều chng vo kinh đ dự thi kia cứ v tnh biền biệt! V anh cn bo chữa cho c gi qu nh nhẹ dạ, cả tin m nặng tnh, trọng tiết nghĩa, nghĩa thương yu, tội tnh g đu / đa cảm thế, dễ dng chi qun được. R l chất nh thơ trong anh đ lấn t chất nh gio nghim khắc, tỉnh to cũng ở trong anh.

Ti cứ tiếc l V Văn Luyến khng vượt được bốn cu lục bt ca dao tnh sử:

Trăm năm dầu lỗi hẹn h

Cy đa bến cộ (:cũ) con đ khc đưa

Cy đa bến cộ cn lưa

Đ xưa sớm thc, người xưa chưa về! (2)

Dẫu sao, Đi bn dng sng tnh sử của V Văn Luyến vẫn thoang thoảng trầm hương tnh sử qu nh Quảng Trị. Gi như c gi Quảng Trị no cũng chung thuỷ với lời hẹn ước như thế nhưng khng nhẹ dạ, cả tin v nng nổi đến thế.

Cũng về tnh sử, nhưng tnh sử Phong Chu, nơi c thnh Cổ Loa v nỏ thần, c mối tnh oan khốc Mỵ Chu. Một Mỵ Chu được V Văn Luyến gọi l nng Mỵ (nguyn văn của anh l Mỵ nương với chữ nương khng viết hoa). Một tri tim người nữ bị tn giặc Triệu Hn gin điệp li vo mưu kế cướp nước. Một lưỡi gươm oan nghiệt của An Dương vương đ vung ln v người con thương qu đ chết, chết ci chết của kẻ phản quốc. Một khối trầm hương mu đỏ ta (hay khối trầm hương chết?) đ được nhn dn tạc thnh tượng cng cha cụt đầu để nghn năm, mun đời mi nhớ. Một kẻ gin điệp cướp nước nhưng khng bội tnh tự kết n trầm mnh xuống Giếng Ngọc. C điều rất lạ l V Văn Luyến dng chữ trầm với hai nghĩa. Thật ra, trong chữ Hn, chỉ c một chữ trầm m thi. Trầm l chm, l su kn. Cũng mặt chữ Hn ấy, trầm phải đi đi với hương để thnh từ ghp chnh phụ trầm hương, c nghĩa l loại gỗ hương liệu bỏ vo nước th chm. Ta quen gọi tắt l [gỗ] trầm. Tn giặc Triệu Hn tự kết n chết trầm mnh v ho thnh khối tử trầm trương nước Trọng Thuỷ bn khối tử trầm cụt đầu nng Mỵ? Điều rất lạ cn l Bạch M Hải Vn hng quan, chứ khng phải l đo Mộ Giạ (Mụ Giạ), nơi An Dương vương cng đường, v cũng l nơi An Dương vương biết r Mỵ Chu cũng l một thứ giặc ngồi sau lưng! Điều rất lạ ấy phải chăng l lng anh muốn bao dung đến mức chiu tuyết cho cả Trọng Thuỷ gin điệp, v cải bin huyền sử để tn thờ cả ch ngựa trắng (Bạch M), vốn l chứng nhn duy nhất của bi kịch cha giết con v con l giặc phản quốc ấy?

Lại rất tiếc l V Văn Luyến chưa thật thnh cng trong thể lục bt ở bi Chiu tuyết khối tử trầm ny. Nếu ở những bi khc anh thnh cng, đy l bi thứ hai (gồm bi Tnh ca ma đng ở đoạn trn), anh bị vần v nhịp thơ lục bt (một thể thơ tuyệt vời nhưng đầy thch đố) nu vo khun so, cũ mn về ngn từ, hnh ảnh.

Trong thơ V Văn Luyến cn c cht g xao động của tri tim, nhưng khng hẳn l cảm xc tm hồn yu đương, cng khng phải l cảm gic da thịt yu đương.

R rng khng chỉ khp lng lại với qu nh Quảng Trị, người thơ đ mở rộng lng mnh ra đến những vng đất xa trn đất nước. Đ cn l H Nội, cht duyn đến từ một cu thơ hay, đưa đẩy tới một lần đi dạo cng nhau dưới hng cy sấu, v H Nội qua một giọng ht học tr. Đ cn l c gi Cần Thơ thong gặp ở Huế. Khng phải l tnh yu đương, cơ chừng l những giy pht đa cảm, lng mạn mơ hồ.

C thể những thi thoảng ấy cũng l trầm hương của gi, toả ra từ chnh khối trầm kết tinh trong ngực anh, phập phồng, co thắt rộng mở, để tm hồn anh lun hồng tươi mu ấm? Ti nghĩ đến tnh yu con người trn những miền xứ sở đất nước, bất chợt người thơ phản nh ra ở từng dng dung cụ thể no đ v đồng thời bắt gặp lng mnh ở từng dng dung cụ thể ấy.

 

3

Mở tập thơ Trầm hương của gi ra, chng ta cn thấy những bi thơ về những tnh cảm ruột thịt, thn thương. t ơi! Đ l tiếng gọi thầm th thương nhớ, cũng l tn một bi thơ. Hnh ảnh người cha cặm cụi bn chiếc my may từ sớm cho đến lc dĩa dầu hao kh, từ tuổi trẻ cho đến lc mắt mờ, tay run trước đường kim mũi chỉ, hnh ảnh người mẹ từ thời thn nữ trăng rằm đến tuổi gi xế bng vẫn một nắng hai sương cấy gặt trn đồng, chợ chiều chợ sớm, khiến lng ta chng lại, v cng nghẹn thắt khi đ l hnh ảnh của nỗi nhớ thương trong niềm tưởng niệm về người em gi t non yểu:

Bố may đến dĩa dầu hao

Mẹ đi cấy. t bm vo đi vai

Du nhau chơi suốt cả ngy

Bạn b hết dế đến bầy g tơ

Lạ lng thay, tuổi ngy thơ

Truyện Nm lu thuộc chẳng chờ học xong

Cha mẹ bận việc đến tối mắt tắt đn, đứa anh trai phải cng em gi t, dỗ em, chơi đa với em, v nhờ nghe cha kể truyện thơ nn thuộc nằm lng, lại kể cho em nghe từ tuổi chưa đến trường. Ngậm ngi, đau xt l em khng cn nữa trn đời, từ mấy mươi năm trước!

Thật ra, ti đ diễn giải thơ V Văn Luyến. Với thơ anh, khng cần đến thao tc đ. Thơ anh vốn trong sng, dung dị, lại c dăm bi đ l một thứ truyện thơ dn d. Chất truyện thơ ny, chnh anh đ ni ln nguồn gốc su xa của n. Chỉ c đi điều, ti thấy tiếc, nếu anh dng ngay tiếng địa phương Quảng Trị mnh, như cha (hoặc bọ) v mạ, thay v bố v mẹ, c lẽ những người đồng hương từ Thanh Ho đến Thừa Thin Huế xa qu sẽ bật khc khi đọc t ơi!.

Thơ V Văn Luyến cn rất xc động khi anh viết về tnh nghĩa trong hạnh phc: hạnh phc với người vợ (một c gio hệ mầm non) cng hai đứa con gi cưng (Diễm Hạnh v Trang Phc).

Trong thơ V Văn Luyến, bng dng qu nh Quảng Trị xương rồng ct trắng vẫn rất trắng ct, nhưng thiếu hẳn mu xanh kin cường, kin tm lạ lng, hoa nở trắng muốt, nao lng, say lng v gai sắc đến bật mu tay vin, tay chạm vo đ. Anh khng muốn ni đến gai sắc của loi hoa trắng muốt, thn kha cnh sao hoặc l lưỡi rồng xanh, xanh một sắc xanh kin cường, kin tm đến kinh ngạc ấy. Nhưng thật ra, gai sắc người ta vẫn yu, như đ yu hoa hồng, hoa bưởi lắm gai đ thi. V thật ra, ti vẫn tm thấy gai sắc trong thơ anh, loại gai cần c để lẩy những nhọt đanh cần lẩy kẻo ung thối da thịt người. Bi Lng xưa chứa đựng một niềm nhức nhối:

Nơi cất giấu sự bnh yn

Bn chn khắc đường kỉ h năm thng

 

Nơi những con đỉa đi lp kẹp

Một đời gập lưng đợi chờ bn cy la

 

Nơi lũ chuồn chuồn đẹp trăm sắc mu

Buồn khng nhấc nổi mnh bay liệng

 

Nơi hương đồng cỏ dại

Phung ph nỗi đam m mn vẹt

 

Lng lng lng lng lng

Đu đ ai cn cất ln tiếng gọi!?

Ti thật sự rng mnh kinh hi. Lng xưa, chốn địa ngục do những B Kiến, những Nghị Quế thống trị đ sao? Những hnh ảnh thường thấy, được chọn đặt vo thơ thnh những ẩn dụ, mang ngữ nghĩa khc, tạo nn một lực ph phn nn chặt, v do đ, bng nổ dữ dội. Lng thn hm nay được cảnh bo về nguy cơ vốn lun lun, mun thuở mai phục nguy cơ về sự ti lập địa ngục lng xưa, dưới bn tay bọn cường ho c b mới, ht mu người, bp chết ước mơ người! Đ l gai sắc của loi xương rồng hoa trắng trn miền ct trắng nghiệt ng về thin nhin, tỉnh to v sắc bn về tr tuệ, tầm nhn.

Cho dẫu V Văn Luyến chỉ ni đến tm hương chứ khng phải hương trầm thật trong t ơi!, hay khng nhắc đến cht trầm hương no trong bi Lng xưa, ti vẫn bị tn của tập thơ l Trầm hương của gi m ảnh. Như thể khng ni đến gai sắc m thật sự gai rất sắc, trầm hương ở đy l cũng như thế: hương của trầm (chất nhựa tinh luyện, c đặc của một đời cy d trn rừng thẳm) vẫn bảng lảng đu đ từ ci tm (tri tim) người viết.

Ti c khin cưỡng khng, khi muốn bao qut hết tập thơ 67 bi của anh, vốn được anh tuyển chọn lại sau hơn 20 năm lm thơ, qua một tn chung cho cả tập? Th thật, ti muốn tm ra một nẻo vo thế giới thơ của V Văn Luyến. V từ gc độ trầm hương của gi m anh đ định vị ở ba sch, ở mỗi trang sch, với những ng ba, ng tư nghĩa (cc tầng nghĩa) của cụm từ, ti cảm nhận thơ anh.

 

4

Ti biết V Văn Luyến khng thể học được người thơ xưa, đốt trầm ln để lm thơ, ngm thơ hoặc đm đạo về thơ, trong ln hương thơm ngt với những sợi khi mỏng manh, la đ bay. Ti cũng biết anh khng thể đủ tiền để chơi sang bằng cch mua nguyn một khối trầm lớn, đem về khắc những hnh ảnh kỉ niệm vo đ rồi đặt trn bn viết. Thật ra, thi ca đ từ lu rời khỏi những tao đn qu tộc, quan lại, để về với giảng đường đấu tranh, chiến trường sng nổ, cng trường dậy lửa, vỉa h thnh phố x bồ, bn đất nng thn tĩnh lặng. Thi ca v trầm hương ngỡ khng cn mối dy lin hệ no. Nhưng cũng thật sự l khng phải thế.

Thi ca v trầm hương vẫn cn đ, nhưng trầm hương l khối tim. V khng cn gi quẩn trong thi cc, thi sảnh quan phương m l gi đồng, gi biển, gi đồi, gi phố.

Trn khối trầm hương trong lồng ngực ấy, V Văn Luyến dnh một chỗ cho tnh đồng đội một thời lm nghĩa vụ qun sự ở bin giới pha Bắc, cho tnh bạn của những người lm thơ, lm bo, dạy học.

Về tnh bạn v duyn nghiệp thi ca, bo ch, V Văn Luyến viết được những bi thơ hay nhất trong Trầm hương của gi. Ti chỉ xin trch nguyn văn 2 bi, khng thm một lời bnh phẩm no. Ai lại đi bnh phẩm những g đ thật sự lm mnh rưng rưng nước mắt.

Khc tang tnh nhớ bạn (3)

Đường trăng lẻ bng chn khuya

Nao nao một thuở đi về bn nhau

Nhiều đa mang vẫn cơ cầu

Chết trong hi vọng ngn sau sạch lng

Bạn vo phố thị người đng

Ti về đồng đất cấy trồng niềm yu

Thơ mang thời vụ t nhiều

Nn chi dn d bm theo kiếp người

Vẫn vầng trăng thắp bn trời

Vẫn cu nhn ngi ni lời tri tim

Mun sau đời mi đi tm

Mun xưa cn đ nổi chm lnh đnh

Mặc ai g nhịp kim tiền

Ta lm g kiến an nhin hồn mnh

Tnh tang l ci tang tnh

Vn đường chợt thấy bng hnh tri theo.

 

Cảm khc

               Tặng TXA., NH.

By giờ bn cốc rượu đắng

Bạn b một thuở ra đi

Ti ngồi bn ti thầm lặng

Đn xanh, ngọn đỏ, đề thi

 

Dặn lng cn đầy thương nhớ

Dấu chn lối cũ đi về

Trắng đất, trắng trời o trắng

Sao ta trắng nỗi đ m?

 

Hnh trang cu thơ mỏng mảnh

Gi bay qua mặt con người

Ta ci nhặt từng con chữ

Rng rng ct trắng tun rơi

Đ tự nhủ mnh khng nn bnh phẩm trước những bi thơ tặng mnh, khiến mnh rưng rưng nước mắt, nhưng cũng khng thể km được!

Ti hiểu V Văn Luyến, anh muốn thể hiện một điều: L nh gio, anh lun lun trắng nỗi yu m trước những t o trắng học tr phổ thng trung học. Yu m (yu đương đến m dại), chứ khng phải đ m (cảm gic m mẩn bậc thấp hoặc trạng thi man mc, bt ngt). Người đọc thường tiếp nhận từ đ m theo nghĩa thường dng, phổ biến nhất (trong tiếng Việt hầu như chỉ c một nghĩa ấy)! Phải chăng, với nghĩa đ, nh gio V Văn Luyến đ khẳng định bằng cu hỏi phủ định một cch thẳng thừng, bộc trực đến thế? Thẳng thừng, bộc trực l điều kh lạ trong thơ anh. V mặc d người đọc đồng rằng, tc giả viết ra hai chữ đ m để phủ định, nhưng ai cũng hiểu l, chỉ cần lỡ tay viết đến hai chữ ấy trong văn cảnh thể hiện quan hệ trong trắng học tr bảng đen, phấn trắng đ, sẽ tạo nn một hiệu ứng phản cảm, t ra cũng nghe rất chỏi, rất ngại.

Trong kho từ vựng cn c từ trầm m, Đo Duy Anh định nghĩa bằng nghĩa mở rộng trong Từ điển Hn Việt của ng: m muội, đắm chm [trong những gio thuyết]. Ồ, với gio thuyết no, ta cũng cố thấu suốt, đồng thời phải cố vượt ln để lm chủ tr tuệ mnh! Hnh như anh chẳng ni thế l g trong bi Tự sự trước năm 2000, một bi thơ trong Trầm hương của gi? Vậy th, hy tự hỏi v sao ta trắng sạch nỗi trầm m hoặc yu m chăng? Hay vẫn để nguyn văn cu tự hỏi, trước khung cảnh trắng đất, trắng trời o trắng, ta biết v sao ta vẫn giữ lng trong trắng với nỗi man mc, bt ngt?

V cũng phải ni thm một điều nữa, trước khi khp lại bi viết đồng cảm, chia sẻ ny. V Văn Luyến đừng lo thơ ca của mnh rồi như nước l, như ct kh chảy sạch qua kẽ tay. Con chim g kiến vng, với một hnh ảnh trong thơ hiện đại được nhiều người biết đến, ta ngỡ như biểu tượng g nhịp thời gian, cứ tch tắc, tch tắc, v bn tay vốc ct kh, ct rng rng chảy, với tri thức văn học cổ, ta ngỡ như đồng hồ nước, đồng hồ ct, cứ rơi rơi, rơi rơi. Nhịp g tch tắc v tiếng rơi rơi, cũng như m thanh của đồng hồ tự động, điện tử, sẽ mi m vang thầm th vo v tận. Chc V Văn Luyến kin tm với nhịp tri tim khối trầm hương thơ ca trong ngực mnh. Rộn rng. T dại. Xao xuyến. Trầm lắng. No nức. V ở nơi lồng ngực đ, cn rất nhiều cung bậc khc của tnh cảm con người, rất con người, nhưng căn bản vẫn rất đng đắn, chuẩn mực đng đắn, chuẩn mực của thật tốt đẹp.

Đọc bi viết ny, ti hi vọng sẽ l một dịp V Văn Luyến nhn lại để bước tới. Với tinh thần chia sẻ, nhất l c thức lắng nghe cc phản hồi, những g ti viết, đng hay sai, su hay cạn, khen hay ch, thiết tưởng khng phải l v ch. Bạn c thể thẩm định lại.

Nh thơ thạc sĩ văn chương V Văn Luyến vẫn cn nhiều tập thơ v tiểu luận. Bạn thn mến, ti chc tất cả sẽ được xuất bản trong nay mai!

 

Tp. HCM., 10 giờ 02 pht

ngy 12. 9. HB4

(28. 7 Gip thn HB4).

TRẦN XUN AN

 

(1) Trầm hương của gi, Nxb. Thuận Ho, 2003.

(2)  Trong tiểu thuyết Bướm trắng, Nhất Linh c ghi lại bi ca dao ny. Xem thm: Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao Việt Nam, bản in lần thứ 8, Nxb. KHXH., 1978, tr. 298 299. Theo ti nghĩ, trong sđd., Vũ Ngọc Phan đ chp lại một tục bản (bản viết nối), chứ khng phải l dị bản. Nhưng khng hiểu sao, Vũ Ngọc Phan lại tch ra lm hai, xem như hai bi độc lập, mỗi bi chỉ một cặp cu lục v bt. Nguyn văn như sau:

Trăm năm đnh lỗi hẹn h

Cy đa bến cũ, con đ khc đưa

Cy đa cũ, bến đ xưa

Bộ hnh c nghĩa, nắng mưa cũng chờ!

Với tục bản ny, ca dao Quảng Trị hnh như đ được nhn dn ở đ sng tạo thm theo m-tp (motif) tnh chị duyn em, tnh bạn duyn mnh với hon cảnh cụ thể l con đ xưa (chị / bạn) sớm thc, th con đ nay (em / mnh) vẫn chờ sĩ tử (khch bộ hnh), nếu người sĩ tử ấy thật sự c nghĩa. Ti cũng mong chng trai vo kinh đ dự thi ấy thật lng c nghĩa thuỷ chung, khng phải cố tnh phụ bạc, nhưng v hon cảnh no đ, khng thể quay lại với con đ hẹn ước.

(3) Trch đng nguyn văn, c đối chiếu (để chỉnh sửa lỗi in ấn): Nhiều tc giả, Cn đy thương nhớ, tuyển tập thơ, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Trị xuất bản, 1993, tr. 41. Bi ny cn được đăng trn tạp ch Cửa Việt, tuần bo Văn Nghệ (Hội Nh văn VN.), nhưng rất tiếc, ti chưa kịp tra cứu lại số v ngy thng năm pht hnh.

 

 

Đ gửi:

 

1. V Văn Luyến (ngay sau khi viết xong, 12. 9. 2004)

2. Inrasara (12. 9. 2004)

 

(Bi đ đăng trn Tạp ch Cửa Việt,

số thng 11. 2004).

 

E-mail: tranxuanan_vn@yahoo.com

Cập nhật 05/01/07                                                                    Trở về trang chủ

                                                                 

______________________________________________________________________________________________________________

 

 

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/home

 

hidden hit counter

 

Google page creator /  host

 

GOOGLE BLOGGER, DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE  


 

    ln đầu trang (top page)   

 01-5 HB7 (2007) = 15-3 Đinh hợi HB7