.
.
.
..
.
http://www.minhkhai.com.vn/Books.aspx?m=author&authorID=20058.
(bấm vào h́nh để xem cỡ được phóng lớn)
.
TRẢ LỜI MỘT THẮC MẮC
(một lần nữa xin được nhấn mạnh)
.
(Kính gửi một độc giả
đề nghị không nêu danh tính)
.
.
Tôi thấy
cần thiết phải nhấn mạnh lại một sự thật lịch sử đă được nhấn mạnh nhiều
lần, nhưng có nhiều người bị định kiến sai lạc cũ chi phối, nên không để
ư đến. Đó là sách lược “HAI MẶT”. Không những Nguyễn Văn
Tường, mà cả Tôn Thất Thuyết đều thực thi sách lược ấy -- một sách lược
đă được hai người cùng nhau bàn bạc, quyết định.
.
Sau đây
là một vài luận cứ, luận chứng:
.
1.
+++ Phạm Hữu Dụng ra Quảng Trị gặp Tôn Thất Thuyết. Tôn Thất Thuyết nói,
chỉ có thể rước vua Hàm Nghi về với điều kiện:
- Phải
đoàn kết với Pháp;
- Pháp
không được lấn hiếp nữa.
Ở một
bài viết, tôi đă diễn đạt và trích đúng nguyên văn:
“Tôn
Thất Thuyết đă nói với Phạm Hữu Dụng:
“Phải nên đoàn kết
[thoả hiệp tạm thời – ct.] với quân Pháp; [Pháp – ct.] không lại lấn áp
như trước, th́ mới đón xe vua về””
(chú thích [51] = ĐNTL.CB.,
tập 36, sđd., tr. 223.). (TXA., bài “Nguyễn
Văn Tường (1824-1886) với
nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi (05 tháng 7.
1885)”, đă
đăng nhiều nơi, đă in thành sách, tạm xem tại:
http://tranxuanan-writer-5.blogspot.com/2006/11/nguyn-vn-tng-1824-1886-th-vi-nt-v-con_9621.html
)
.
2.
+++ “Dụ Cần vương” (đánh) chính thức, duy nhất
được ban hành tại Tân Sở và “Dụ gửi Nguyễn Văn Tường” (đàm)
cùng được phát đi, gửi về cùng một ngày: 13-7-1885 (2-6 Ất dậu).
Tôi cũng hơn một lần diễn đạt ư tưởng này:
--
“Mật dụ ấy cùng với Dụ Cần vương được gửi về và phát đi trong một ngày
(02.6 Ất dậu: 13.7.1885)”.
--
“Chi tiết Dụ Cần vương và mật dụ gửi Nguyễn Văn Tường từ Tân Sở (Cam Lộ,
Quảng Trị) được viết một ngày, phát đi và gửi về một lúc (02.6 Ất dậu,
1885) đă làm sáng tỏ”. (TXA., bài đă dẫn:
http://tranxuanan-writer-5.blogspot.com/2006/11/nguyn-vn-tng-1824-1886-th-vi-nt-v-con_9621.html
)
.
3.
+++ Tôi cũng đă viết:
“Tuy
thế, tôi thấy cần nhấn mạnh thêm một lần nữa một điều đă viết với luận
chứng nghiêm túc: Có một số trang châu bản sau cuộc kinh đô quật khởi,
bị thất thủ, do Nguyễn Văn Tường viết, tŕnh lên Tam cung (đứng đầu là
bà Từ Dũ) và giám quốc nhiếp chính Thọ Xuân vương Miên Định, thực chất
chỉ nhằm đối phó với thực dân Pháp và phe chủ “ḥa” (thực chất là đầu
hàng) đang thắng thế. Đúng vậy, như TS. Nguyễn Nhă đă khẳng định trong
Hội thảo, ngày 02-7-2004, viết những trang châu bản ấy, Nguyễn Văn Tường
chỉ dùng để đối phó mà thôi, trong sách lược “hai mặt”!”.
(TXA.,
Trao đổi với nhà
nghiên cứu sử học Nguyễn Đắc Xuân
về bài viết:
“Sau ngày thất thủ
kinh đô (5.7.1885)
Đại thần Nguyễn
Văn Tường (1824-1886)
khó thoát khỏi
bước đường cùng”,
bài đă đăng trên Tạp chí điện tử Giao điểm, số tháng 8-2005,
posted: 22.8.2005:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
hoặc theo link
thuộc docs.google.com:
http://docs.google.com/View?docid=dc9fgpkh_16fbm6nq
).
.
4.
+++ Bài thơ "Giải triều...":
"Đường
núi vạn trùng lo kiệu biếc [ = đánh ]
Ḷng tôi
nhất dạng giữ sân son" [ = đàm ]
(Sơn
kính vạn trùng thương thuư liễn
Thần tâm
nhất dạng luyến đan đ́nh)
(Bài
đă dẫn ở ư 3)
.
5.
+++ Bản án chung thẩm của ngụy triều Đồng Khánh (có chữ kí của De Courcy)
đă xác quyết sự thật lịch sử hai mặt nhưng vẫn một
ḷng đó của nhóm chủ chiến:
“Tôn
nhân phủ và đ́nh thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và
Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri
Trương Văn Đễ đă quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè
đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, th́ Tôn
Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và
chém ngay, để tỏ rơ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo”
(chú thích [64] = ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 35). (Bài đă dẫn). Xin
lưu ư: Phạm Thận Duật chỉ là một nhân vật mờ nhạt; ông cũng chưa bao giờ được
phong chức phụ chính đại thần.
.
Chúng ta
đều biết rơ rằng: Vào thập niên 80 cuối thế kỉ XIX, nước ta không những
đứng trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp và bộ phận tả đạo thuộc Thiên
Chúa giáo, mà c̣n phải đối phó với mưu toan thoả hiệp với Pháp để xâu xé
Bắc Kỳ của nhà Thanh (Trung Hoa).
.
Hiệp ước
Thiên Tân Pháp - Hoa (quy ước đ́nh chiến kí ngày 04-4-1885 tại Paris,
chính thức kí kết vào ngày 09-6-1885 tại Thiên Tân) đă thật sự cô lập
nước ta. Do đó, sách lược vừa đánh, vừa đàm, hai mặt nhưng
vẫn một ḷng, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cùng
nhóm chủ chiến thực thi là một sáng tạo tối ưu
trong điều kiện thế và lực của nước ta thuở ấy (7-1885...).
Ở bài
trả lời thắc mắc này, tôi chỉ liệt kê các ư cần thiết, không lặp lại
những ư tưởng, những trích đoạn nguyên văn khác, chẳng hạn như:
"Quốc kế
“chia tách triều chính” nhưng vẫn “nhất dạng”, phối hợp bí mật nhưng rất
chặt chẽ, là một sáng tạo rất táo bạo, trong điều kiện thế và lực lúc
bấy giờ!
Qua việc trích dẫn những tư liệu của
Puginier, theo giáo sư Nguyễn Văn Kiệm [28], chúng ta thấy rơ sự thật
lịch sử, với sự miêu tả của chính đối phương, về nỗ lực của Nguyễn Văn
Tường: “Vua Hàm Nghi đi theo Thuyết c̣n phụ chính Tường ở lại, vẫn
giữ nguyên chức tước, và sau một thời gian trá hàng, lại tiếp tục có
những hành động đối kháng. Chính theo lệnh của y mà khoảng 30.000 giáo
dân đă bị hại chỉ trong ṿng 2 tháng và hơn 1.000 người khác cũng chịu
chung số phận do các quan lại thi hành mệnh lệnh trên…”".
([28] Bài của GS. Nguyễn Văn Kiệm, trong Kỉ
yếu Hội nghị khoa học
về đề tài “Nhóm chủ chiến trong triều đ́nh
Huế và Nguyễn Văn Tường”,
ĐHSP. TP.HCM., 20.6.1996, tr. 14).
.
Xin vui ḷng xem ở bài viết đă được dẫn link
bên trên: "Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886) với nhiệm vụ lịch sử sau
cuộc kinh đô quật khởi" (TXA., "Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886),
một người trung nghĩa", Nxb. Thanh Niên, 9-2006, tr.20- 80).
.
Điều
nhấn mạnh:
.
Tôn Thất
Thuyết thay mặt vua Hàm Nghi vừa phát động phong trào Cần vương (Dụ Cần
vương) vừa ghi nhận, động viên Nguyễn Văn Tường thực hiện nhiệm vụ lịch
sử là đàm phán với Pháp (Dụ gửi Nguyễn Văn Tường, Dụ gửi hoàng tộc
[07-5 Ất dậu = 18-7-1885]), sau khi kinh đô Huế đă thất thủ (05-7-1885).
Vừa phát động phong trào Cần vương, vừa cùng lúc, cùng ngày khẩn
thiết gửi mật dụ về Huế, thể hiện chủ trương đàm phán với Pháp,
không phải Tôn Thất Thuyết và Hàm Nghi hai mặt nhưng vẫn một
ḷng là ǵ!
.
.
Nhân đây, xin thêm một ghi chú ngoài
lề sử học:
.
Có những
nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch trong nhận thức sử học:
.
-- Dưới
chế độ áp bức ngôn luận, kẻ sĩ, trí thức, nghệ nhân dân gian thường có
khuynh hướng mượn chuyện cũ ngày xưa (hoặc chuyện nước ngoài) để nói
chuyện mới hiện nay (hoặc chuyện trong nước).
.
-- Sử
dụng điển tích trong nước hay nước ngoài trong văn chương để thể hiện
một cách hàm súc điều muốn nói với người cùng thời hay với hậu thế, thủ
pháp nghệ thuật ấy đă từ lâu trở thành một trong nhiều phương thức tu từ
(mĩ từ pháp). Trong khi sử dụng điển tích, người viết lại được phép cải
biên cả chất liệu tạo nên điển tích ấy, và nội dung đă cải biên được văn
cảnh, ngữ cảnh cụ thể, nhất định vừa bổ trợ, vừa khu biệt hoá, thành một
lượng thông tin mới mà người đọc có thể tiếp nhận. Chính sự cải biên này
đă khiến tư duy văn học và sử học lắm khi lẫn lộn.
.
-- Định
kiến sai lệch trong xă hội vẫn c̣n tồn tại do sự xuyên tạc sự thật lịch
sử với mục đích lợi dụng sử học vào mục đích
tuyên truyền chính trị nhất thời (thực dân, tả đạo xuyên tạc nhằm mục đích
xâm lược, nô dịch; lực lượng cách mạng xuyên tạc nhằm mục đích đả phong,
đả thực (*); các bộ phận xă hội có xu hướng chính trị khác xuyên tạc
nhằm mục đích phù hợp với quyền lợi của họ...). Cho đến thời điểm hiện
nay, chưa phải là không c̣n t́nh trạng đó. Như vậy, định kiến sai lệch
lưu cữu cộng với âm hưởng chưa dứt, thậm chí c̣n diễn tiến của t́nh
trạng xuyên tạc sự thật lịch sử nói trên, cộng với sự cố chấp hay bảo
thủ, tâm lí nuối tiếc, không dám phủ nhận sai lệch trong các công tŕnh
nghiên cứu trước đây, tạo thành một "lực ́", "tŕ trệ" không phải không
đáng sợ (**). Không phải ít người thuộc
dạng cầu an, thiếu t́nh thần dũng cảm khoa học, ngại đụng chạm!
.
-- Tâm
thế người nghiên cứu sử và người đọc sử chi phối xu hướng đọc sử và hiểu
sử. Người viết, người đọc sử thường có mối liên hệ giữa lịch sử ngày xưa
và t́nh trạng, bối cảnh mới đây, hiện nay. Nói thẳng ra, người viết,
người đọc trong nước hay ở hải ngoại, khi đề cập đến cuộc kinh đô quật
khởi và bị thất thủ, 05-7-1885, thường liên tưởng đến ngày 30-4-1975,
theo quy luật liên tưởng được các nhà tâm lí học gọi là liên tưởng theo
quy luật tương đồng (tâm thế “nh́n suối nhớ sông”, đối với Việt
kiều vốn thuộc chế độ cũ) hay quy luật tương phản (tâm thế “nh́n sông
nhớ núi”, đối với người tham gia cách mạng hay chấp nhận, tán thành cách
mạng). Chính đó là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người tránh
bày tỏ thái độ đối với mảng đề tài này hoặc xếp vào loại "nhạy cảm".
.
-- Đối với sự
chạnh ḷng, chột dạ của hàng giáo phẩm, giáo dân Thiên Chúa giáo, tôi đă
nhiều lần minh định rơ thái độ của tôi. Ở đây, tuy không lặp lại, nhưng
không thể không liệt kê ra trong việc thống kê, phân tích nguyên nhân
này.
.
Các
nguyên nhân trên cần thiết phải chỉ rơ ra và rất nên tạo lập một lối tư
duy rạch ṛi, nói theo thành ngữ là không nên nhập nhằng, “đánh lẫn” và
“gian lận”, giữa con đỏ với con đen, giữa sử học khách quan với tâm thế
chủ quan, văn chương kí thác tâm sự, nhất là cần
phân biệt với "loại sử học phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ tuyên truyền
chính trị nhất thời". Mong rằng, chuyện nào ra chuyện nấy.
.
Tôi xin
được nhấn mạnh sự thật lịch sử "hai mặt nhưng
vẫn một ḷng" của Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi (chứ không chỉ riêng
Nguyễn Văn Tường, Trương Văn Đễ) và bổ sung ghi chú ngoài lề
sử học như vậy.
________________
.
(*) Mục đích đả thực luôn luôn có tính
chính nghĩa. Đả phong là một mục tiêu phù hợp với xu thế dân chủ, nhưng
phải xét đến điều kiện lịch sử cụ thể, mới có tính khoa học, nếu không
muốn sa vào chủ nghĩa duy ư chí. Tuy nhiên, sử học với ư thức trung thực,
chỉ cần viết đúng sự thật khách quan, là vô h́nh trung đă đạt được hai
mục đích ấy, và cũng nhờ thế, mới có hiệu quả thuyết phục và sức thuyết
phục ấy mới lâu bền.
.
(**) Ngay cả nhà báo, nhà nghiên cứu sử học Philippe Devillers, tác giả
cuốn "Francais et Annamites, partenaires ̣u ennemis?", Nxb. Denoel,
Paris, 1998 (bản dịch tiếng Việt của Bs. Ngô Văn Quỹ, "Người
Pháp và người An Nam, bạn hay thù?", Nxb. Tổng hợp TP.HCM.,
8-2006), cũng chưa thoát được tư duy, tâm lí và tài liệu đậm
màu thực dân, mặc dù trong lời nói đầu, Philipe Devillers ư thức rơ điều
đó. Ngay cả nhan đề sách và những câu hỏi đề dẫn (quảng cáo), Philippe
Devillers đă thể hiện một ư đồ biện minh, cố t́nh lấp lửng giữa xâm
chiếm, cướp bóc, nô dịch với du khảo, khai hoá, truyền đạo, chứ không
phải ngẫu nhiên lại nêu một câu hỏi chính và một loạt câu hỏi phụ thuộc
loại "nước đôi" vớ vẩn như vậy.
Xin mở một ngoặc đơn ở chú thích này: Lẽ ra, tôi nên viết một bài về
cuốn sách của Philippe Devillers, ít ra là đối chiếu các sự kiện quan
trọng như "tứ nguyệt tam vương", "kinh đô quật khởi và bị thất thủ", "cuộc
lưu đày biệt xứ và cái chết của Nguyễn Văn Tường tại Tahiti", nhưng thật
không có ǵ thiếu cảm hứng hơn là phải lặp đi lặp lại những chi tiết, ư
tưởng đă được thể hiện trong những cuốn sách tôi đă xuất bản (sách điện
tử, sách in giấy). Kính mong người đọc vui ḷng thực hiện thao tác này
giúp khi đọc sách của tôi và sách của ông Philippe Devillers
(đúng ra là không nên truyền bá loại
sách như của Philippe Devillers!). Chỉ xin lưu ư
rằng, cách viết sách của ông Philippe Devillers là hoàn toàn căn cứ vào
sách của các tác giả thực dân Pháp và các nhà nghiên cứu sử Pháp vốn
chịu ảnh hưởng của số tài liệu thực dân ấy; ông cũng không chịu khó
nghiên cứu tư liệu gốc của Pháp và Hội Thừa sai của Paris (như ông đă tự
tŕnh bày ở Lời nói đầu); và ḱ quái thay, ông Philippe Devillers lại
không hề biết đến tư liệu gốc "Đại Nam thực lục chính biên", "Châu bản"
của triều Nguyễn! Về phương diện tư liệu
này, mặc dù Philippe Devillers có tham khảo sách của Yoshiharu Tsuboi, "Nước
Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa" (bản tiếng Pháp), nhưng c̣n kém
hẳn, so với Y. Tsuboi!
.
.
http://www.minhkhai.com.vn/Books.aspx?m=cat&catID=8
http://www.minhkhai.com.vn/BookInfo.aspx?ISBN=155551
.
20 :
44', 26-12 HB6 (2006)
& 9 :
07', 13 : 37', 27-12 HB6 (2006)
& 7 : 02', 17 : 59',
29-12 HB6 (2006), 7 : 03', 30-12 HB6
(2006): có bổ sung (các chữ màu lục sẫm).
Trần Xuân An
26-12
HB6 (2006)