TRUYÊN KÍ THỨ 8
chia ra làm 8 tệp (8 phân đoạn), từ
tệp 9 đến tệp
16.
Tệp 9
PHÂN ĐOẠN 1 TRUYÊN KÍ THỨ 8
TRẦN XUÂN AN
CUỘC CHIẾN NGOẠI GIAO
VÀ NGOẠI THƯƠNG
Truyện kí thứ tám
(phân
đoạn 1)
1
Những ngày
hạ tuần tháng mười một ở kinh đô Huế năm nay vẫn như mọi năm, lất phất mưa
và lạnh buốt. Mùa đông nơi trung tâm của Đất nước không rét khô, cũng
không mưa xối xả, ào ạt. Mưa Huế vào quư cuối năm cứ lâm thâm, rả rích
như mưa phùn xứ Bắc. Hôm nay, trời hơi hửng nắng, cũng là cái nắng thường
thấy xen kẽ trong những ngày mùa đông.
Ngồi ở Tả vu
Điện Cần chánh, thượng thư Nguyễn Văn Tường đang bàn luận công việc cơ mật
với hai thượng thư khác, Nguyễn Tư Giản và Lê Bá Thận. Cả ba người đều là
quan chính khanh sung Cơ mật viện đại thần. Thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn
Thành đang nghỉ bệnh. Ông đang khổ sở với chứng bệnh mạn tính ở đường tiêu
hoá, chứng bệnh từ nhiều năm nay cứ thỉnh thoảng lại trở nặng, hành hạ ông
(1). Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản trở thành người có thâm niên cao
nhất ở Viện Cơ mật – Thương bạc, thường quen được gọi tắt là Viện – Bạc
này.
Với giọng
nói của xă Du Lâm, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, huyện giáp giới với Hà
Nội, chỉ cách cố đô một con sông Hồng, thượng thư Nguyễn Tư Giản (2) nêu
vấn đề về tham tán Ông Ích Khiêm:
- Tướng họ
Ông này vừa rồi được quan tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ ưu ái viết sớ
dâng lên vua xin lục dụng. Nhà vua đă châu phê, các quan ở Nội các mới
chuyển qua cho Viện – Bạc ta. Bây giờ Viện – Bạc ta phải có ư kiến, sau đó
đức vua sẽ duyệt như lệ thường. Tất cả hồ sơ quan tịch của Ông Ích Khiêm
và cả sớ của quan họ Phạm, chúng ta ở đây cũng đều đọc rồi. – Thượng thư
Nguyễn Tư Giản chờ ư kiến của hai đại thần đồng sự –.
- Cho đọc
lại để mọi người cùng bàn. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói như thể tiếp
lời –.
Một vị quan
tham biện cầm sớ đọc:
“… Ngày gần đây tướng tài ở đất
Bắc chỉ có Tôn Thất Thuyết và viên phải cách [chức] là Ông Ích Khiêm là
hơi khá. Nay Ích Khiêm cáo bệnh ở nhà. Thần lần này về quê, đi qua thăm
hỏi, viên ấy nói: “Bệnh cũ ngày một hết, tuổi ngày thêm nhiều, không ra
mưu toan báo đáp, là phụ ơn, phụ ḷng”. Xét về lời nói, hỏi những thân
thích, hàng xóm, th́ bệnh viên ấy đă khỏi. Kính xin ban ơn cho Ích Khiêm
theo thần đến tỉnh [Hải Dương], tạm cấp cho chức hàm giúp việc coi quân,
uỷ cho tên ấy hết sức làm việc, thần vẫn điều khiển. May nhờ uy linh nhà
vua, [t́nh h́nh] có thể ít việc được, thần được chuyên tâm về việc buôn…
[…] Không dám lấy t́nh riêng cùng châu, cùng làng, giúp địa vị cho tên ấy”
(3).
- Quan tham
biện đọc những ḍng châu phê luôn!
- Bẩm, xin
vâng.
“Ích Khiêm đổi hết lỗi trước,
không cho quân đi cướp bóc, không cậy khoẻ mà vô lễ, không giấu điều xấu,
phô điều tốt, tới việc mà biết sợ [:lo xa tính gần], chuộng mưu mà được
việc, quân có kỉ luật mới được. [Ngươi tuổi đă] già th́ nghĩ biết điều [sai]
trái; [trẫm] giao [viên ấy cho] người khéo cảm hoá” (4).
- Thế là
bệnh tâm hoả của tướng họ Ông đă khỏi. Tôi cũng mừng cho tướng ấy.– Thượng
thư Nguyễn Văn Tường mỉm cười –. Ai chứ Ông Ích Khiêm th́ tôi quá hiểu
tính khí. Tài rất lớn nhưng tật cũng quá lớn, đến nỗi cố Vũ hiển điện đại
học sĩ Nguyễn Tri Phương, thống đốc Hoàng Tá Viêm cũng không chịu nổi!
Nhưng sắp xếp như thế là tốt rồi. Đă có quan họ Phạm bảo lănh và ḱm giữ,
may chăng Ông Ích Khiêm phát huy được tài cầm quân mà hạn chế được tâm tật
vô kỉ luật!
- Ở Bộ Lại,
Bộ Binh, hồ sơ về tướng họ Ông này chất đầy một ngăn tủ!
- Như vậy là
chỉ c̣n chuyển giao cho hai bộ ấy lo liệu. – Thượng thư Lê Bá Thận nói –.
- Đồng ư như
vậy th́ qua mục khác. Ta cố gắng bàn luận cho xong. – Thượng thư Nguyễn
Văn Tường đồng ư –.
- Ở Bắc Ninh
quê tôi, án sát sứ cũng là họ Ma đấy (5). Hay nên tâu lại với đứùc vua,
xin chuyển Ông Ích Khiêm về quân thứ Bắc Ninh?
- Án sát sứ
Bắc Ninh? Họ Ma ở tỉnh nào?
- Quảng B́nh.
Đủ tên họ là Ma Xuân Vinh (Ma Thế Vinh), quê ở xă Thuận Bài, huyện B́nh
Chánh, đỗ cử nhân năm Tự Đức thứ mười một, Mậu ngọ (1858) (5). – Quan Bộ
Lại Nguyễn Tư Giản trả lời –.
- Về sau
hẵng hay. Ông, Ma, Trà, Chế hay Ngô, Đinh, Lư, Trần, Lê, Nguyễn th́ cũng
như nhau, đều đă là đồng bào cả. Nay cứ theo bản sớ, quan tổng lí Phạm Phú
Thứ muốn có Ông Ích Khiêm để giúp việc quân, để ông ấy rảnh tay lo việc
thương chính. Viện – Bạc ta cứ tiến hành như bản sớ và lời châu phê chuẩn
y. Đâu có việc ǵ khẩn cấp, bức thiết mà phải xin đức vua châu phê lại!
Không khéo lại bị trách cứ. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại mỉm cười –.
Ba đại thần
Viện Cơ mật – Thương bạc đều nhất trí.
Buổi làm
việc của Viện – Bạc c̣n kéo dài đến hết buổi sáng. Ba đại thần phân tích,
nhận định từng vụ việc một. Trong khi đó, các quan tham biện, tư vụ lục
soạn, tŕnh bày, ghi chép các dữ liệu, gồm cả những tấu, sớ, châu phê,
châu điểm…
Khoảng đến
gần giờ ngọ, trời sáng hẳn và hơi nóng nực, nếu vẫn c̣n mặc áo ấm. Các
quan đại thần lên kiệu trở về tư dinh ở khuôn viên lục bộ, ngoài cửa Hiển
Nhơn, bên trái hoàng thành.
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường bỗng bồi hồi nhớ lại những ngày c̣n là tán lí quân vụ ở
biên giới phía bắc. Những năm tháng ấy, ông đă nhiều lần chuyện tṛ thân
t́nh với Ông Ích Khiêm và cũng nhiều lần sát cánh với Ông Ích Khiêm tiễu
phỉ. Ông lại nhớ, hồi tháng sáu nhuận năm Quư dậu (1873), hơn mười sáu
tháng trước, lúc mới về kinh nhận nhiệm vụ sung vào sứ bộ, đ́nh thần đă xử
án Ông Ích Khiêm. Từ đó, Ông Ích Khiêm bị cách chức, về quê, với căn bệnh
tâm hoả vốn có… Thượng thư Nguyễn Văn Tường bồi hồi mỉm cười, thầm bảo:
Ông Ích Khiêm là một nhân vật có một không hai trong các danh tướng quái
kiệt xưa nay! Ông mong Ông Ích Khiêm sớm ra kinh đô làm thủ tục để ra Bắc.
Hẳn tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ hiện ở Hải – Yên cũng đang mong mỏi,
trông ngóng tướng họ Ông.
2
Sau một hôm dự
thiết triều, hôm nay Viện Cơ mật – Thương bạc lại họp.
Vẫn ở Tả vu
Điện Cần chánh, ba đại thần phụ trách ba bộ trong sáu bộ, Bộ Lại, Bộ H́nh,
Bộ Lễ, sung đại thần Viện – Bạc lại họp bàn các công việc như thường lệ.
Đây là phiên họp cuối tháng mười một, cũng là phiên họp bàn giao để thôi
đảm nhiệm thêm chức vụ này của thượng thư Nguyễn Tư Giản.
Nh́n hai vị
quan đồng sự, thượng thư Nguyễn Tư Giản hơi hé môi cười trước khi nói:
- Ôm đồm quá
nhiều công việc, nào là việc Bộ Lại, việc Quốc tử giám, việc Viện – Bạc,
hoàng thượng lại bảo cho đồng kiêm sung việc của Nha Thương bạc, trực tiếp
giao thiệp với tướng Pháp, khâm sứ Pháp, quả thật là tôi làm không xiết!
V́ vậy, nên cuối cùng không một việc nào thật trọn vẹn! Nay được hoàng
thượng cho giảm việc ở Viện – Bạc (6), thật ḷng tôi hơi buồn, hơi tiếc
điều kiện để báo đáp ơn sâu quân phụ, nhưng cũng khá mừng. Trong phiên họp
sau, thượng thư Bộ Hộ Trần B́nh sẽ vào họp với hai đại quan.
- Đức vua
phân công, phân nhiệm… Nhưng cũng là ư của quan thượng thư Bộ Lại đó thôi.
Dẫu sao những buổi dự thiết triều, ư kiến của quan Bộ Lại vẫn có thể đóng
góp tổng quát và cụ thể cho các bộ khác cũng như cho Viện – Bạc. – Quan Bộ
H́nh Nguyễn Văn Tường đỡ lời –.
Trên bàn làm
việc, một bộ khay chén trà đă được bưng ra.
Vừa nhấp
những ngụm trà đầu tiên, ba đại thần vừa tiếp tục công việc.
Quan Bộ H́nh
kiêm quản Nha Thương bạc Nguyễn Văn Tường nói:
- Theo tinh
thần cuộc họp mấy hôm trước, và đức vua cũng đă đồng ư để Viện – Bạc chúng
ta bàn tiếp, về việc viết thư cho phủ suư Pháp, nhờ họ mua giúp tàu chiến
để trang bị cho quân binh ta tiễu phỉ (7). Nha Thương bạc tôi tuân chỉ dụ,
lấy những ư kiến của Viện – Bạc để viết thư gửi phủ suư Gia Định. Bây giờ
xin các đại thần bàn lại, xem có ǵ phải sửa chữa, bổ sung không.
Quan tham
biện đă cho chép sao ra ba bản, tŕnh lên ba đại thần. Dưới ánh đèn nến
trong những chiếc lồng thuỷ tinh mỏng chiếu xuống và trong ánh sáng hơi âm
u của buổi sáng mùa đông từ cửa lớn toả vào, họ im lặng, trầm ngâm đọc và
suy nghĩ.
- Quan Bộ
H́nh họ Nguyễn đă chấp bút th́ c̣n chê vào đâu được. Theo tôi, như thế
cũng đă quá đầy đủ rồi. – Quan Bộ Lễ Lê Bá Thận gật gù cuối câu nói –.
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường vẫn muốn mọi thành viên của Viện – Bạc phải thật sự lưu
ư:
- Có ǵ xin
các quan cứ đóng góp. Đây cũng chỉ là văn thư hành chính sự vụ, nhưng vấn
đề là làm sao vừa giữ thể cách vừa diễn đạt được yêu cầu ta đề xuất.
Sau một lúc
bàn bạc, đóng góp ư kiến và ghi chép, đề mục oái oăm này đă được thông
qua. Họ lại bàn một vấn đề khá buồn cười, thuộc về phong tục người Âu và
người Á. Chả là sản vật biếu tặng theo thủ tục ngoại giao, triều đ́nh
chuyển vào cho phủ suư Pháp, không ngờ lại gây sự hiểu lầm là thiếu tế nhị,
khiến tên tướng Pháp tại Gia Định cảm thấy bị khinh khi. Chuyện rất nhỏ
nhưng có thể rất thất thố và gây mất ḷng một cách không đáng có, do chưa
thật hiểu phong tục Pháp. Hoá ra người Pháp không thích được biếu tặng
trâu và dê (8), họ xem như thế là bị xúc phạm! May là tên tướng Pháp này
cũng thuộc loại lính tráng, nói huỵch toẹt ra là y chỉ thích được tặng
biếu thịt ngựa (8) thôi. Đối với người Việt, thịt ngựa lại không được ưa
chuộng!
- Viện Cơ
mật – Thương bạc mà lại bàn luận những việc vớ vẩn như thế, thật buồn cười
quá! Nói cụ thể chuyện miếng thịt trâu, miếng thịt dê th́ buồn cười thật,
tuy nhiên, không thể buồn cười được nếu khái quát lên thành vấn đề lớn, là
phong tục, tập quán. Trong lĩnh vực ngoại giao, chuyện vặt cũng không thể
xem thường, nữa là phong tục, tập quán của dân tộc ḿnh và dân tộc đối tác
–. Thượng thư Nguyễn Văn Tường bỗng nghiêm túc hẳn lại –. Đây là một kinh
nghiệm ngoại giao cần ghi chép lại. Tôi những mong Viện – Bạc, cụ thể là
Nha Thương bạc của tôi phải hỏi han, sưu tập thành một cuốn sách về phong
tục, tập quán các nước châu Âu, nhất là nước Pháp, sau đó là Y Pha Nho,
Anh, Đức… Ngành Thương bạc phải rất am hiểu khía cạnh ấy mới dễ thành công.
Trong lịch sử nước ta, đă từng có những nhà ngoại giao kiệt xuất. Trong
kho tàng giai thoại về ngoại giao của ta cũng thế. Nhưng đó là quan hệ
giữa Việt – Hoa và với các nước lân bang châu Á. Quả thật, với châu Âu, ta
tiếp xúc ít ra là bốn trăm năm nay rồi, nhưng cũng chỉ qua quưt, thành ra
lần này hơi thất thố, cái thất thố không đáng có! Phải cố gắng có một cuốn
sách như vậy.
Ba đại thần
nhất trí. Đề mục tiếp theo của buổi họp lại là vấn đề sắc dụ của nhà vua
gửi cho sĩ dân Bắc Ḱ và phản hồi từ Bắc gửi vào.
Quan tham
biện đọc:
“Dụ rằng: Thói quen làm thay đổi ḷng
người quá lắm! Không có người hiền và người có đức vọng ở dân đứng lên mà
sửa chữa, th́ khó lắm thay!
Bắc Ḱ từ trước đến nay phong
tục vẫn kiêu bạc, xa xỉ, phóng đăng, tuy trong đó có nhiều lương gia,
thiện sĩ, nghĩa phu, tiết phụ. [Người tốt] cố nhiên không ít, nhưng dân du
thủ, du thực, ngoan phu, đăng tử, gái đĩ bợm, [kẻ] buôn gian giảo, lại
không biết gấp mấy. [Thói thường] càng chuộng hào phóng, [th́] quẫn bách
đến ngay! [Do vậy] phàm việc giả danh, phạm nghĩa, không việc ǵ là không
làm! Từ trước đến nay, [bọn xấu ở Bắc Ḱ] chợt yên, chợt động, cố tật
không thể bỏ hết được. Trong đó, Bắc Ninh, Thái Nguyên là quá lắm, rồi thứ
đến [là] Hải – Yên và Tam Tuyên [Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang]. Hà Nội
vốn gọi là nơi đô hội phồn thịnh mà trộm cướp thường phát ra, [khiến] dân
chúng sợ không đâu [:luôn nháo nhác!]. Chỉ hạt Nam Định cũng gọi là nơi
đất tốt, mà ḷng người hơi được thuần thục, thật thà, c̣n là khá. Ḱa như
Phạm Văn Nghị, Doăn Khuê, Đỗ Phát [người Nam Định], các người ấy cũng là
người nhà nho lăo luyện, là vị hưu quan, thế mà biết v́ nước dạy bảo dân,
không đến nỗi để lo cho triều đ́nh. Ngoài ra như bọn Nguyễn Bỉnh, Lê Đ́nh
Diên [người Hà Nội], Nguyễn Thành, đều là người có danh vọng của sĩ dân.
Lại những người trẫm không thể biết hết được, chỗ nào cũng có. Sao lại
không biết dạy dân, bảo học tṛ, khiến cho đổi điều ác làm điều lành, trừ
kẻ bạo ngược, cho dân yên, để thư ḷng lo về miền Bắc [phương Bắc: Trung
Hoa?] của trẫm?
Nay giặc nước Thanh trốn lẩn,
lấn át bờ cơi ta, làm xóm làng ta xiêu bạt, cướp nhục con trai, con gái ta,
chính phải cùng căm thù, địch với kẻ [đáng] giận, thề tất đánh một trận,
giết và đuổi hết đi, mới tỏ ư giữ ǵn [bờ cơi], [xóm làng] giúp đỡ nhau.
Tại sao lại dung túng cho kẻ du đăng của ta, hại lương dân ta, giúp cho
bạo ngược thêm lên? [Thế] th́ bất nhân càng quá lắm! Quan lại, tướng hiệu
vỗ yên, đánh dẹp đă bất lực; thầy tṛ khuyên bảo lại không có [phương]
thuật! Trẫm sao lại có thể nằm yên một khắc được!
Từ nay về sau, [trẫm] thực muốn
các quan chăn dân các địa phương, cha anh thầy bạn trong làng đều lấy ḷng
lành, nết tốt dạy bảo con em, [cho tất cả đều] đổi điều lỗi, theo điều
lành, đều đến [với] đạo [lí] hay [đẹp của dân tộc] cả, để đáp ứng chí của
trẫm. Chớ coi thường lời nói của trẫm” (9).
Thượng thư
Bộ Lại Nguyễn Tư Giản cố giấu niềm xấu hổ, một cảm giác rất tự nhiên của
con người khi nghe lời chê trách, dẫu bên cạnh lời chê trách ấy vẫn có sự
khẳng định, động viên nét tốt, về một vùng đất, nơi đó có bản quán của
ḿnh. Thật ra, chính ông, ông đă tham gia vào việc h́nh thành nên bản dụ
ấy của vua Tự Đức trong những lần họp Viện – Bạc trước đây. Tuy vậy, dẫu
muốn nh́n thẳng vào sự thật dân t́nh Bắc Ḱ, ông vẫn có chút ǵ nghèn
nghẹn và nhột nhạt, mắc cỡ.
Sau một
thoáng bối rối, thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản nói:
- Vấn đề là
những phản hồi của sĩ dân Bắc Ḱ. Bản dụ đă được tuyên đọc và niêm yết
khắp đất Bắc hơn mười hôm rồi. Quan tham biện cứ nêu rơ những ư kiến của
sĩ dân để các quan cùng bàn.
Hai vị quan
tham biện, phụ tá của Viện – Bạc, nêu lên những ư kiến thu thập được.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói:
- T́nh h́nh
Bắc Ḱ, bản thân tôi có đến năm năm ở ngoài ấy, tôi rất rơ. Trước đây, hồi
tháng sáu nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi ba (1870), tôi đă có một
bản tấu về t́nh h́nh các tỉnh xứ Bắc (10)… Nhận định chung về Bắc Ḱ là
đáng buồn như vậy, dẫu vẫn có rất nhiều người tốt, làng tốt… Nay, lại đọc,
lại nghe bản dụ và những ư kiến sĩ dân phản hồi, th́ đúng là cũng không
khác hơn. Có một điều, Nam Định lại được nhà vua đánh giá cao, v́ đó vốn
là một nơi tuy có nhiều giáo dân nhưng cũng là nơi “sát tả” nhiều nhất.
Tôi thấy từa tựa như Nghệ – Tĩnh của Bắc Trung Ḱ.
Thượng thư
Bộ Lại Nguyễn Tư Giản gật đầu:
- Vâng, đó
là điều cần lưu ư. Phải thừa nhận hoàng thượng có ẩn ư rất sâu sắc.
- Bắc Ḱ và
giặc Tàu các loại quả là một khó khăn lớn của bản triều… – Thượng thư Bộ
Lễ Lê Bá Thận nói khái quát, và không có ư kiến ǵ khác, ông bỏ lửng câu
nói –.
Ba đại thần
đều im lặng, trầm ngâm suy nghĩ. Thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường nh́n
ra ngoài sân, thấy nền sân lát gạch với những chậu hoa đủ loại xanh ngắt
lá đang hửng lên dưới nắng gần cuối đông.
- Nếu không
có ư kiến ǵ thêm, tôi mạn phép đề nghị chúng ta bàn về tên Nguyễn Văn
Phương từ đất Bắc Ḱ chạy vào Nam Ḱ (11). Nhưng may là tên Phương này chỉ
không có giấy tờ, chứ cũng chưa có ư cầu viện để phản loạn. Tuy nhiên,
không phải tên nào trước đây và hiện nay cũng như tên Phương ấy, mà c̣n có
khá nhiều những tên không thoả chí khác của Bắc Ḱ, cũng chạy vào Gia Định
giả thác cớ này cớ khác, yêu cầu tướng giặc xâm lăng Bắc Ḱ, như hồi năm
ngoái! Thật là dân gian tặc vô sỉ! Lần này, chính tướng Pháp lại bắt
Nguyễn Văn Phương giải giao cho tỉnh B́nh Thuận. Vụ tên Nguyễn Văn Phương
này là một trong những nguyên nhân sâu xa và tức thời để nhà vua ban sắc
dụ vừa rồi.– Thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường nói tiếp –. Bộ H́nh tôi
đă được lệnh dụ xử thật nặng tên Nguyễn Văn Phương này (11). Theo hai quan
lớn, như vậy, Viện – Bạc chúng ta đồng ư cho Bộ H́nh tuân chỉ?
- Viện – Bạc
đă tâu, nhà vua nhất trí, chuẩn y, th́ chỉ cứ việc thi hành. Đây là vụ
không có điều ǵ phải bàn lại, tâu lại. Quan lớn Bộ H́nh xin cứ thi hành
như thế.
- Tôi nghĩ,
nên chăng, Viện – Bạc chúng ta cũng cần phải bàn luận để tâu xin nhà vua
giải quyết thật rốt ráo vấn đề Bắc Ḱ. Đây là phiên họp cuối của thượng
thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản, mong quan lớn họ Nguyễn làng Du Lâm cho ư kiến.
– Thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường đề nghị –.
Thượng thư
Bộ Lại Nguyễn Tư Giản gật đầu với cái mỉm cười:
- Vâng,
chúng ta cứ nêu ra từng khía cạnh một, để cùng bàn.
Thượng thư
Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường chợt lặng người trong một hồi tưởng. Ông nhớ đến
Đoàn Thọ, đại tướng quân người An Giang, giữ quyền tiết chế thống lĩnh ba
đạo quân ra Bắc năm nào với một bản tấu của ông ấy về t́nh trạng lính Bắc
Ḱ (12). Và một vấn đề khác của thực trạng Bắc Ḱ là chiêu bài mị dân “phù
Lê”. Cả hai vấn đề ấy đă nổi cộm từ lâu, ai cũng biết, nhưng chưa lần nào
giải quyết thật rốt ráo. Suy nghĩ, đắn đo một lúc, ông nói:
- Hẳn phải
phân tích thực trạng lính của triều đ́nh xuất thân từ Bắc Ḱ. Và phải phân
tích rơ trên cơ sở lịch sử vấn đề
“phù Lê”.
Ba đại thần
bàn từng khía cạnh một thật kĩ lưỡng. Các quan tham biện, tư vụ ghi chép
luôn tay không nghỉ.
Khoảng cuối
giờ tị (mười một giờ), muộn hơn thường lệ, Viện – Bạc mới ngừng cuộc bàn
thảo.
Ngoài sân,
nắng đă gần đứng bóng.
Trong tháng
mười hai, không chỉ hai mà đến ba đạo dụ quan trọng của vua Tự Đức được
ban bố (13). Trong khi bàn luận về các ư tưởng để tâu tŕnh lên vua về ba
đạo dụ này, với sự có mặt của thượng thư Bộ Hộ Trần B́nh, cũng có sự hiện
diện của thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành, trong những buổi làm việc ông
gắng gượng đi được. Ngoài hai đạo dụ về hai vấn đề trong phiên họp cuối
tháng mười một đă bước đầu bàn thảo, c̣n có một đạo dụ khác về việc mở
rộng đường ngôn luận cho quan lại và sĩ dân (14). Mục đích của đạo dụ này
là để từ đó, quan dân có quyền được tâu bày ư kiến của riêng ḿnh và cũng
để triều đ́nh hiểu hết ư dân.
3
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường vẫn thường xuyên lo điều hành, chỉ đạo các công việc của
Bộ H́nh ông trực tiếp đảm trách. Từ khi nhậm chức, ông thấy cần phải cải
cách một số điều khoản h́nh luật và công tác thi hành luật. Đó là những ǵ
cần phải thay đổi càng sớm càng tốt. Trong thời gian này, công việc Nha
Thương bạc chỉ là các văn thư trao đổi với thống đốc Nam Ḱ thuộc Pháp,
c̣n Sứ quán vẫn chưa tới thời hạn để khâm sứ Pháp đến thường trú.
Sáng nay,
không phải là ngày vào Điện Cần chính dự thiết triều, nghe tấu sự và đ́nh
nghị, cũng không phải đến Viện – Bạc ở Tả vu để bàn việc cơ mật, ông đang
cẩn trọng xem xét những vấn đề thuộc Bộ H́nh:
◘ Những tấu
nghị đă nghiên cứu cẩn trọng và đă được phê chuẩn:
1.
Tháng
mười một: Đề xuất định lại lệ xử thêm bậc về mức phạt trong khoá thanh
tra, truy buộc bồi thường không được việc. Vua Tự Đức đă chuẩn y tấu nghị
này (15).
2.
Tháng
mười hai: Đề xuất định lại điều lệ bắt kẻ phạm chuộc tội (lấy công truy
bắt kẻ bị truy nă để chuộc tội). Bộ H́nh kiến nghị không chuẩn cho bọn
phạm nhân tái phạm chuộc tội kiểu ấy lần thứ hai, mà phải đền tội. Đă được
chuẩn y (16).
◘ Những tấu
nghị cần bàn thêm trong nội bộ Bộ H́nh trước khi xin nhà vua xem xét và
đ́nh nghị:
1.
Đề xuất
giải quyết án h́nh đă tuyên phạt c̣n tồn đọng, đồng thời tŕnh lên các bản
án ở kinh đô và ở các tỉnh c̣n để đọng, chưa xét xử, ở các tỉnh Bắc Ḱ và
tỉnh cực bắc Trung Ḱ: Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thanh Hoá. Tất cả có
đến tám trăm bốn mươi ba (843) vụ chưa kết án, bảy trăm năm mươi ba (753)
người hiện c̣n giam cứu (17). Đây là một trong những yêu cầu khẩn thiết
của phạm nhân và thân nhân họ. Kẻ có tội phải được công khai xét xử sau
khi điều tra kĩ lưỡng, không nên giam cứu quá lâu, khiến để xảy ra t́nh
trạng người vô tội, trắng án nhưng vẫn bị tù oan. Mở rộng ra, ấy là khát
vọng về công lí của nhân dân, cụ thể là mong được công khai xét xử.
2.
Đề xuất
định lại lệ nộp tiền chuộc tội xuy trượng (phạt roi, phạt gậy), đặc biệt
quan tâm, chiếu cố đến những
người lương thấp, phụ cấp thấp hoặc nghèo khó, như ngũ trưởng binh đinh,
hạng thợ thuyền làm thuê (giảm 50%, v́ tha cho tất cả th́ không biết lấy
ǵ để làm răn),
cũng không phân
biệt phạm nhân là người trong kinh hay tỉnh ngoài. Phải định rơ quy chế
thu tiền chuộc tội để khỏi sinh các tệ nạn tiêu cực (18).
◘ Theo sắc
dụ, chuẩn bị sắp xếp một số quan viên chức để đến tháng hai nguyệt lịch
sang năm sẽ tiến hành sửa định luật lệnh. Sau khi sửa định xong, ban tu
chính sẽ soạn lại thành sách
“Đại Nam tụ trân điển lệ hội biên” (19).
Đang mải mê
đọc lại, suy nghĩ và ghi chú vào sổ riêng, thượng thư Bộ H́nh nghe tiếng
bẩm báo của một viên lính trực nhật:
- Bẩm, kính
tŕnh quan thượng thư, có viên lính của Bộ Lại trao danh thiếp quan thượng
thư bên ấy.
- Ngươi vào
đi.
Viên lính
bước vào thư pḥng, thi lễ, và trao tấm danh thiếp đặt trên một chiếc khay
nhỏ bằng gỗ, được chạm trổ những hoa văn rất tinh tế, có nạm xà cừ lóng
lánh.
Liếc mắt,
biết danh thiếp của Nguyễn Tư Giản và những gịng chữ hẹn sẽ đến gặp để
bàn chuyện tại Bộ H́nh, thượng thư Nguyễn Văn Tường mỉm cười, cầm bút lông
viết vào mấy chữ: “Mong sẽ diện
kiến cuối giờ th́n (09 giờ)”.
- Ngươi đem
ra trao cho viên lính trực nhật của Bộ Lại.
- Bẩm, vâng.
Người lính
thi lễ rồi lui ra với chiếc khay nhỏ trên hai tay.
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường ngẫm nghĩ lại việc xét xử hai vụ án mới đây. Một vụ về án
tại Quảng Nam, phạm nhân Nguyễn Văn Nhuận chém chết mẹ kế là Lê Thị Luận.
Vụ này, Bộ H́nh đưa ra mức án nhẹ hơn mức ở tỉnh tŕnh lên, nhưng nặng hơn
mức đ́nh thần nghị xử (20). Một vụ khác, án tại B́nh Định, kẻ phạm Dương
Văn Kiều thay đổi tên khác để đi làm. Vụ thứ hai này do luật chồng chéo,
phải nghị xử lại. Đó là hai vụ mà án sát của hai tỉnh đều lúng túng không
biết vận dụng luật thế nào, bèn tŕnh báo về Bộ H́nh. Các quan chức tại Bộ
trực tiếp giải quyết cũng lúng túng, ngay cả ông, thượng thư Bộ H́nh, quả
thật cũng thấy sự lúng túng đó rất là khó tránh. Khi đ́nh nghị, vua Tự Đức
cũng phải trách: “Các quan có
trách nhiệm, phàm gặp việc ǵ khác thường khó xử, đều ghi án giữ riêng
hoặc ghi vào điển lệ để tiện lâm thời xem xét. Thế mới là để tâm về việc
nước. Tại sao người giữ chức vụ mờ mịt chẳng biết”
(20); “một mặt th́ dẫn nghị cũ
khoảng năm Minh Mệnh, một mặt th́ dẫn nghị mới năm Tự Đức thứ hai mươi
sáu, đều cho là phải cả, hầu theo đường nào” (21).
Đâu phải vua Tự
Đức trách nhẹ lời! Bao giờ nhà vua cũng cứ quở trách với giọng điệu hoàng
đế! Sự thể, chả là luật chưa thật thống nhất, nhất là do những điều khoản
thay đổi, luật Tự Đức phủ chính luật Minh Mệnh, nhưng luật Minh Mệnh vẫn
c̣n hiệu lực (thời hiệu). Ngoài ra, có những tội danh h́nh sự không có
trong khung luật. Do đó, nhà vua, đ́nh thần cũng thấy rơ như kiến nghị của
Bộ H́nh, là không thể không cấp tốc đồng thời phải rất cẩn trọng, trong
việc tu chính lại luật lệnh, để các án sát, các quan thuộc Bộ H́nh khỏi
lúng túng, khỏi suy diễn, “chế
biến” luật và mức án.
Thượng thư Nguyễn
Văn Tường cũng đă sắp xếp xong nhân sự của ban tu chính, đang chờ vua phê
duyệt: Vũ Khoa (hữu thị lang Bộ Hộ), Phan Sĩ Thục (biện lí Bộ H́nh), Chu
Duy Tĩnh (lănh Giám sát ngự sử), Ngô Quư Thông (Nội các thị độc) và các
nha lại thuộc lục bộ (19).
Đúng vào
cuối giờ th́n, thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản đến. Hai vị thượng thư thi
lễ chào nhau và cùng ngồi xuống bộ tràng kỉ tiếp khách ở tiền sảnh. Người
lính hầu bưng khay chén trà ra, xin phép được rót trà ra hai chiếc chén sứ
đặt trên hai chiếc đĩa đồng bộ.
- Sáng nay,
tôi định trao đổi cụ thể với quan Bộ H́nh và Nha Thương bạc về mức giáng
cấp Trần Đ́nh Túc và mức Nguyễn Tăng Doăn bị phạt bổng một năm. Đó cũng
thuộc vụ việc của Nha Thương bạc, chúng ta đồng kiêm sung.– Thượng thư
Nguyễn Tư Giản nói –. Tôi chẳng hiểu v́ sao hai vị ấy lại trái lệnh, cho
tàu thuỷ của Tây chở hàng buôn của người Hoa, lại c̣n cho bọn Pháp một
trăm thước ta đất để di táng Françis Garnier (22)!
- Chẳng qua
là v́ hai vị ấy vội vàng, sơ suất. Trước đây, việc tàu các nước Tây chở
thuê hàng hoá cho người buôn nước Thanh, đă chuẩn cho nghiêm cấm, phải đợi
sau khi định thương ước mới thi hành. Thế mà hai vị ấy lại cho Dujardin
đáp tàu để chở. Và, nói cho chính xác, họ cho phái viên Pháp đắp thêm khu
đất di táng Françis Garnier khoảng một trăm thước ta. Cả hai việc đều
không hợp pháp. – Tôi nghĩ ai cũng có những sơ suất không đáng có –. Triều
đ́nh phải phạt để giữ kỉ cương. Nhưng… Không biết bên quư Bộ Lại đă nhận
thông tư chưa, về việc tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ tâu xin cho đoàn
thuyền Jean Dupuis chở hàng cho người Hoa khách thương chỉ một lần để y
kiếm chút lợi, bù vào lộ phí. Đoàn tàu của tên Pháp tặc ấy lâu nay không
được di chuyển nên cũng quẫn bách. Vua chuẩn nhưng bảo y phải nộp thuế
(23).
- Đúng là
thời buổi rất khó xử v́ có lắm điều thật oái oăm.
- Thôi th́
cứ xem đó là một thứ g̣ Đống Đa mà Tây Sơn chôn xác quân Thanh năm nào
vậy, và cứ làm phúc cho tên Jean Dupuis một lần, để tỏ ra triều đ́nh ta
không hẹp ḥi. – Thượïng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường nói –.
- Cũng trao
đổi thêm tí chút cho rơ thế thôi. Bộ Lại tôi đă thi hành theo lệnh chuẩn
y. – Thượng thư Nguyễn Tư Giản ngập ngừng –. Chẳng hiểu quan Bộ H́nh nghĩ
sao, chứ tôi thấy ba bản sắc dụ của nhà vua vừa ban hành rất chí lí. Hẳn
là mọi người dân, mọi sĩ phu không phàn nàn ǵ. Vấn nạn Bắc Ḱ, với chiêu
bài mị dân là “phù Lê”, thật quá sức dai dẳng!
- C̣n bản dụ
phân tích binh lính của triều ta xuất thân từ Bắc Ḱ? Chắc cũng có tác
dụng như bản dụ phân tích trên cơ sở lịch sử về bọn “phù Lê”? Hôm họp Viện
– Bạc chúng ta cũng đă bàn. Và hai bản dụ ấy nhà vua cùng ban xuống một
lần với bản dụ “mở rộng đường ngôn luận của sĩ dân” (14) là rất phù hợp.
Tôi thấy vậy. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại nói –.
- Thật đúng
như thế. May chăng như thế mới giải quyết tận gốc vấn nạn “phù Lê”. Đúng
là nhà Lê đă mất vào tay nhà Mạc, Triệu tổ Tĩnh hoàng đế Nguyễn Kim là
người có công trung hưng nhà Lê, nhưng bị họ Trịnh soán quyền. Vua Lê,
chúa Trịnh đều mất vào tay Tây Sơn Nguyễn Huệ. Cuối cùng Thế tổ Cao hoàng
đế Nguyễn Ánh lấy lại vương quyền từ Tây Sơn.
“Thế là lấy thiên hạ ở tay Tây Sơn,
nhà Lê đâu có dự ǵ”
(24). – Thượng thư Nguyễn Tư Giản nói –. Chuyện biến dịch trong lịch sử
th́ vô cùng, nhưng thế cũng là biến dịch đúng đạo.
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường muốn nói rơ là vua Tự Đức cần minh định như thế để đánh
tan âm mưu của Pháp muốn lợi dụng chiêu bài ấy để kích động dân ta. Thật
sự, trong bản dụ có viết rất rơ:
“Năm trước như Tạ Văn Phụng, ngày gần
đây như Hồ Văn Vạn, hoặc giả xưng là con cháu nhà Lê, hoặc nói dối là con
cháu thờ nhà Lê, dấy quân nơi băi biển, ngấp nghé mong làm [việc] không
phải [đạo], thậm chí xướng lên cầu tướng nước Pháp cùng giúp…” (24).
Vua cũng
nói rơ khi thiết triều: “Nước
Pháp mới cùng ta hoà, tuy không nói rơ về [việc Pháp] giúp kẻ ác, cũng nên
đem nguyên uỷ việc nhà Lê bảo bằng giấy tờ, một là để giải sự nghe lầm của
dân ta, một [nữa] là để ngăn ḷng khác của tướng nước Pháp” (24).
Thế là đă minh
định rất rơ rồi! Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại mỉm cười chua xót khi
nghĩ đó là một động lực thúc đẩy buộc
vua Tự Đức phải đau ḷng “tranh thủ kẻ
mạnh”, để Pháp và “tả đạo” không ngả về phía “phù Lê”
(mà kẻ trá mạo cam
tâm theo làm tay sai cho Françis Garnier là Lê Duy Quư), và từ đó, dẫn đến
việc đành phải kí kết “hoà” ước Giáp tuất 1874 với Pháp. Sự biến Bắc Ḱ
với bốn tỉnh bị thất thủ mặc dù là động lực xô đẩy chính, nhưng không thể
không kể đến thứ động lực nguy cơ kia! Có một điều, ông hiểu v́ sao vua Tự
Đức không khẳng định công lao mở nước từ Phú Yên đến Cà Mau của chúa
Nguyễn. Bản đồ nước ta từ ngh́n
xưa đến nay, dưới thời Nguyễn vẫn là rộng lớn nhất.
Ông lại chợt nhớ
bài thơ ông viết khi thăm mộ Lê Văn Duyệt (25). Quận công họ Lê này có
những hạn chế về cuối đời, nhưng công b́nh Tây (đánh dẹp Tây Sơn, Tây Sơn
vốn lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn), công lao ấy vẫn là rất lớn đối với
nhân dân tả Trung ḱ và Nam Ḱ, vốn là thần tử (tôi con) của các chuá
Nguyễn, họ muốn sống hoà b́nh quanh ngai vàng nhà Nguyễn!
Lạy trời cho cả gió
nồm
Cho thuyền chuá
Nguyễn dong buồm thẳng ra!
Ca dao Nam
Bộ chẳng hát lên như thế đó sao?
Những vấn
nạn lịch sử lại thêm một phần gay go là thế đó… Ông lại nhớ đến một trong
những thầy học cũ là thân phụ của Lê Đ́nh Dao, người không muốn gọi Tây
Sơn là ngụy,
xem Tây Sơn như một lực biến
dịch để thống nhất, một khi Đất nước chia làm âm – dương chia cắt, tương
khắc, chiến tranh đến hai trăm năm.
Công lao của Quang
Trung Nguyễn Huệ, thống nhất Đàng Trong – Đàng Ngoài, đánh tan ngoại viện
của hai Đàng, là rất vĩ đại. Lực biến dịch để thống nhất Đất nước không
thể là ngụy được! Có thể chỉ v́ như thế mà vị thầy đồ làng Bồ Bản lận đận
thi cử một đời (25)!… Cuộc nội chiến hai trăm năm, Trịnh – Nguyễn phân
tranh, là tội ác của chuá Trịnh, chuá Nguyễn đối với lịch sử chăng? Nhân
dân hai Đàng chẳng ta thán đó sao! Nhưng dẫu sao,
nhà Nguyễn (thời các chúa Nguyễn…) vẫn
có công lao rất vĩ đại đối với Đất nước (buộc phải thu phục, khai phá
phương nam trong điều kiện lịch sử – cụ thể), nên vẫn chính danh, chính
nghĩa trong việc giành lại ngai vàng từ tay nhà Tây Sơn (25).
Chẳng lẽ một nửa Đất nước phía nam (Đàng Trong) do chín đời chuá Nguyễn
lănh đạo nhân dân xây dựng và khai phá, ṛng ră hai trăm năm, lại dễ dàng
để cho Tây Sơn chiếm lĩnh? Công lí, đạo lí lịch sử – cụ thể thời phong
kiến, quân chủ kia mà! Hơn nữa, Bùi Đắc Tuyên đă xui đẩy nhà Tây Sơn đến
chỗ suy tàn! Vận nhà Tây Sơn ngắn ngủi chỉ có thế!
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường nghĩ thầm trong ḷng ḿnh: Thầy đồ làng Bồ Bản (thân phụ
của người bạn đồng hương Lê Đ́nh Dao), đă nhận thức, đánh giá rất đúng:
ông xem Quang Trung Nguyễn Huệ là vĩ đại khi vị vua ấy như một lực
biến dịch
để thống nhất giang sơn chia cắt hai Đàng về một mối. Nhận định đó xem ra
mâu thuẫn với sự đề cao vai tṛ chính danh, chính nghĩa của các chuá
Nguyễn và các tiên đế Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Thực ra, không nước
đôi, không ba phải, không mâu thuẫn ǵ cả, bởi phải xem xét ở góc độ này,
vai tṛ lịch sử này, thời đoạn lịch sử này, đồng thời phải xem xét ở góc
độ kia, vai tṛ lịch sử kia, thời đoạn lịch sử kia…
Ngẫm nghĩ
một lúc, ông không muốn sa đà theo mạch kí ức về lịch sử và về bản sắc dụ
của vua Tự Đức, thượng thư Nguyễn Văn Tường chợt hỏi quan Bộ Lại về việc
họ Lưu:
- Bọn Pháp
lại muốn ép ta bạc đăi Lưu Vĩnh Phúc. Lưu Vĩnh Phúc lại chỉ muốn ở Bảo
Thắng thuộc tỉnh Hưng Hoá, ấy là nơi cửa ngơ thông thương của tuyến sông
Hồng (26)! Quan Bộ Lại thấy sao?
- Quan Bộ
Binh Trần Tiễn Thành cũng đă tâu tŕnh về việc này. Thống đốc Hoàng Tá
Viêm đang điều động họ Lưu đánh dẹp giặc Cờ vàng Hoàng [Sùng] Anh (26).
- Thượng thư
Bộ Binh Trần Tiễn Thành lại trở cơn đau bụng, xin nghĩ lại rồi. Nếu có
thể, hai chúng ta cùng qua tư dinh Bộ Binh thăm ông ấy một chút. Quan Bộ
Lại thấy có tiện không? - Thượng thư Nguyễn Văn Tường ngỏ ư –.
- Khuôn viên
lục bộ này đâu có xa cách ǵ! Sao lại không tiện nhỉ! Ta cùng đi nhé.
Hai thượng
thư cùng mỉm cười, đứng dậy, bước ra cửa.
Kinh đô Huế
trong những ngày cuối năm nay lại hừng nắng, nắng rất tươi thắm trước
vuông sân rộng của Dinh Bộ H́nh. Dinh thự Bộ H́nh và Bộ Binh toạ lạc gần
kế nhau trong khu vực Lục Bộ. Dinh thự Bộ Lại của Nguyễn Tư Giản gần hoàng
thành nhất, kế đến: Bộ Hộ, tiếp theo: Bộ Lễ, rồi cách một con đường dọc
(con đường từ cửa Thượng Tứ chạy vào đến trường Anh Danh, hồ Tịnh Tâm…),
là Bộ Binh. Từ Bộ Binh đi sang Bộ H́nh khoảng dăm chục bước. Dinh thự Bộ
H́nh cận kề dinh thự Bộ Công cũng một quăng cách đều bằng nhau như vậy.
Lục Bộ gồm sáu toà nhà chính xếp thành h́nh chữ nhất (27).
Hồi năy, khi
từ Bộ Lại đến Bộ H́nh, chiếc kiệu của thượng thư Nguyễn Tư Giản đă đi
ngang trước cổng các bộ khác, chỉ mỗi một cổng Bộ Công là khỏi.
Lúc này,
chuẩn bị lên kiệu, Nguyễn Tư Giản c̣n bày tỏ băn khoăn của ḿnh:
- Tôi cũng
có ư định muốn bàn chuyện với quan Bộ H́nh về những tâu báo trong tháng
này của sứ bộ Phan Sĩ Thục (28). T́nh h́nh nước Thanh nay cũng chẳng khác
ǵ nước ḿnh. Bọn Tây dương cũng đă gây nổ bùng mâu thuẫn Hán – Măn để xô
đẩy Trung Hoa nhà Măn Thanh đi đến tệ hại như ngày nay!
- Thái B́nh
thiên quốc nổ ra từ năm Tự Đức thứ bảy (1854), thời Cao Bá Quát nổi loạn
kia! Đúng là Trung Hoa bây giờ cũng rách nát lắm! Và vấn đề là do các nước
Tây dương liên minh với nhau! Các nước Á Tế Á (Asia, Asie), A Phi Lị Gia
(Africa, Afrique), Nam Mỹ Lợi Kiên (South America, Sud Amérique) lại bị cô
lập hoá và bị li gián. Nhật Bản lại đang xâm lược Cao Ly, Lưu Cầu với chủ
trương “chinh Hàn”, “chiếm Lưu” mặc dù bản thân đất nước Nhật Bản, một đất
nước luôn động đất và nghèo kiệt nông sản, khoáng sản, đang bị biến thành
bàn đạp cho bọn thực dân da trắng… Thôi, xin quan Bộ Lại để hôm khác. Bây
giờ ta cùng sang Bộ Binh thăm quan lớn họ Trần… Ông ta bị bệnh lị mạn tính
(29).
- Sao trông
quan thượng Bộ Binh da thịt hồng hào, đỏ đắn đến thế?
- Cũng chẳng
hiểu… Có lẽ nhờ thuốc thang tẩm bổ… Nhưng chúng ta chưa kịp báo trước, đến
Dinh Bộ Binh đường đột thế này có nên không?
- Quan
thượng c̣n nghỉ việc mà. Có lẽ không sao đâu. Mà này, hoàng đế Đại Thanh
Đồng Trị vừa mới mất (30), quan Bộ H́nh hay tin chưa?
- Tôi cũng
vừa được thông tư. Người lên nối ngôi sẽ là hoàng tử Tái Quát (30).–Thượng
thư Nguyễn Văn Tường nói –. Nhưng quyền lực vẫn trong tay Từ Hy thái hậu!
Hẳn không có ǵ thay đổi…
Hai người
lên kiệu. Họ lại cùng xuống kiệu ở chỗ kế cận bậc tam cấp của tiền sảnh
Dinh Bộ Binh.
Sau một vài
phút cho lính vào bẩm báo, hai người thấy quan thượng thư Bộ Binh trong bộ
áo quần dài thường phục ra đón tiếp. Họ thi lễ chào nhau.
- Mời hai
đại quan dùng nước. – Quan Bộ Binh nói khi người lính hầu rót nước vào ba
chiếc chén –.
- Hai chúng
tôi thật cũng hơi đường đột đến thăm quan thượng thư Bộ Binh…
- Khách khí
mà làm chi! Thật t́nh tôi rất cảm ơn. Cũng bệnh ốm sơ sơ vậy thôi. Bệnh
mạn tính thật rất khó lành hẳn!
Những câu,
những lời chuyện văn thăm hỏi về sức khoẻ giữa ba người rồi cũng dẫn đến
những ǵ đang khiến họ suy tư, dẫu suy tư ở mỗi người không giống nhau.
- Ba sắc dụ
của đức vua vừa rồi có nhiều phản hồi lắm đó.
Thượng thư
Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường tiếp lời:
- Nhưng tôi
thấy sắc dụ về “phù Lê” và sắc dụ
“mở rộng đường ngôn luận”
mới thật gây nên
bàn luận sôi nổi. Đây là một nước cờ trên bàn cờ thế.
- Quả là
đúng như vậy: một nước cờ trên bàn cờ thế. Đoạn cuối của sắc dụ phân tích
cái “phù Lê”, chính đức vua cũng ngần ngại nhưng rồi đă quả quyết viết.
- Cơ mật
viện – Thương bạc quả t́nh không dám quả quyết như thế. Sách lược “thoả
hiệp với giặc Pháp và “tả đạo”” vừa có khả năng dập tắt những lực lượng
xuẩn động ở Bắc Ḱ và trong cả nước, nhưng cũng có khả năng đổ dầu vào
lửa. – Thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường nh́n quan họ Trần và nói –. Tôi
chỉ đề xuất phân tích cơ sở lịch sử để chứng minh sự
chính danh, chính nghĩa
của triều Nguyễn
ta mà thôi.
Để chén nước
lên đĩa, quan Bộ Lại Nguyễn Tư Giản băn khoăn:
- Những
phiên họp sau tôi không họp, v́ đă có chỉ dụ cho tôi thôi sung vào Viện –
Bạc. Tuy nhiên, trong phiên họp khởi sự bàn việc này lại có tôi. Tôi vẫn
nghĩ việc nói huỵch toẹt ra là triều đ́nh ta mượn tay Pháp để tiêu diệt
bọn “phù Lê” (cùng các loại hải tặc, thảo khấu, giặc Cờ) như thế sẽ khiến
sĩ dân căm phẫn… Nhưng điều khoản thứ tư “hoà” ước Nhâm tuất (1862), điều
khoản thứ hai “hoà” ước Giáp tuất (1874), chẳng đă viết thế là ǵ! Và
thương ước Giáp tuất cũng thể hiện điều đó.
Thượng thư
Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường gật đầu, và ông nói:
- Phải hiểu
đó là một nước cờ trên bàn cờ thế. T́nh huống như vậy ắt đành phải vậy.
Mong sĩ dân hiểu rơ t́nh h́nh. Tôi vẫn ngại về sau, hậu thế sẽ nguyền rủa
Cơ mật viện – Thương bạc.
Thượng thư
Bộ Binh Trần Tiễn Thành vốn là một người chủ
“hoà”,
ông ta nhếch mép:
- Đă dấn
thân vào Viện – Bạc là phải chịu trách nhiệm. Bốn vị đại thần Viện – Bạc
đều gánh chung trách nhiệm ấy, và c̣n có cả đ́nh thần lục bộ… Thời thế đă
thế th́ phải thế!
Viện – Bạc
đại thần Nguyễn Văn Tường thật ḷng thấy rơ những ư kiến của ông trong các
tập tâu kí tên chung là “Viện –
Bạc” chỉ là
một trong bốn, và dẫu sao Viện – Bạc đại thần Trần Tiễn Thành vẫn cầm
trịch, khuynh loát! Nhưng ông (Nguyễn Văn Tường) cũng đâu phải thuộc hạng
người dám dấn thân lại không dám chịu trách nhiệm!
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường liền cố chuyển câu chuyện sang việc thăm hỏi sức khoẻ.
Quan Bộ Lại Nguyễn Tư Giản hiểu ư, cũng tỏ lời mong sức khoẻ thượng thư họ
Trần sớm hồi phục một cách xă giao.
Lát sau,
thấy bóng nắng ngoài sân đă gần chiếu thẳng đứng, mực nước đồng hồ trong
pḥng khách tiền sảnh cũng chỉ rơ đang giữa giờ tị (10 giờ), hai người ngỏ
lời chào quan Bộ Binh. Họ cùng bước ra hành lang, thi lễ chào nhau lần nữa
để tiễn chân và cáo từ. Mỗi người vẫn suy tư một cách khác nhau trước đại
cuộc, nhưng hẳn hai vị quan họ Nguyễn, một Nguyễn ở Bắc, một Nguyễn ở
Trung, khác xa với quan họ Trần, người Minh Hương!
Trong khi
quan Bộ Binh c̣n đứng trên hành lang, hai vị thượng thư Bộ H́nh và Bộ Lại
đă bước xuống sân, đi đến kiệu của ḿnh. Nguyễn Tư Giản nói khi tới gần
chiếc kiệu của Nguyễn Văn Tường:
- Mười mấy
năm trước, khi Pháp bắt đầu đánh ta, quân ta sau những trận thắng lại bị
bại nặng nề, tôi đă khẩn thiết dâng sớ xin triều đ́nh vẫn chủ chiến, nhưng
bấy giờ, tôi đă bị hai thượng thư Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản trách
là “không so sánh sự lí”.
Sau đó, phỉ
đánh quân của Nguyễn Dũng ở huyện Cẩm Giàng, quân vỡ; chúng vây sát thành
tỉnh Hải Dương, phải dâng sớ cáo cấp; tôi bị đức vua mắng là
“Nguyễn Tư Giản chỉ nói khoác” (31)…
Nay, t́nh
thế đă vậy, chỉ c̣n biết phải canh tân. Năm hết Tết đến rồi, tôi định ra
năm mới, sẽ làm tờ tâu dâng lên vua mười sáu tập sách Tây dương để mong
vua ban dụ cho Ti Hành nhân của Nha Thương bạc ta dịch ra chữ Hán, chữ
Nôm. Chỉ sợ là các hành nhân thông ngôn không dịch nổi! – Quan Bộ Lại nói
–. Phải cầm cự, hoà hoăn và phải canh tân Đất nước, không c̣n cách nào
khác.
- Đó những
cuốn ǵ vậy? Thật là quá tốt. Tôi và Nguyễn Tăng Doăn cũng đă tiến dâng
một số, khi từ Gia Định về.
-
“Vơ bị xưa nay”, “Ngữ pháp tiếng
Pháp”, “Tập hợp những chính yếu về binh thư”, “Thuật lặn dưới nước”,
“Thuật chế đạn công phá và phát hoả”, “Phương pháp bắn súng trên lưng
ngựa”, “Luật quân đánh bộ” và
“Thao luyện kị binh” (32).
- Đều là
sách hay và rất cần thiết. Nhưng ở đâu mà Bộ Lại t́m kiếm được?
- Các quan
tỉnh và sĩ dân tiến dâng lên vua.
- Thật rất
đáng trân trọng!
- Thôi, bái
biệt quan Bộ H́nh. Ngày mai dự thiết triều, ta lại gặp nhau.
Hai người
chia tay, mỗi vị lên kiệu của bộ ḿnh.
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường vẫn xác định rơ, ông không sợ trách nhiệm trong nước cờ
lịch sử này, nhưng ông vẫn khẳng quyết
“hoà là cơ nghi”, “chiến là tiên quyết
và hậu quyết”, không thể khôi phục lại một phần chủ quyền của triều đ́nh
và lấy lại lục tỉnh Nam Ḱ bằng “hoà” nghị được! Ông
cũng thường tự trào về ḿnh:
“Dĩ thần bất tài, giảng thuyết chiến hoà tam quốc sự; Duy quân sở mệnh,
khi khu sơn hải thất niên gian” (V́ kẻ bầy tôi bất tài, nên mới giảng nói
việc chiến hoà ba nước; Chỉ nhà vua với mệnh lệnh sẵn có, cam đành dằn xóc
chốn núi biển bảy năm) (33)!
“Hoà” là việc bất
đắc dĩ! “Hoà” và cứ “hoà” măi, không canh tân về công nghệ, không chấn
chỉnh binh lực, sẽ mất dần chủ quyền, mất dần nhân dân và Đất nước! Nếu cứ
“hoà” và chỉ “hoà” như Trần Tiễn
Thành th́
viễn cảnh nộ lệ vào bọn Pháp và “tả đạo” ngoại xâm ấy sẽ không xa! Thật
chua xót!
Trưa hôm ấy,
măi cho đến khi dùng bữa xong, thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn không thôi
nghĩ ngợi về những lời tâu tŕnh của chánh sứ sang nước Thanh Phan Sĩ
Thục, khi sứ bộ đă về, vào bái tạ vua Tự Đức. Những tâu tŕnh ấy, thượng
thư Nguyễn Tư Giản và ông cũng như các đại thần chính khanh, á khanh đều
có trực tiếp nghe, cũng đă cùng nhau bàn luận. Vừa rồi, Nguyễn Tư Giản lại
nhắc đến với nỗi băn khoăn khi hai người đă sắp chia tay, lên kiệu tại sân
Bộ Binh. Thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường không thể nào quên được t́nh
h́nh nước Thanh qua lời chánh sứ Phan Sĩ Thục mới cách đây không bao lâu,
chỉ ít hôm, cũng trong tháng chạp Ất hợi (1875) này.
“Đến khi bọn Sĩ Thục vào tạ, vua
nhân hỏi rằng:
- Nước Thanh xử trí với nước Tây
thế nào? Và chính sự của vua Đồng Trị, quan lại được hay hỏng thế nào? Thế
nước có thịnh không?
[Phan Sĩ] Thục thưa rằng:
- [Tâu hoàng thượng,] nước Thanh
đối với người Tây, chia đất cho ở [:nhượng địa]. Trấn Hán Dương, chỗ người
nước ngoài ở có lập bia đá, khắc chữ: “Đại Anh quảng long địa
giới”. [Bọn Tây dương cũng đă] làm nhà để ở. Chỗ ở [của
chúng] đều dựng hiệu cờ để phân biệt. Tổng đốc Hồ Bắc là Lư Hàn Chương làm
thông thương đại thần, để thông đi lại. Phủ thành Chính Định có nhà thờ
đạo [Thiên Chúa] ở trong thành. [Tại kinh đô] Yên Kinh cũng vậy. [Về phản
ứng của] sĩ phu, không nghe có lời bàn ngang. Người có kiến thức, [thảng]
hoặc có người bảo rằng: Vua Đồng Trị tuổi c̣n ít, lại thêm vài mươi năm
nay, quân mỏi mệt, của [cải] sút kém; tạm hăy chịu [t́nh trạng như vậy] để
hồi hộ [:che chở, bênh vực cho…]. [Vua Đồng Trị] gần đây đă sắc xuống cho
quân cơ sửa soạn phương lược dẹp yên ở Giang Tô, lại mở Cục Kĩ xảo [Cục Kĩ
nghệ]. Các tỉnh [, vua nhà Thanh] sai tập súng Tây, lúc nào cũng tự cố
gắng. [Ngoài ra,] c̣n như xử trí với người Tây ấy, ở chỗ quân cơ, bọn thần
không nghe thấy. Vua Đồng Trị từ khi [đích] thân coi việc nước đến giờ,
chính sự th́ hết thảy tuân theo điển lệ trước, chuyên dùng bầy tôi cũ.
Quan lại th́ từ năm Hàm Phong đến giờ, đường làm quan phức tạp, tham nhũng
nhiều; mà đời sống của dân ngày càng quẫn bách; quyên nộp [:đóng tiền để
nhận chức sắc, phẩm hàm, thường là hư vị, hư hàm] sinh ra tệ [đoan].
[Vua Tự Đức] hỏi về tổng đốc các
tỉnh.
- [Tâu, về
tổng đốc các tỉnh] th́ Lư Hồng Chương ở Trực Lệ,
Tôn Thất Đường ở Thiểm Cam, đều là tướng có nho học. Lí Hăn [Hàn?] Chương
ở Hồ Quảng th́ là người trầm tĩnh có mưu cơ. Lưu Trường Hựu là tuần phủ
Quảng Tây th́ nghiêm trọng mà am hiểu việc hàng [ngũ] trận [mạc]. [Các vị
đó] cùng Đan Mậu Khiêm ở Bộ Binh, Vạn Thanh Lê ở Bộ Lễ, đều là bề tôi có
danh tiếng. [Chúng thần] lại nghe nói giặc ở Cam Túc làm hại đă hơn mười
năm, chuyên do Tả Tôn Đường trù tính. Mùa đông năm ngoái, đă dẹp yên. Hiện
nay bốn phương không xảy ra việc ǵ. Và dọc đường bọn thần đi, [có lưu
tâm] xem về đại thế, đến khi [sứ bộ đă tới] ở Yên Kinh, [lại] xem các nhật
báo [để đối chiếu], [th́ thấy] đại khái của dùng trong nước hơi thiếu,
nhưng sức quân vẫn mạnh. C̣n như việc ở nơi quân cơ, bọn thần không thể
biết được.– [Chánh sứ Phan Sĩ Thục lặp lại lần thứ hai câu cuối lời tâu]
–.” (28).
Sau một lát
chợp mắt nghỉ ngơi giấc trưa, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại chuẩn bị áo
măo để lại ra công đường làm việc. T́nh h́nh nước Thanh cũng đau xót đến
thế, phải chấp nhận nhượng địa và “tự do truyền bá “tả đạo””, những điều
mà trước đây nhà Thanh nước Trung Hoa, cũng như các nước châu Á Tế Á khác,
như Triều Tiên, Nhật Bản chẳng hạn, đă quyết liệt chống lại. Nhưng phải
thấy rơ là nước Thanh đang cố gắng luyện quân với súng ống Tây dương, đang
mở Cục Kĩ xảo (công nghệ cơ khí). Nước Thanh đang “hoà” để thủ, trong việc
thủ, có cả việc tự ra sức khởi phát, chấn hưng quân đội và công nghệ theo
phương hướng “Tây học vi dụng,
Đông học vi thể”.
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường tự bảo, lẽ nào nước Đại Nam ta cứ măi bảo thủ trước công
cuộc canh tân, tăng cường nội lực quân đội và khoa học – kĩ thuật?
Từ công
đường, ông nh́n ra khoảng trời mùa đông cuối năm đang sáng rực nắng chiều.
Ông hi vọng vào mùa xuân mới.
Hết
tệp 9
(phân
đoạn 1 truyện kí thứ 8)
Khởi viết truyện kí thứ tám này
vào lúc khoảng 07
giờ sáng,
ngày 17.11.2002
(13.10 Nh. ngọ, HB.2).
Viết đến ḍng
chữ cuối của truyện kí thứ 8
lúc 16 giờ kém 10
phút,
ngày 30.11.2002
(24.10 Nh. ngọ, HB.2).
Sữa chữa xong vào
lúc 15 giờ 24 phút,
ngày 04.12.2002
(01.11 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(1)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục,
chính biên
(ĐNTL.CB.), tập 33, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1975, tr.
161.
(2)
Quốc sử quán triều Nguyễn và Cao Xuân Dục,
Quốc triều hương
khoa lục
(QTHKL.), bản dịch: Nguyễn Thuư Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự
Thanh, Nxb. Tp. HCM., 1993, tr. 240.
(3)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 128 – 129.
(4)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 309 – 310.
(5)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 198; QTHKL., sdđ., 1993, tr. 338.
(6)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 136.
(7)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 127.
(8)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 129.
(9)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 132 – 133.
(10)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 31 – 32.
(11)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 131 – 132.
(12)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 44.
(13)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 132 – 133, 142 – 143, 153 – 157. Bản dụ
về binh lính xuất thân từ Bắc Ḱ như sau:
“Binh chế nước ta,
từ Quảng B́nh trở vào Nam, hoặc ba (03) đinh lấy một (01), hoặc năm (05)
đinh lấy một (01); trở ra Bắc th́ bảy (07) đinh chỉ lấy một (01);
chước lượng từng nơi [mà] giảm ngạch, không cầu lấy nhiều; thực muốn quân
lính giỏi mà sổ quân [:quân số] đầy đủ. Thế mà quân Miền Bắc phần nhiều
lười nhát, sổ quân cũng không đầy đủ, lại không bằng quân Miền Nam có thể
dùng được. Như thế có phải là phép chưa tốt, hay là dùng quân chưa được
người chăng? Trước kia, đời nhà Đinh định ra quân thập đạo, quân không kém
một trăm vạn (1.000.000); đời nhà Trần biên đinh tráng làm quân, mà châu
Hoan, châu Diễn đă đến mười vạn (100.000). Ngạch quân nhiều so với ngày
nay gấp mấy, thế mà lúc bấy giờ, gọi là mạnh mẽ, ít nghe thấy trốn tránh.
Tướng quân ở thập đạo, nhân đấy để phá quân nhà Tống, mà ḷng quân không
ĺa bỏ; các tướng đời trùng hưng dùng để dẹp quân nhà Nguyên, mà các quân
đều c̣n cả. Ai bảo là quân Miền Bắc không thể dùng được ư? Gần đây nghe
nói cái tệ cuả quân ngoài Bắc có nhiều cớ: hương lí th́ hạn năm lập ra
khoá [tuyển quân], tha người giàu, sai người nghèo; quản suất th́ [thông
đồng với hương lí] đưa [người nghèo bị bắt ép ấy] vào hàng ngũ, mong [cho]
đi đóng đồn, sách nhiễu trăm đường; lại có tệ tha cho [kẻ hối lộ] về nghỉ,
có tệ đội tên người khác [tức người được thuê đi lính thay]. Huống chi từ
quản suất trở lên, tiêu phí [th́] bắt lính cung cấp, mà kĩ nghệ tập
[luyện] hay không tập [luyện] chẳng hỏi đến. Quân không huấn luyện sẵn,
đến khi đánh giặc sao khỏi không thua? Bảo rằng không phải người làm ra tệ
ư? Nếu nắm được điều cốt yếu, th́ tệ nào chẳng trừ được. Hiện nay các tỉnh
ở Bắc Ḱ, tổng đốc, tuần phủ đều có trách nhiệm [trẫm] giao phó cho
ở ngoài biên giới [tiễu phỉ (giặc Cờ)], trẫm đương uỷ dụng, bắt phải làm
cho thành công. Quân lính như thế, không từng để ư trù nghĩ, chấn chỉnh,
th́ lúc ngày thường cùng với ai mà giữ, lúc có việc cùng với ai mà đánh?
Việc xảy ra ở Hà Nội, Ninh B́nh, Hải Dương, Nam Định về muà đông năm ngoái
[Ất dậu, 1873, Françis Garnier tấn công, bốn tỉnh Bắc Ḱ thất thủ], vết xe
đổ đáng làm gương, mà há không sờn ḷng ư? Nay cho các quan tổng đốc, tuần
phủ, đề đốc, bố chính, án sát, lănh binh các tỉnh Bắc Ḱ phải hết ḷng bàn
tính thế nào để chấn chỉnh một phen, có thể đổi hết thói tệ, chuyển thành
quân tinh nhuệ, trẫm đều cho hết sức làm, cốt khiến cho quân lính vui ḷng
làm việc, sổ sách thường đầy đủ, đi đến đâu có công đến đấy, dẹp yên trộm
cướp. Vài năm hay chẵn tháng, quả có thực hiệu, th́ trẫm ban ơn khen
thưởng hậu, không có tiếc ǵ. Nếu chỉ đặt lời nói hăo, noi theo thói tệ,
khiến cho ngày càng bỏ bễ, th́ phạt nặng theo liền, quyết không tha thứ”!
(sđd., tr. 142 – 143).
Tuy vua Tự Đức không trực tiếp bàn về nguyên nhân binh lính có nguyên quán
Bắc Ḱ lười nhát, trốn tránh việc quân trong bản dụ này, nhưng rải rác ở
các đoạn Thực lục khác, ta thấy rơ: Sở dĩ thực trạng quân lính Đàng Ngoài
như thế là do hậu quả Trịnh – Nguyễn phân tranh suốt hai trăm năm, cụ thể
là, phân biệt đối xử (hạn ngạch, tức là tỉ lệ ấn định, lấy đỗ tú tài, cử
nhân ở Đàng Ngoài có phần bị khống chế, so với hạn ngạch ở Đàng Trong;
quan chức dân chính và quân đội ở Đàng Ngoài đại đa số cũng là người Đàng
Trong…), dẫn đến sự bất b́nh, thậm chí là phẫn nộ ở Đàng Ngoài. Do đó,
khuynh hướng “phù Lê”, “tả đạo” càng có điều kiện xấu để nẩy sinh, kéo dài
dai dẳng. Mặt khác, cũng do Đàng Ngoài, nhất là kẻ sĩ Bắc Hà, không ít là
con cháu cựu thần Lê – Trịnh, vốn kiêu mạn, luyến tiếc thời vàng son xưa
một cách phi lí,
“nhớ nước đau ḷng
con quốc quốc,
thương
nhà mỏi miệng cái gia gia” một cách hết sức phản động
(“Thăng Long
thành hoài cổ”, “Qua đèo Ngang”…), nên
triều Nguyễn không tin dùng (13*). Phải
thấy rơ tác động qua lại, làm thành hệ quả dây chuyền lẩn quẩn một cách
rất tại hại, từ các khía cạnh tiêu cực cuả cả hai phía (triều đ́nh Huế và
nhân dân Đàng Ngoài), dẫn đến hậu quả đáng tiếc, đáng giận trên.
(14)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 147 – 148.
(15)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 137 – 138.
(16)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 149 – 150.
(17)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 165 – 166.
(18)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 175 – 176.
(19)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 172 – 174.
(20)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 136 – 137.
(21)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 172 – 173.
(22)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 140.
(23)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 140.
(24)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 153 – 157.
(25)
Trần Xuân An (biên soạn [chú thích, dịch thơ…]),
Ḱ Vĩ phụ chính đại
thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng
(KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. & TT.), Trần Viết Ngạc sưu tầm, giới thiệu, Trần
Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển dịch thơ, giới thiệu, Nguyễn Tôn Nhan dịch
nghĩa, TS. Ngô Thời Đôn hiệu đính, TS. Vơ Xuân Đàn, GS. Đoàn Quang Hưng
khảo luận sử học, bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản), bài
thơ số 53, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch thơ của Trần
Xuân An, tr. 317 – 323. Nhân đây, xin lưu ư: Tác giả (tôi, TXA.) không
khẳng quyết thân phụ của Lê Đ́nh Dao có nhận định như thế về phong trào
Tây Sơn nói chung, Quang Trung Nguyễn Huệ nói riêng. Đó chỉ là sự suy
đoán, có thể xem như một chi tiết hư cấu. Cũng xin
nói lại cho rơ:
Nguyễn Huệ là một nhân vật lịch sử vĩ đại,
v́ hai lí do sau đây: ((a))
Nguyễn Huệ đă đáp
ứng được yêu cầu lịch sử bức thiết, đó là yêu cầu thống nhất hai miền Đất
nước (Đàng Trong – Đàng Ngoài); ((b)) Nguyễn Huệ là lực lượng thứ ba (lực
lượng trung gian), đập tan được hai lực lượng
Trịnh và
Nguyễn,
vốn đối nghịch nhau, gây nên cuộc chiến tranh tàn khốc “Trịnh – Nguyễn
phân tranh”;
đó cũng là yêu cầu
lịch sử về lực lượng cầm quyền sau khi hàn gắn vết thương sông Gianh,
thống nhất hai Đàng
(bởi lẽ, nếu chuá Trịnh đánh tan chuá Nguyễn, nhân dân Đàng Trong sẽ bị
đàn áp, trả thù; ngược lại, nếu chuá Nguyễn đánh tan chuá Trịnh, nhân dân
Đàng Ngoài sẽ bị trả thù, đàn áp). Xin xem thêm bài thơ
“Sáng tháng giêng ở
g̣ Đống Đa”
(TXA.). Tuy vậy, với quan điểm lịch sử – cụ thể, về công lao khai phá đất
phương nam, vai tṛ lịch sử của chín (09) chuá Nguyễn và sáu (06) vua
Nguyễn thời chính triều (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến
Phúc, Hàm Nghi), tôi không hề phủ nhận và cũng thể phủ nhận. Tôi cũng
khẳng định:
vai tṛ lịch sử của triều Nguyễn đă thật sự chấm dứt, thậm chí trở thành
phản quốc, là từ ngày Đồng Khánh lên ngôi cho đến ngày Bảo Đại phải thoái
vị (ngụy triều nhà Nguyễn: 1885 – 1945).
(26)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 141.
(27)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam nhất thống
chí
(ĐNNTC.),
tập 1, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 56 – 58.
(28)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 146 – 147.
(29)
Nguyễn Đắc Xuân (biên soạn),
Phụ chính đại thần
Trần Tiễn Thành,
bài của Đào Duy Anh trong
Bulletin des amis
du vieux Huế
(1941), Bùi Trần Phượng dịch, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 25.
(30)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 157.
(31)
ĐNTL.CB., tập 29, sđd., 1974, tr. 59 – 60, 307.
(32)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 164.
(33)
Câu đối của Nguyễn Văn Tường do nhà thơ Lương An sưu tầm. Xin xem: KVPCĐT.
NVT. T. VNVCNTH. & TT., bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản),
bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch vần của Trần Xuân An, tr.
77 – 79.
Soạn xong phần chú thích
vào lúc 19 giờ 24 phút,
ngày 06.12. 2002 (03.11 Nh. ngọ HB.2).
TRẦN XUÂN AN
Nhớ nước, đau ḷng
con quốc quốc
Thương nhà, mỏi
miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại:
trời, non, nước
Một mảnh t́nh
riêng, ta với ta
Đặc biệt là
câu thơ “một mảnh t́nh riêng, ta với ta”! Ấy chỉ là cảm xúc khi chỉ
c̣n ḿnh đối diện với chính ḿnh trong nỗi cô đơn. Cũng đừng đẩy xa hơn
nữa ư tưởng đó, để kết luận Bà huyện Thanh Quan vốn có gốc gác là Chăm,
tuy không ít người Đàng Ngoài đích thực là người Việt gốc Chăm (người Chăm
phải ra Đàng Ngoài nhập cư, từ thời Lư đến thời Nguyễn*).
Tôi nghĩ thi
sĩ đài các, trang trọng rất mực trong ngôn từ thơ ca này có thể bị ám ảnh
về biên giới lịch sử bởi câu sấm kí của Trạng Tŕnh: “Hoành Sơn nhất
đái vạn đại dung thân” (Đèo Ngang một dải vạn đời dung thân), khi chuá
Nguyễn Hoàng đến xin gặp Trạng Tŕnh để tham khảo ư kiến. Mặc dù trong
thực tế, sông Gianh mới là biên giới Đàng Trong – Đàng Ngoài, nhưng trong
tâm thức người Đàng Ngoài, Hoành Sơn (Đèo Ngang) mới là biên giới có tính
lịch sử.
Phải liên hệ
với các bài thơ khác của Bà huyện Thanh Quan, nhất là “Thăng Long thành
hoài cổ”, khi cảm thụ “Qua Đèo Ngang”.
Chữ “quốc”
vốn có nghĩa là “[Đất] nước” (Tổ quốc, quốc gia), nhưng dưới chế độ phong
kiến, người ta bị nhồi sọ, đồng nhất Đất nước, Tổ quốc với một triều đại
do một hoàng tộc trị v́, do đó “quốc” cũng có nghĩa là “triều đại” (quốc
tính [:họ của vua, của hoàng tộc], quốc thích [bên ngoại hoặc bên vợ của
vua]…)! Hoặc, có người đồng nhất Tổ quốc, quốc gia với kinh đô của
một triều đại hay của những triều đại nối nhau đóng đô ở đó. Nguyễn Du có
câu thơ: “Thập tải phong trần khứ quốc xa” (Mười năm gió bụi rời khỏi
kinh thành xa xôi) (U cư, Thanh Hiên thi tập). Hai câu thơ của Bà
huyện Thanh Quan trong bài “Qua đèo Ngang”, “Nhớ nước đau ḷng con quốc
quốc; Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, rơ ràng là thể hiện nỗi ḷng
hoài Lê, đồng nhất triều đại Lê – Trịnh với Thăng Long (Hà Nội), với Tổ
quốc (mặc dù sĩ dân Bắc Hà đều biết thể chế vua Lê bù nh́n, ươn hèn và
chúa Trịnh lấn bức, chuyên quyền là một biến thái phi đạo lí).
Để có một ư
niệm rơ ràng hơn về giai đoạn lịch sử cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX,
xin liên hệ với thơ văn của một số ít văn nghệ sĩ Miền Nam (1954 – 1975 –
2004) thuộc dạng “hoài cổ”, nhất là các nhà văn, nhà thơ Việt kiều lưu
vong thuộc “trường phái” đó hiện nay (1975 – 2004), ở Mỹ và ở các nước Âu
Mỹ khác. Họ cũng dùng từ “mất nước” (vong quốc) một cách rất trái ngược!!!
Xin nhấn mạnh, không phải văn nghệ sĩ Miền Nam, Việt kiều nào cũng “hoài
cổ”. Tuy nhiên, trong số ít đó, có nhiều cây bút thật sự có tài và cũng
không phải không có tri thức sử học (cỡ như Phạm Thái, Bà huyện Thanh
Quan, Cao Bá Quát và một số người chạy theo Lê Chiêu Thống…). Tôi xin rút
ra một kết luận: Vấn đề không phải là tri thức, tài năng, mà chính là
tâm thế cá nhân, quan điểm có tính chủ quan của người sáng tác. Tâm thế,
quan điểm lại do chỗ đứng và quyền lợi quy định hoặc do
sức-ép-bên-ngoài-bản-thân chi phối. Chỗ đứng và quyền lợi lại bị trói buộc
bởi hoàn cảnh bản thân, gia đ́nh, vốn bị cuốn theo trong cơn băo táp lịch
sử, hoặc do sự tự chọn lựa trước t́nh huống lịch sử. Mặc dù vậy, tôi
không có ư đánh đồng và cũng không thể đánh đồng bản chất vết thương sông
Gianh (nội chiến giữa hai tập đoàn phong kiến đồng bào) với vết thương
sông Bến Hải (chiến tranh chống thực dân, đế quốc Pháp – Mỹ, “tả đạo”…).
Trong hai trường hợp này, chân lí và sự thật lịch sử hoàn toàn (hay ít
nhiều) trái ngược với cái gọi là “chân lí và sự thật lịch sử” trong tác
phẩm văn nghệ. Các tác phẩm ấy chỉ phản ánh trung thực tâm trạng của
các tác giả cùng một bộ phận nhân dân thất thế, suy vong, và tiếc thay,
lại cuồng trung với triều đại, chế độ ươn hèn, phi nghĩa, lưu vong! Nói
theo Karl Marx khi ông nhận định về A. M. L. de Lamartine, đó là những
“kẻ phản động có lời thơ tao nhă”, hoặc một ai đó hay nói: “tiếng
thơ của giai cấp suy tàn”.
Nh́n riêng về
văn học Đàng Ngoài giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, ai cũng
biết có một bộ phận rơ ràng là đại biểu của tiếng thơ, giọng văn thuộc về
giai cấp quư tộc Đàng Ngoài suy tàn. Tuy nhiên, khác với họ, lịch
sử Việt Nam và thế giới đă cho thấy những nhà văn, nhà thơ, kể cả nhà sử
học, triết gia đă thoát li khỏi giai cấp, thành phần xuất thân để phản ánh
trung thực thời đại: Karl Marx, F. Engels, Nguyễn Huy Lượng, Nguyễn Công
Trứ, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Khuyến, kể cả Nguyễn Du (Truyện Kiều
vẫn khẳng định tính chính thống của triều Nguyễn), và Phan Huy Vịnh (dịch
giả T́ bà hành)… Đó là những nhân vật lịch sử, triết gia, thi sĩ,
dịch giả tiêu biểu cho khuynh hướng tiến bộ, tích cực, tuy mỗi người đều
có những hạn chế do bản thân hoặc do thời đại quy định.
(13*) [b]
Không phải chỉ khi đề cập đến Gia Long (Nguyễn Ánh), mới cần
nhận thức theo quan điểm lịch sử - cụ thể, nhưng không thể không nhấn
mạnh như thế khi cần làm sáng tỏ, thoả đáng thêm về vấn đề này.
Chủ quyền Đất
nước dưới chế độ quân chủ cũng là một h́nh thức quan hệ sở hữu phong kiến
(Đất nước và thần dân là tài sản và tôi tớ của hoàng tộc cầm quyền,
nối đời thừa kế). Do đó, Nguyễn Ánh (Gia Long) đánh đổ triều Tây Sơn (ba
anh em Nguyễn Huệ và Nguyễn Quang Toản) là để giành lại cái gọi là
quyền sở hữu Đất nước Đàng Trong và thần dân của ḍng họ ḿnh, và thừa kế
luôn cả Đàng Ngoài mà ḍng họ ông ta có công trung hưng (vai tṛ công thần
của Nguyễn Kim). Chủ quyền Đất nước và nhân dân được xác lập theo quan
hệ sở hữu phong kiến về tài sản và nô bộc là một quan niệm phản động, cực
ḱ phản động, nếu đứng ở giác độ dân chủ để phê phán. Tuy nhiên, ở cuối
thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Ánh vẫn chính nghĩa theo quan niệm
phong kiến! Và cũng cần khẳng định rơ: mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh và
cố đạo thực dân Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) chỉ là quan hệ
lợi dụng lẫn nhau mà thôi! Sau khi nắm được ngai vàng hoàng đế, chính Gia
Long (Nguyễn Ánh) đă hạn chế sự bành trướng Thiên Chúa giáo! Như thế,
trên cơ sở đó, có thể có một nhận định: Quang Trung (Nguyễn Huệ) đáp ứng
được yêu cầu bức thiết của lịch sử là phải thống nhất Đàng Trong - Đàng
Ngoài (mặc dù công lao ấy phần nào c̣n bị hạn chế do t́nh trạng tam phân
giữa ba anh em Tây Sơn). Tuy nhiên, Gia Long (Nguyễn Ánh) không phải không
chính nghĩa, xét theo quan hệ sở hữu phong kiến về vương quốc, thần dân;
và Gia Long c̣n kế thừa cả sự nghiệp thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài
của Quang Trung một cách tốt đẹp. Đó không phải là một nhận định "ba
phải", mà xét trên cơ sở sự thật lịch sử và xét theo quan điểm cụ thể -
lịch sử tiên tiến, khoa học nhất của chúng ta, trong thời đại dân chủ hiện
nay. Mặc dù đối với chúng ta hiện nay, chế độ phong kiến nói chung
(chứ không phải chỉ riêng triều Nguyễn) vốn đă trở nên quá lạc hậu, cực ḱ
phản động, "một đi, không bao giờ trở lại", nhưng cũng phải công
bằng, thỏa đáng trong việc nhận định lịch sử.
Nói một cách
giản dị, Nguyễn Ánh không dễ dàng ǵ để mất vào tay Tây Sơn sự nghiệp suốt
hai trăm năm của ḍng họ ông ta. Đó là sự nghiệp chín chuá Nguyễn đă lănh
đạo nhân dân Đàng Trong khai phá đất phương nam, từ Phú Yên đến Cà Mau!
Cũng nói một
cách giản dị, nếu lấy tiêu chí dân chủ hiện nay, nhất là dân chủ xă hội
chủ nghĩa trên lĩnh vực sở hữu ruộng đất (sở hữu toàn dân hay c̣n gọi là
công hữu), để nhận định về chế độ phong kiến quân chủ ... rồi trách cứ,
th́ chẳng khác nào trách cứ sao Nguyễn Du không sáng tác Truyện Kiều trên
máy vi tính và phát hành trên mạng VnExpress hoặc Cinet! Nhưng có người sẽ
vặn lại tôi: Đâu rồi quan điểm so sánh đồng đại? Từ năm 1848, giữa
thế kỉ XIX, Karl Marx và Fridrich Engels đă xuất bản Tuyên ngôn Đảng
Cộng sản kia mà! Tôi chỉ biết bảo người ấy nh́n ra thế giới ngay vào
thời điểm này: Hiện c̣n bao nhiêu nước theo chính thể quân chủ lập hiến
(lập hiến nhưng vẫn c̣n vua chuá!)? C̣n năm 1848, cách thời điểm Gia Long
lên ngôi (1802) đến bốn mươi sáu (46) năm! Nếu chọn thời điểm so sánh
tương đồng, phải là 1789, năm cách mạng tư sản Pháp nổ ra và cũng là năm
Quang Trung đánh tan hai mươi vạn quân Thanh, triều đại vua Lê - chuá
Trịnh hoàn toàn tiêu tan; và lúc đó, Nguyễn Ánh vẫn c̣n trường ḱ chiến
đấu khôi phục. Nhưng cách mạng tư sản Pháp tồn tại không bao lâu; rồi
chính giai cấp phong kiến Pháp cũng xé toạc Tuyên ngôn Nhân quyền, Dân
quyền 1789 *
để phục hồi đế chế quân chủ! Vả lại, nên hiểu giới hạn tầm nh́n
thời bấy giờ, cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, trong điều kiện chung
là thông tin liên lạc c̣n hạn chế. Do đó, giới hạn tầm nh́n thời bấy giờ
là chỉ trong phạm vi khu vực Đông Nam Aằ và rộng hơn, là phạm vi châu Á...
Hơn nữa, tầm nh́n c̣n bị quy định bởi bao nhiêu điều khác, nhất là nền
tảng dân trí toàn xă hội! Hiểu như thế, mới thật là lịch sử - cụ thể.
Không nên kéo lùi lịch sử hiện tại vào sự lạc hậu (tụt hậu), cũng không
nên cưỡng bức lịch sử quá khứ phải thật dân chủ xă hội chủ nghĩa về quyền
sở hữu Đất nước, tức là quyền làm chủ Đất nước (đúng nghĩa là dân chủ đích
thực, chứ không phải tṛ lừa từ ngữ *)
[*
Đây không phải chỗ để đề cập đến các quyền dân chủ cụ thể khác,
về chính trị, xă hội, văn hoá...].
Ngoài ra,
tưởng cũng cần nhắc lại một nhận định xác đáng và công bằng của nhiều nhà
nghiên cứu sử học về Gia Long Nguyễn Ánh: Ông là một con người có nghị lực
mạnh mẽ, vị vua sáng nghiệp từ hai bàn tay đă trắng (có khi quân lính
không c̣n một đội, lương thực không có để dùng). Ông chỉ có một điều kiện
thuận lợi, ấy là ḷng trung thành của nhân dân Đàng Trong đối với các chuá
Nguyễn tiền bối.
Ở chú thích
này, tôi chỉ nhấn mạnh đến nghị lực mạnh mẽ hay c̣n gọi là đức tính kiên
cường của Nguyễn Ánh, nhất là sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, từ Nam Quan
đến Cà Mau. Và khi so sánh tổng bí thư Lê Duẩn với Quang Trung, Gia
Long ở ba khía cạnh đó, tôi hiểu "so sánh nào cũng có sự khập khiễng".
[ 2 phụ chú này vốn
là chú thích số 7b và 11 ở bài thơ SÁNG THÁNG GIÊNG Ở G̉ ĐỐNG ĐA – TXA. ]
04.HB3
& 26.02.HB4 (07.02 G. thân HB4).
TXA.
HẾT TỆP 9
(PHÂN ĐOẠN 1 TRUYỆN
KÍ THỨ 8)
Xin xem tiếp TỆP 10
(phân đoạn 2 truyện kí thứ 8)