Tệp 7
– Tập III
(PHÂN ĐOẠN
1 TRUYỆN KÍ THỨ 10)
TRẦN XUÂN AN
BI KỊCH Ở ĐỈNH ĐIỂM MÂU THUẪN
VÀ SỰ CHIẾN THẮNG
CỦA NHÓM CHỦ CHIẾN
YÊU NƯỚC TẠI TRIỀU Đ̀NH
Truyện thứ mười
(phân đoạn 1)
1
Vua Tự Đức
qua đời vào một ngày cuối mùa hạ, để lại hai bản di chiếu, di chúc do
chính tay nhà vua viết sẵn từ một vài tháng trước đó, cùng những ḍng châu
phê màu son đỏ trước ngày mất hai hôm, tất nhiên cũng do
“chính tay [nhà
vua] phê vào tờ di chiếu” (1). Thời điểm đó, t́nh h́nh ở mặt trận Bắc
Ḱ rất dầu sôi lửa bỏng. Ở triều đ́nh, không khí cũng dầu sôi lửa bỏng
không kém.
Ba đại thần
Viện Cơ mật – Thương bạc Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết đă được đọc, được vua hỏi ư kiến, và họ cũng đă dâng sớ kiến nghị
xin gác lại một đoạn răn bảo hoàng trưởng tử Ưng Chân hoặc sang đoạn răn
bảo ấy qua một bản dụ khác, nhưng vua Tự Đức không chịu nghe theo, cứ bảo
lưu nguyên vẹn di chiếu, di chúc như nhà vua đă viết (2).
Trước ngày
vua Tự Đức trút hơi thở cuối cùng, hai đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn
Thất Thuyết đă kín đáo bàn bạc cùng nhau với niềm ưu tư không tránh khỏi.
Trong những năm tháng trước lúc vua Tự Đức lâm bệnh và trước khi nhà vua
viết di chiếu, di chúc, “vua cho là hoàng tử thứ ba
[Ưng Đăng], tuổi c̣n bé, [cho người] hầu hạ cẩn thận, [thấy] biết sợ [sợ
trời mà lo cho đời], [vua] rất yêu, mà về hoàng trưởng tử [Ưng Chân] th́ [vua]
dạy bảo càng nghiêm, [và Ưng Chân] thường v́ lầm lỗi bị quở. [Thượng thư
Nguyễn] Văn Tường nghĩ hoàng trưởng tử tất
không được lập lên làm vua, [ông] mới khinh thường hoàng trưởng tử
[về tư cách đạo đức, quan điểm chính trị], mà
chỉ để tâm đến hoàng tử thứ ba. Đến nay tờ chiếu để lại cho nối ngôi lại
là hoàng trưởng tử, [thượng thư Nguyễn] Văn Tường trong ḷng không được
yên. [Cũng chung một nhận định, đánh giá, suy nghĩ như vậy về hoàng trưởng
tử Ưng Chân, thượng thư Tôn Thất] Thuyết cũng không bằng ḷng với tự quân
[là Ưng Chân ấy]” (3) .
Hai đại thần
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vừa bàn chuyện vừa đi bách bộ trên con
đường rợp bóng long nhăn trong hoàng thành. Lắng lại trong một thoáng ngẫm
nghĩ, đại thần Tôn Thất Thuyết nói với giọng trầm tư:
- Không hiểu
quan thượng Bộ Hộ nghĩ sao, chứ tôi thấy hoàn toàn bất ngờ trước quyết
định vào phút chót của nhà vua. Đức vua đă chọn Ưng Chân, tức là trong suy
nghĩ của đức vua đă có mâu thuẫn. Chọn Ưng Chân, có nghĩa là chấp nhận đầu
hàng giặc Pháp, chấp nhận bị giặc Pháp lèo lái con thuyền Đất nước Đại Nam
này dưới từ ngữ mị dân là “bảo hộ”! Thế th́ tại sao nhà vua lại đồng ư
với chúng ta, rằng với t́nh h́nh này, rơ ràng thế cưỡi hổ đă thành; ta
không đánh chúng, chúng cũng đánh ta; ai đánh trước th́ thắng (4)?
– Giọng quan Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đầy buồn bực –.
Vẫn bước chậm
răi, thượng thư Nguyễn Văn Tường cũng không giấu niềm âu lo, không yên
ḷng:
- Có ai không
bất ngờ trước quyết đột ngột vào phút chót như vậy. Nhưng xem ra, đức vua
suy nghĩ đă kĩ. Và rơ ràng cho dẫu suy nghĩ, chọn lựa người nối ngôi đă kĩ
như thế, nhà vua cũng mâu thuẫn với chính nhà vua. Đúng như quan thượng Bộ
Binh vừa nói. Quan điểm chính trị của hoàng trưởng tử Ưng Chân là rất đáng
phàn nàn. Chính linh mục Nguyễn Hữu Cư là thầy dạy tiếng Pháp cho Ưng Chân
(5). Các khâm sứ Pháp, linh mục Pháp cũng đă o bế hoàng trưởng tử với ư đồ
lâu dài, nhằm biến Ưng Chân thành một kẻ thân Pháp và “tả đạo”! Chúng đang
đầu cơ về chính trị, tính toan bỏ vốn t́nh cảm, quan điểm để thu lăi “bảo
hộ”. – Ngẫm nghĩ một lúc, thượng thư Nguyễn Văn Tường nói –. Tôi đọc kĩ di
chiếu và di chúc, tự dưng có một sự so sánh giữa ba hoàng tử Ưng Chân, Ưng
Kỹ, Ưng Đăng. Rơ ràng bằng giấy trắng mực đen, bằng mực son đỏ châu phê,
nhà vua từ rất lâu đă muốn chọn hoàng tử thứ ba Ưng Đăng. Bản chất đạo đức,
nhân cách Ưng Chân, Ưng Kỹ, theo sự nhận xét chiùnh xác cuả nhà vua như
thế, th́ lên ngôi cửu ngũ thế nào được. Nào là
“Ưng Chân, cố nhiên là học
lâu trưởng thành, chính danh đă lâu; nhưng mặt [mắt] hơi có tật, giấu
kín [th́ nh́n] không rơ ràng, sợ sau không sáng; tính lại hiếu dâm;
cũng rất là không tốt; chưa chắc đương nổi việc lớn. Nhưng nước cần có
vua nhiều tuổi, đương lúc khó khăn này, không dùng hắn th́ dùng ai? (Đản
vi hữu mục tật, bí nhi bất tuyệt, cữu khủng bất minh, tính phả hiếu dâm,
diệc đại bất thiện, vị tất năng đương đại sự. Quốc hữu trưởng quân, xă tắc
chi phúc, xă thử, tương hà dĩ tai). Sau khi trẫm muôn tuổi, nên cho hoàng
tử Thụy quốc công Ưng Chân nối nghiệp lớn, lên ngôi hoàng đế” (6) .
Nào là “Ưng Kỹ người yếu hay ốm, có tâm tật,
học chưa thông mà kiêu ngạo, hay bới việc riêng của người khác, cho lạm
thẳng, đều không phải là tư chất thuần lương, theo lời phải; sợ bọn ngươi
khó lấy lời nói can được” (6) .
Nào là “lại cho hoàng tử thứ ba [Ưng Đăng,
từ nay chính thức] sung làm hoàng tử” (6). Nào là “duy con út là Ưng Đăng,
[cho người] hầu hạ cẩn thận, [thấy] biết sợ [trời mà lo cho đời], dạy được,
chưa thấy có vết ǵ, nhưng tuổi c̣n ít, đương học chưa thông, đương lúc
khó khăn này chưa chắc đă am hiểu. Cho nên trẫm cắt bỏ ḷng riêng, theo lẽ
công, quyết thi hành mưu kế lớn, là v́ xă tắc. Nghĩ ơn nuôi
nấng hết ḷng, không nên để cho phân biệt, nhưng chưa kịp làm, nay cho
sung làm hoàng tử, cho đổi tên là Ưng Hỗ” (6)
. Trong một
bản dụ hồi tháng tám Nhâm ngọ (1882), đức vua c̣n nhận xét Ưng Đăng:
“[bản] tính cũng hơi sáng [:thông minh]”
(7). Tôi cùng quan
Bộ Binh đây đều thấy, theo ư đức vua, chỉ một
ḿnh hoàng tử thứ ba Ưng Đăng, nay là Ưng Hỗ, là có đủ đức tính để làm vua
mà thôi. Có điều, vua bảo, tuổi c̣n
nhỏ! Tôi thấy Ưng Đăng đă mười bốn tuổi, không c̣n nhỏ nữa. Các đại thần
chúng ta mở kinh diên để giảng tập cho nhà vua trẻ học, pḥ vua trẻ tuổi
thêm vài ba năm, thế là vua trẻ nối ngôi vừa đủ bản lĩnh, tri thức, và
nhất là có sẵn đạo đức, nhân cách, lại được bồi dưỡng thêm, để làm hoàng
đế. Ấy là cách chọn lựa tối ưu. Kiến thức có thể bồi dưỡng, tuổi tác trời
mỗi ngày mỗi cho, chẳng mấy chốc là trưởng thành, chứ bản chất đạo đức như
Ưng Chân, Ưng Kỹ, làm sao sửa đổi được. Sửa đổi bản tính, nhất là bẩm tính
hiếu dâm, có khả năng bị mù loà, hoặc có tâm tật, không phải tư chất
thuần lương, là rất gay go! Và thường thường là không sửa đổi được! –
Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại nói –. Đức vua c̣n viết rơ về ba phụ chính
đại thần chúng ta: “Bọn ngươi nên nghiêm sắc mặt đứng ở triều đ́nh,
giữ ḿnh đứng đắn, đốc suất quan thuộc, mọi việc cùng ḷng làm cho thỏa
đáng; trên giúp vua nối ngôi điều không biết đến, dưới chữa chỗ lệch lạc
cho các quan, để Nhà nước yên như núi Thái Sơn. Thế là không phụ sự ủy
thác” (6) .
Giữ ḿnh đứng đắn là phương châm tu thân của kẻ sĩ, tất nhiên suốt đời.
Nhưng làm sao nghiêm sắc mặt măi với vua trên ngai vàng được! Hơn nữa,
chúng ta đâu sống măi mà làm phụ chính. Thông thường, đảm trách việc phụ
chính cũng chỉ năm, bảy năm thôi! Cho nên, xét kĩ mọi điều, trông trước
ngó sau, lẽ ra nhà vua nên chọn Ưng Đăng (tức là Ưng Hỗ)! Nhưng rơ ràng
trên giấy trắng mực đen của di chiếu, di chúc th́ nhà vua chọn Ưng Chân,
mặc dù cho rằng Ưng Đăng mới xứng đáng. Thế th́… ta phải tuân theo di
chiếu, di chúc một hôm nào đức vua không may không khỏi bệnh mà vội băng
hà thành người thiên cổ!
Hai đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vừa bước chậm vừa bàn
thảo. Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói:
- Điều quan trọng nhất, rốt lại, tôi không yên tâm là bởi hoàng tử trưởng
Ưng Chân vừa hiếu dâm, có nguy cơ bị mù loà, vừa kéo bè kết cánh, mà “bọn
tay chân” lại không ra ǵ, thân Pháp, thân “tả đạo”. Vắn tắt là vậy. Hay
nhà Nguyễn bản triều đă lâm vào vận bỉ rồi chăng? Tôi thấy đau xót và lo
âu quá. Quả thật, Ưng Chân là một người không thể không
bị mọi người khinh thường! Thật đáng tiếc! Từ lâu Ưng Chân đă được chọn
làm hoàng trưởng tử, thế mà không tu tâm sửa tính, không trau dồi chính
trị đúng đắn, lại c̣n tự ư để bị “bọn tay chân” mua chuộc, tập
hư, lèo lái nữa! Mới hồi tháng sáu Nhâm ngọ (1882), Hà Nội vừa bị thất
thủ, ai ai cũng bàng hoàng, căm giận, sục sôi, ăn ngủ không yên, thế mà
hoàng trưởng tử Ưng Chân lại chỉ hưởng lạc với thứ thiếp! “Thị vệ hiệp
lănh là Nguyễn Văn Thành thân hành đưa con gái đến Dục Đức đường làm thứ
thiếp, lạm dùng vơng đỏ, bằng đầu, nói dối là được từ chỉ (lệnh của thái
hậu)” , mặc dù “quan viên giao thiệp riêng với hoàng thân,
hoàng tử, đă nhiều lần nghiêm cấm, cho đến việc lấy vợ lấy chồng, đều có
lệ nhất định… […] … Nguyễn Văn Thành… […] … lại nói bậy là có từ chỉ… […]
… Hoàng trưởng tử cũng chuẩn cho [bị] phạt bổng hai năm” (8).
Thật là cả
gan, dám dối trá về từ chỉ! – Thượng thư Tôn Thất Thuyết thật sự căm
giận, buồn bực, ông nói nhỏ nhưng có lúc như rít lên –. Nói chung, tội của
Ưng Chân là tày trời, không bị án chém mà c̣n được chọn làm vua nối ngôi!
Thật không hiểu nổi! Một thằng dâm đăng, một thằng mù loà th́ làm vua thế
nào được hỡi trời! Hay nhà vua muốn chúng ta phải truất phế Ưng Chân thay
nhà vua?
- Xin quan Bộ
Binh b́nh tâm cho, tai mắt bọn xấu nơi nào cũng có! – Thượng thư Nguyễn
Văn Tường tán đồng –.
Nén bớt giận,
thượng thư Tôn Thất Thuyết cố đổi nét mặt tươi cười nhưng trông rất cau có.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói tiếp:
- Có lẽ ẩn ư
của nhà vua là thế! Nhà vua muốn chúng ta truất phế hoàng trưởng tử Ưng
Chân giúp nhà vua, cũng như chính vua Thiệu Trị đă truất phế hoàng trưởng
tử Hồng Bảo. Hồi đó, tiên đế “Thiệu Trị cảm thấy cái chết gần kề, gọi
bốn đại thần là Trương Đăng Quế, Lâm Duy Thiếp, Vơ Văn Giai và Nguyễn Tri
Phương đến bên giường và báo cho họ biết ư định của ḿnh về việc chỉ định
con trai thứ hai là Hồng Nhậm [tức vua Tự Đức] để kế vị, thay v́ con
trưởng là Hồng Bảo” (9). Lí do là bởi các lẽ:
“Các con ta, Hồng Bảo
tuy lớn, nhưng là con vợ thứ, mà ngu độn, ít học, chỉ ham vui chơi,
không thể để cho kế thừa nghiệp lớn được. Hoàng tử thứ hai là Phước Tuy
công [Hồng Nhậm] thông minh, nhanh nhẹn, chăm học, giống như ta, có thể
nối ngôi hoàng đế” (10). Việc bỏ trưởng, lập thứ thuở bấy giờ đă gây
ra nhiều tai tiếng, biến động, thậm chí có người c̣n ngờ vực rằng, các cố
mệnh lương thần được tiên đế Thiệu Trị uỷ thác đă tự ư thay đổi di chiếu!…
Đức vua Tự Đức rất khổ tâm về việc này. Hồi vụ Đinh Đạo, tôi đang là phủ
doăn… – Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói trong hồi tưởng, ông bỗng quay
sang nh́n quan Bộ Binh –. Đúng như quan lớn Tôn Thất nói, hẳn nhà vua muốn
hậu thế sẽ thẩm định lại việc bỏ trưởng lập thứ ấy, qua việc nhận xét về
ba hoàng tử Ưng Chân, Ưng Kỹ, Ưng Đăng mà ai cũng biết là nhà vua nhận xét
rất chính xác. V́ Đất nước, nhân dân và v́ tiền đồ nhà Nguyễn, chọn ai nối
ngôi, hăy tự trả lời và hẳn là đă rơ, có điều nhà vua không tiện nói thẳng
chăng? Và tội lỗi Ưng Chân lâu nay đúng là tội chết, nay vua muốn các đại
thần, triều thần xử giúp!
Hai người
cũng vừa bước đến nhà vuông Viện Cơ mật, phía sau chái Tả vu Điện Cần
chánh.
- Nhưng dẫu
sao, – Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói –, chúng ta cũng phải thực hiện
theo minh văn của di chiếu, di chúc, tôn vua nối ngôi là Ưng Chân. Thật
không dám suy diễn, ức đoán chút nào!
- Hoá ra,
quan Bộ Hộ vẫn c̣n dè dặt với tôi ư? Tôi đă quyết chí như thế, truất phế
Ưng Chân. Không thể để Ưng Chân nối ngôi cũng như trước đây, không thể để
Hồng Bảo nối ngôi!
Đó là một ngày tháng năm nguyệt lịch Quư mùi
(1883).
Lúc này, vua Tự Đức mới băng hà vào ngày hôm qua, mười sáu tháng sáu năm
Tự Đức thứ ba mươi sáu (19.07.1883). Bấy giờ, ngay sau khi tẩm liệm thi
hài vua Tự Đức, đặt vào quan tài xong, di chiếu, di chúc đều được mở tại
chính Điện Càn thành. Ưng Chân (Dục Đức) nhận mệnh, vào Điện Hoàng phúc cư
tang.
Đây là lúc không thể không có quyết định táo bạo và kịp thời, không thể để
muộn hơn. Do đó, hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đành nén
lại nỗi đau thương trước việc tang chế vua Tự Đức, vị vua vừa mới vĩnh
viễn nhắm mắt ĺa xa cơi đời này, để kịp thời cứu văn đại cuộc. Mạnh Tử,
một người phàm uyên bác đă được xưng tụng như một thánh hiền, một vị thầy
của nhà nho, chẳng đă nói đó sao: “Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi
khinh” (nhân dân là quư, Đất nước thứ nh́, vua chúa chỉ đáng xem nhẹ)?
Phải đặt vận mệnh nhân dân, Tổ quốc trên vai tṛ, kể cả tính mạng nhà
vua. Truất phế một người để cứu muôn dân, Đất nước hay hi sinh muôn dân,
Đất nước cho sự tồn tại của một vị vua nối ngôi tệ hại như Ưng Chân (Dục
Đức)? Câu trả lời đă trở thành kinh điển.
“Gặp khi tự quân ở điện Hoàng Phúc đem nhiều người riêng vào hầu hộ vệ ở
Điện Hoàng phúc và các sở Quang Minh, ([vua nối ngôi Ưng Chân] đều sai chế
bài cấp cho [bọn ấy] đeo). Bọn ấy nhân đó ra vào tự do. Các tờ tâu
khẩn cấp của các quân thứ các tỉnh tâu lên, có khi để ở trong điện một đêm,
vẫn chưa giao ra. Lại trong khi làm lễ điện
(cúng
vua mới chết) [vua nối ngôi Ưng Chân] vẫn mặc áo sắc lục cũ, hoặc sai chế
ngay các đồ dùng riêng (các thứ quần áo đồ dùng).
[Thượng thư Nguyễn] Văn Tường bảo kín [với thượng thư Tôn Thất] Thuyết
rằng:
- “Tiên đế đă bảo vua nối ngôi chưa chắc đương nổi việc lớn, lại giao cho
ngôi lớn. Nay bắt đầu, cử động đă như thế, huống chi là ngày sau ư? Đó là
việc lo riêng cho [kế hoạch chủ chiến của] chúng ta”.
[Thượng thư Tôn Thất] Thuyết vốn tính cương trực, lại cậy quyền cầm quân,
liền mật đáp rằng:
- “Cứ như lời chiếu th́ mưu tính là v́ xă tắc, bất đắc dĩ mà làm việc nhỏ
như Y Doăn, Hoắc Quang [phế lập], cũng là
chí của tiên đế”.
Nhân thế, [thượng thư Tôn Thất Thuyết] cũng có ư mưu bỏ [phế Ưng Chân (Dục
Đức)] đi.
Sau rồi vua nối ngôi lại nghĩ trong tờ di chiếu, [ư] răn bảo có những
câu không tốt, không thể truyền bá cho mọi người nghe. [Vua nối ngôi Ưng
Chân] triệu các phụ chính đại thần [đến, bảo] cần bớt một đoạn ấy đi,
không tuyên lục ra. Trần Tiễn Thành bảo thế cũng ổn. [C̣n thượng thư
Nguyễn Văn Tường, thượng thư Tôn Thất Thuyết], hai người đều thưa rằng:
- “Xin nhà vua quyết định”.
Vua nối ngôi tin là [cả ba đại thần] cùng bằng ḷng, bèn sai sao tờ di
chiếu, [sau đó] tự tay xóa bỏ đoạn ấy đi. [Vua nối ngôi Ưng Chân] dặn Trần
Tiễn Thành nhớ mà làm [theo kế hoạch đă bàn]. Thượng thư Nguyễn Văn Tường,
thượng thư Tôn Thất Thuyết], hai người ra [khỏi Điện Hoàng phúc], bàn kín
với nhau rằng: “Được rồi”.
Mưu [kế đối phó và truất phế] ấy bèn nhất định.
Đến lúc tuyên đọc tờ chiếu, [thượng thư Nguyễn] Văn Tường cáo ốm không
đứng trong ban chầu, [thượng thư Tôn Thất] Thuyết đứng vào bên Trần Tiễn
Thành. [Trần] Tiễn Thành đọc đến đoạn ấy, đọc nhỏ, hàm hồ không rơ. [Thượng
thư Nguyễn] Văn Tường ở chái bên đông, làm ra vẻ quái lạ, nói rằng:
- “Vua nối ngôi sao được giấu bớt di chiếu của tiên đế? Bậy bạ không ǵ to
hơn nữa! C̣n có thể nối theo tôn miếu xă tắc được ư?”.
Tuyên đọc xong, hai người hỏi vặn [Trần] Tiễn Thành. [Trần] Tiễn Thành [tự
bảo, “ta] biết là bị chúng đánh lừa [”],[và liền] nói chữa rằng:
- “Có phải không đọc đâu, nhưng lăo phu có bệnh ho, đọc đến đấy hết hơi,
tiếng nhỏ mà thôi”.
[Thượng thư Tôn Thất] Thuyết chứng tỏ là không phải, cho là càn bậy, cũng
như lời của [thượng thư Nguyễn] Văn Tường nói; rồi nhân phái quân túc vệ
canh gác trong ngoài cung thành rất nghiêm (bắt hết cả người riêng của vua
nối ngôi là bọn Nguyễn Như Khuê, hơn mười (10) người, giao cho đem gông
cùm lại).
[Khi] họp hoàng thân và các quan ở Tả vu, hai người tuyên bố về việc tội
lỗi của vua nối ngôi, xin bỏ đi, lập vua khác” (11).
Hai thượng
thư Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết kể đúng ba tội vừa mới phạm ngay
trước mắt mọi người của vua nối ngôi Dục Dức, mỗi tội đều phải xử đúng mức
án là truất chức, tử h́nh:
+++ 1. Đem bọn người riêng vào cung cấm, lại cho đeo chế bài đặc biệt, để
chúng tự tiện ra vào như chỗ chợ búa. Trong đó, có linh mục Nguyễn Hữu Cư
(5)! Đó là một sự vi phạm xưa nay chưa từng có! Như thế là vi phạm quy chế
cung cấm (dễ bị tiết lộ việc cơ mật của triều đ́nh, đe doạ sự an nguy của
Tổ quốc).
+++ 2. Bê trễ việc phê duyệt các tờ tâu khẩn cấp của các quân thứ. Nếu bảo
rằng vua mới nối ngôi c̣n bỡ ngỡ, sao vua nối ngôi không tức khắc bàn thảo
với các đại thần phụ chính, đ́nh thần, để phê duyệt cấp tốc? Rơ ràng Ưng
Chân (Dục Đức) không tận tâm với Đất nước, với nhân dân! Như thế là vi
phạm luật về quân cơ, đạo làm vua.
+++ 3. Không mang áo quần đại tang khi cúng vua cha Tự Đức vừa mới băng hà,
lại c̣n sai chế ngay áo quần phục sức, đồ dùng có tính chất trang sức,
không đúng với đạo nghĩa cha con khi vua cha mới chết. Như thế là phạm
luật đại bất hiếu.
“[Trần] Tiễn Thành muốn can ngăn, [thượng thư Tôn Thất] Thuyết trừng mắt
nh́n, nói rằng:
- “Ông cũng có tội to, c̣n nói ǵ!” (11). Ông thừa biết
tội truyền chế thư sai lầm sẽ bị mức án nào rồi, sao c̣n như thế! Bây giờ
lại c̣n can ngăn việc thi hành pháp luật nữa!
“Trong khoa đạo có chưởng ấn là Phan Đ́nh Phùng. [Ông ấy] tiến lên nói
rằng:
- “Vua nối ngôi nếu có lỗi, chưa thấy can ngăn, đă vội bàn như thế!
Việc bỏ vua, dựng vua là việc to, lại dễ dàng quá thế”” (11) .
Thật ra, chưởng ấn Đô sát viện Phan Đ́nh Phùng chỉ làm chức năng phản biện
để sáng tỏ việc xét xử, luận tội mà thôi. Lập ra Đô sát viện để làm ǵ,
nếu không phản biện trước một vụ phế lập có xét xử trọng đại đến thế?
Chưởng ấn họ Phan thừa biết, v́ đại cuộc, hai thượng thư Nguyễn Văn Tường
và Tôn Thất Thuyết làm đúng, về ân t́nh đạo nghĩa, cũng như về luật pháp.
“[Vốn nóng tính, thượng thư Tôn Thất] Thuyết quát lên, sai tả hữu đem [Phan]
Đ́nh Phùng trói [lại], để ở trại quân Cẩm y, bảo đợi để nghiêm trị.
Lúc bấy giờ, bốn, năm (4, 5) người theo sau [Phan] Đ́nh Phùng nghe [thượng
thư Tôn Thất] Thuyết thét trói [Phan] Đ́nh Phùng, tức [khắc] đều lui tan.
Cho nên [Trần] Tiễn Thành và hoàng thân, các quan không ai dám trái; rồi [tất
cả] cùng kí tên tâu xin ư chỉ của Từ Dụ thái hoàng thái hậu, truất bỏ [Ưng
Chân, tức là Dục Đức] đi.
[Hai thượng thư chủ chiến] sai người đưa vua nối ngôi về chỗ cũ là Dục Đức
đường, [dặn bảo quân lính] canh pḥng rất kĩ.
Khi mật bàn người được lập, [thượng thư Nguyễn] Văn Tường để ư đến hoàng
tử thứ ba [là Ưng Đăng] mà [thượng thư Tôn Thất] Thuyết th́ cho là hoàng
đệ Lăng quốc công có tư chất thông minh, vốn quen biết sẵn, [nên] để ư đến
Lăng quốc công” (11). Biết Tôn Thất Thuyết là người thuộc tôn
thất, tất nhiên quyền chọn người nối ngôi nhà Nguyễn thường là được ưu
tiên, vả lại, nhiều người c̣n vin cớ trong di chiếu có nhấn mạnh việc tiên
đế Tự Đức chọn vua nối ngôi chỉ v́ lí do duy nhất là đă lớn tuổi, cho nên
thượng thư Nguyễn Văn Tường nhân nhượng, miễn là không làm hỏng đại cuộc
đang hồi gay go ở Bắc Ḱ. “[Thượng thư Nguyễn] Văn Tường tính là không
tranh nổi, cũng theo lời ấy, rồi đem ư xin lập vua nhiều tuổi tâu trước
với Cung Gia thọ (tức là Từ Dụ thái hoàng thái hậu) để lănh chỉ. Được ư
chỉ truyền rằng:
“Hiện nay trong th́ lo về vua mới mất, ngoài th́ có giặc ngoại xâm, người
ít tuổi thực không đương nổi, nhưng thân này già cả, sao biết được, phần
nhiều nhờ Tôn nhân, phụ chính, đ́nh thần, cùng nhau chọn các hoàng đệ, ai
nên lập th́ lập lên làm vua”.
[Thượng thư Tôn Thất] Thuyết bèn đến pḥng Cơ mật bảo bọn thượng thư
Nguyễn Trọng Hợp, thị lang Lâm Hoành, Trần Thúc Nhận [Nhẫn], Hoàng Hữu
Thường, thị vệ đại thần Tôn Thất Thái rằng:
- “Ngày nay phi [:nếu] t́m vua nhiều tuổi cho xă tắc, không ai hơn Lăng
quốc công. Các ông nên phải nói”.
Lúc bấy giờ bên ngoài nghe tin cấp báo đương gấp, chợt có biến bên trong,
đều không ai biết làm thế nào. Đến khi hội bàn ở Tả vu, [thượng thư Nguyễn]
Văn Tường và [thượng thư Tôn Thất] Thuyết hỏi trước các thân phiên, hoàng
thân th́ [tất cả] đều nói rằng:
- “Tuy cũng ở trong tôn thống, nhưng ngày thường mỗi người ở riêng một nhà,
không biết rơ được. Xin ba đại thần cùng đ́nh thần liệu bàn”.
[Hai đại thần Nguyễn Văn] Tường, [Tôn Thất] Thuyết lại hỏi [đ́nh thần].
Đ́nh thần nói ngày nay việc không thể hoăn được. [Nguyễn] Trọng Hợp bèn
nói:
- “Trong các hoàng đệ có Lăng quốc công, vốn [được] khen là [người] có học,
được tiên đế [Tự Đức] cho sung chức Tôn đài. Nay hiện việc như thế, chưa
biết Lăng quốc công có đương nổi không?”.
Lăng quốc công đứng dậy, khóc, nói rằng:
- “Tôi là con út của tiên đế [Thiệu Trị], tư chất tầm thường, thực vạn vạn
phần không dám nhận”.
[Hai đại thần Nguyễn] Văn Tường và [Tôn Thất] Thuyết đều nói rằng:
- “Đấy thực là phúc của xă tắc, xin đừng từ chối”.
[Hai đại thần] bèn cùng các quan kí tên tâu xin ư chỉ của thái hoàng thái
hậu, lập Lăng quốc công làm vua” (11).
Sự thể đă diễn ra như vậy, vào thời điểm “Quư mùi, năm Tự Đức thứ ba mươi
sáu (1883), tháng sáu, ngày mậu th́n [ngày 20 nguyệt lịch, tức là ngày
23.07.1883]” (11). Đúng
vào ngày ấy, sau ba hôm, kể từ ngày Ưng Chân (Dục Đức) nhận mệnh làm vua
nối ngôi, “[hai thượng thư] Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết [đă truất]
bỏ vua nối ngôi, lập em út vua là Lăng quốc công Hồng Dật” (11) .
Về Phan Đ́nh Phùng?
Sau đó, chưởng ấn Phan Đ́nh Phùng, theo Bộ H́nh xét xử, ông bị cách chức,
trả về quê, nhưng vẫn được giữ nguyên tịch là đồng tiến sĩ xuất thân (12),
vốn đỗ khoá Bính tí (1877), năm Tự Đức thứ ba mươi. Ḱ thi đ́nh ấy, thượng
thư Nguyễn Văn Tường làm chánh giám khảo đọc quyển. Thật ra, lúc xảy ra sự
phế lập, bấy giờ, Phan Đ́nh Phùng đă hiểu rơ vụ việc nhưng chưa thật kĩ,
vả lại chức trách của ông là phải phản biện, và ông chỉ phản biện mà
thôi. Sau đó vài năm, khi hiểu sâu sắc hơn rằng, không thể không truất
phế một ông vua nối ngôi lại thân Pháp, “tả đạo” là Ưng Chân (Dục Đức),
chính Phan Đ́nh Phùng đă hưởng ứng rất nhiệt thành việc xây dựng Sơn
pḥng Hương Khê ở Hà Tĩnh do hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết quyết tâm phát động việc củng cố, xây dựng thêm để chống Pháp (13).
Hai thượng thư Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đều biết rằng, đó là việc
bất đắc dĩ phải làm, hơi tàn nhẫn, để loại trừ một tên vua chủ “hoà”, thân
Pháp, “tả đạo” và có quá nhiều hạn chế không sửa chữa, khắc phục được.
Hiếu dâm, mà lại hiếu dâm ở chế độ đa thê, là bản tính thuộc về bẩm
chất, làm sao chữa được! V́ hoang dâm, bao tên vua đă làm tan nát cơ
đồ, nước mất, dân nô lệ ngoại bang, hoặc ít ra cũng khiến triều đ́nh rối
loạn. Lê Tương Dực đời Lê là một ví dụ điển h́nh. Vả lại, Dục Đức c̣n có
nguy cơ mù loà! Mặc dù đây là hạn chế, khuyết tật ngoài ư muốn, nhưng làm
sao đọc tấu, sớ, làm sao phê duyệt, làm sao biết thực trạng dân t́nh? Nguy
cơ mù loà, rồi sẽ chỉ dẫn cả dân tộc vào ṿng tăm tối, để bọn tay chân lèo
lái Đất nước vào vực xoáy bi thảm! Và không thể không loại trừ tên tội
phạm Trần Tiễn Thành, vốn chủ “hoà”, về sau lại thân Pháp, “tả đạo”, và
nhất là để Bộ Binh tŕ trệ, lạc hậu trong thời đoạn Đất nước bị ngoại xâm,
hơn lúc nào hết phải chú trọng tối đa đến binh lực!
Hai đại thần chủ chiến đă thấy rơ việc truất phế Dục Đức (Ưng Chân) và răn
đe Trần Tiễn Thành cố nhiên sẽ ít nhiều tạo nên chấn động trong triều,
ngoài tỉnh, trong lúc Pháp đang tăng cường binh lực để đánh chiếm Bắc Ḱ
là không nên. Nhưng thà chấp nhận một chút chấn động, rồi sẽ lại nhanh
chóng ổn định, c̣n hơn chấp nhận t́nh trạng Dục Đức măi ngồi trên ngai
vàng, nắm quyền lực tối thượng trong tay để buộc triều thần, quan quân
cùng nhân dân phải thực thi chính kiến chủ “hoà”, thân Pháp (thực chất là
đầu hàng giặc xâm lược), và bọn tay chân tha hồ thao túng, lũng đoạn theo
ư đồ cuả thực dân viễn chinh, cố đạo Pháp.
Thực chất sâu xa vụ truất phế này là do việc bọn tay chân (trong đó có
giáo sĩ Nguyễn Hưu Cư) được tự do tùy tiện ra vào cung cấm, tham dự vào
việc cơ mật bên cạnh vua, c̣n cận kề hơn cả Viện Cơ mật – Thương bạc phía
sau Tả vu Điện Cần Chánh! Nếu Pháp không mua chuộc, lợi dụng Ưng Chân (Dục
Đức) và Ưng Chân nhất quyết không đồng thuận, làm ǵ có việc phế lập ấy!
Rơ ràng Pháp đă tấn công vào triều đ́nh bằng sự đầu cơ chính trị, bằng
gián điệp, Pháp muốn nắm lấy ngai vàng bằng bàn tay bọn tay chân, trong
đó có linh mục Nguyễn Hữu Cư!
Do đó, hai đại thần không thể không hành động quyết liệt, táo bạo.
Đó cũng là chí của tiên đế Tự Đức, v́ xă tắc, và cũng v́ vụ Hồng Bảo
mấy chục năm trước (theo ẩn ư trong di chiếu, di chúc, cần phải làm rơ cho
vua Tự Đức).
Nh́n chung, vụ phế lập đă được Từ Dũ thái hoàng thái hậu cùng triều thần
hoàng tộc ủng hộ, trong hạn chế nhất định của ư hệ bảo hoàng, hạn chế
của cơ chế truyền ngôi phong kiến.
2
Việc tang lễ vua Tự Đức vẫn được tiến hành một cách nghiêm túc, trang
trọng. Trong kinh, ngoài tỉnh đều để tang tiên đế theo lệ định, có châm
chước, chiểu theo t́nh h́nh chiến sự (14).
Vị quan đă về hưu, Trần Đ́nh Túc, xin vào bái lạy chịu tang, lúc làm lễ
thành phục tại chính Điện Kiền thành
(15).
Theo thông lệ, nhiều vị quan tại triều và các tỉnh đều được thăng chức hàm
trong dịp tấn tôn vua mới, Hồng Dật lấy niên hiệu Hiệp Hoà. Quản lí sự vụ
Bộ Binh Trần Tiễn Thành được thăng thụ thái bảo, Cần Chính điện đại học sĩ.
Nguyễn Văn Tường với chức hàm và tước dưới triều Tự Đức đă là phụ chính
đại thần, thái tử thái phó, hiệp biện đại học sĩ, lănh thượng thư Bộ Hộ,
danh tước Ḱ Vĩ bá, nay được thăng thụ Văn Minh điện đại học sĩ, tấn phong
Ḱ Vĩ hầu. Lănh thượng thư Bộ Binh, Vệ chính nam Tôn Thất Thuyết: Điện
tiền tướng quân, hiệp biện đại học sĩ, tấn phong Vệ chính bá… Tất cả đến
mấy chục vị được thăng thưởng, trong đó, có thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng
Hợp, Sử quán toản tu, nhà thơ tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, phủ doăn
Thừa Thiên, nhà viết tuồng Đào Tiến (Tấn) (16)…
Việc pḥng thủ càng được chú trọng. Ở Quảng Nam, tuần phủ Đặng Đức Địch
tâu xin tăng cường pḥng thủ. Viện Cơ mật cho là đường sông tỉnh ấy với
tỉnh thành hơi xa, vả lại chống đánh quân binh nước Pháp, v́ chúng có vũ
khí công phá mạnh, “không nên toàn trông cậy vào đồn luỹ” (17)
, và trong chừng mức vừa đủ, tránh phiền nhọc
dân, “việc đoàn kết hương dũng, dự dồn [:chuẩn bị tập trung] vơ sinh”
(17) là việc nên làm. Sau đó, hai viên
tướng dũng là đề đốc Bắc Ninh Trần Xuân Soạn, thương biện Thanh Hoá Trương
Văn Đễ liền cho triệu về kinh, để lo pḥng thủ khẩn cấp (18). Một ngàn
rưỡi (1.500) quân [Quảng] Ngăi – [B́nh] Định và Nghệ An được điều về kinh
đô (19). Hữu quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Kiên dũng nam Lê Sỹ được
sung chức phó sứ Hải pḥng cửa biển Thuận An (20).
Lúc này, công việc ở Viện Cơ mật hầu như chỉ do hai đại thần Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết quản nhiệm. “Phụ chính đại thần là Trần Tiễn
Thành v́ tật cũ lại phát ra (hai chân đau buốt khó đi)” (21), từ tháng bảy,
“đă xin miễn cho không phải vào chầu, [được] lưu ở công đường làm việc”
(21).
Hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết tâu lên vua Hiệp Hoà:
“Phái viên nước Pháp từ sau trận Cầu Giấy, không ra đánh một trận nào.
Quân ta thắng trận mà không thừa thế tiến đánh, lại vội rút lui, hơn một
tuần không tiến đánh. Đó là quan quân thứ để cho giặc có th́ giờ, thực là
thất cơ lắm. Xin nghiêm sức cho quan quân thứ chia đường tiến đánh, cho
chúng không dám mưu toan việc khác” (22) .
Tất nhiên, vua Hiệp Hoà phải nghe theo, một phần v́ nể nang hai quan phụ
chính, một phần do khí thế tiến công đánh Pháp ở các quân thứ Bắc Ḱ đang
lên cao. Thật sự, lúc này, người ta chưa biết rơ chính kiến vua Hiệp Hoà
có thay đổi hay không!
Bấy giờ, “… quân tỉnh [Nam Định] chưa về [đội] ngũ hết, [mâu thuẫn]
lương – giáo c̣n phải ngăn ngừa, cấm trấp… […]… vỗ yên nhân dân, trấn áp
giặc người Kinh, hoặc chia ra từng đạo đánh [Pháp] gấp, hoặc cùng với Sơn
Tây, Bắc Ninh hẹn ngày cùng đánh giặc [Pháp], há chẳng chia được thế giặc
ư?…” (23)
…
Hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết lại tâu:
“Ta cùng với nước Pháp, mạnh yếu khác nhau, cho nên trước th́ ba (03)
tỉnh, sau rồi sáu (06) tỉnh
Nam
Ḱ đă bị chúng chiếm cứ. Vừa rồi, đến Bắc Ḱ lấy bốn (04) tỉnh rồi lại trả
liền, nay lại lấy Nam Định, Hà Nội mà chiếm cứ. Hoà ước rơ
ràng, mà chúng dám coi thường như thế, th́ hoà ước cũng không đủ cậy. Ta
đă chịu khuất, không dám tranh đua sức mạnh, mà chúng cũng chưa từng
thương kẻ yếu.
Tuy thông sang Vân Nam, là nguyện vọng của chúng, nhưng việc mượn đường
chưa chắc là thực cả. (Vừa rồi nghe tin nhật báo: nói muốn đến Thuận An
bắt hiếp phải hoà). Đấy là do một vài kẻ [thực dân] cầu công, nguyên không
phải do [Quốc hội] nước ấy cùng bàn, mà ta chỉ lần chần nhát yếu, không
dám làm ǵ, dần dần đến cái thế không thể làm được. Nay nhờ tiên đế đưa
thư cho nước Thanh nói rơ nghĩa lớn, Lư Hồng Chương trù lượng phái quân
sang, làm thanh thế cứu ứng ở xa, cho nên chúng chưa thể nuốt được. Nhưng
hiện nay
thế
thành ra cưỡi hổ, tên đă ở cung, nếu không đánh tan sào huyệt, th́
chúng có th́ giờ mưu tính, không những yêu sách nhiều cách. Lư Hồng Chương
ngại về điều đ́nh, mà
[quân
Pháp] đến cửa Thuận An bắt hiếp phải hoà, ta
cũng khó giành được phần thắng.
Xin lại giáng dụ nghiêm sức các quan quân thứ chia quân tiến đánh,
cho chúng nhọc về pḥng bị, không có th́ giờ mưu tính việc khác, th́ ta
mới giữ vững để đợi nước Thanh xử trí”.
Vua bảo rằng trí khôn mọi người đă định, việc thành là ở quả
quyết, tạm nghe theo” (24)
.
Hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, một lần nữa xác định t́nh
thế, thế thành ra cưỡi hổ, tên đă ở cung! Không thể không lấy tấn công làm
pḥng thủ. Hơn nữa, qua thông tin hằng ngày từ các quân thứ, từ nhật báo,
hai đại thần biết rơ âm mưu của Pháp: Pháp định tấn công vào cửa biển
Thuận An, bấy giờ ta cũng khó giành được phần thắng trước hoả lực của
Pháp, và Pháp sẽ bắt ức ta phải chịu “hoà”, tức là nhân nhượng, chấp nhận
chúng “bảo hộ”! Trong khi đó, thực tế ngoại giao Trung – Pháp là không
có kết quả như mong muốn, nhưng vẫn không phải nước Thanh không thể giữ
vai tṛ xử trí cuộc chiến đang nổ giữa Pháp và Đại Nam.
Do đó, không thể không lấy tấn công làm pḥng thủ. Muốn triệt tiêu kế
hoạch đánh Thuận An của Pháp, không c̣n cách nào khác là tấn công binh
lực Pháp đang trú đóng tại Bắc Ḱ.
Thành Hải Dương hiện gần đường sông, rất dễ bị tàu binh của Pháp tấn công.
Do đó, có lệnh dời về trấn cũ ở xă Phúc Cầu, huyện Đường An.
Đồng thời, theo đề nghị của hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết, vua Hiệp Hoà có mật dụ quở trách thống đốc Hoàng Tá Viêm và tổng
đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản, với nội dung động viên tấn công giặc Pháp
là chính. Mật dụ trách thống đốc họ Hoàng “tạm bợ dùng dằng, cho giặc
có th́ giờ” (25), “quân thứ
Nam
Định có bao nhiêu, mà c̣n dám khiêu chiến với chúng?” (25) , và trách tổng
đốc họ Trương “đă đảm đương một đạo quân, há không đáng tự bày mưu kế,
thế mà không biết một ḷng cùng lo để báo ơn nước, mà đều tự chia ra không
từng tiến đánh” (25) , để
rồi thúc giục:
“Việc đánh trận lấy mưu mà thắng, [việc] lo nghĩ lấy nhất định
làm mạnh. Nay quân đă mộ thêm rồi, quân các doanh đă đến thêm rồi. Thế
trận đă thành, người họp đă đông. [Như thế] không phải là không thừa cơ
được, cũng quyết không có lí giữa chừng lại bỏ! Nay cho Hoàng Tá Viêm lập
tức cổ động tướng biền, hẹn cùng các quân thứ, hoặc chia đường tiến đánh,
hoặc hợp sức đánh mạnh, hạn trong một tháng, đem các sở thương chính ở Hà
Nội, Nam Định san bằng tất cả, hoặc có mưu kế ǵ có thể đánh cho chóng
xong, cũng cho tâu lên đợi chỉ quyết định. Nếu c̣n kéo dài ngày để quân
lính mỏi mệt th́ quân luật rất nghiêm…” (25)
.
Đó là tinh thần: “Thế cưỡi hổ đă thành. Ta không tính chúng, chúng
cũng tính ta, tính trước được th́ thắng. Nên cùng ḷng hợp sức tính ngay,
khỏi đến nỗi đắp núi c̣n thiếu một sọt đất” (26)
, trong những ngày cuối đời của vua Tự Đức!
Khí thế hào hùng, lấy tấn công làm pḥng thủ, dâng lên rất cao ở triều
đ́nh và các quân thứ tại Bắc Ḱ!
Hết
tệp 7 (phân đoạn 1, truyện kí thứ 10)
Khởi viết truyện
thứ mười này vào lúc khoảng 07 giờ
ngày 01.01.2003.
Viết
đến ḍng chữ này lúc 18 giờ 05 phút,
ngày
mùng 04.01.2003 (02.12 Nh. ngọ HB.3)
tại
thành phố Hồ Chí Minh.
TRẦN
XUÂN AN
(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.),
tập 35, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1976, tr. 198.
(2) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 231; Nguyễn Đắc Xuân (biên soạn),
Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành (PCĐT. Tr.TTh.), (trong đó có in lại
bài viết của Đào Duy Anh trên Tập san Những người bạn cố đô Huế [Bulletin
des amis du vieux Huế (BAVH.), linh mục Pháp Cadière làm chủ bút, số 4 –
6/ 1944]), Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 71 – 72.
(3) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 206.
(4) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 197.
(5) Các báo cáo khoa học (CBCKH.), bài của Trần Viết Ngạc, Hội thảo khoa
học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), Trung tâm Khoa học
xă hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên –
Huế, 02.07.2002., tr. 44; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (VNSL.), Nxb.
Tân Việt, bản 1964, tr. 566; Aldophe Delvaux, BAVH., số 1, 1941.
(6) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 199 – 202.
(7) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 147.
(8) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 139.
(9) Yoshiharu Tsuboi (dẫn theo Bùi Quang Tung), Nước Đại Nam đối diện với
Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVP. & TH.), bản dịch Nguyễn Đ́nh Đầu và nhóm cộng
tác viên, UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 157 – 158…
(10) ĐNTL.CB., tập 26, 1972, sđd., dẫn theo NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU.
Tp.HCM. xb., 1993, sđd., tr. 157 – 158.
(11) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 205 – 209.
(12) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 210.
(13) ĐNTL.CB., tập 36, 1976, sđd., tr. 184 – 185.
(14) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 209.
(15) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 209.
(16) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 211 – 213.
(17) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 210.
(18) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 210.
(19) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 210 – 211.
(20) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 211.
(21) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 240.
(22) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 213 – 214.
(23) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 214.
(24) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 214 – 215.
(25) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 217 – 218.
(26) ĐNTL.CB., tập 35, 1976, sđd., tr. 197.
Chú thích xong lúc
11 giờ 17 phút,
ngày 15.01.2003
(15.01 Q. mùi, năm
thứ hai công nguyên Ḥa B́nh [:HB.3])
.
TRẦN XUÂN AN
Hết
tệp 7
(phân đoạn
1)
Xin xem tiếp
tệp 8
(phân đoạn
2),
truyện kí 10