Tệp 7
PHÂN ĐOẠN 7 TRUYÊN KÍ
THỨ 7
TRẦN
XUÂN AN
CƯỠNG ƯỚC “HỮU
NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC
THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874
Truyện kí thứ
bảy
(phân
đoạn 7)
17
Tháng chín nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (1874), thượng thư Bộ H́nh, sung Cơ mật viện đại thần,
tước hiệu Ḱ Vĩ bá Nguyễn Văn Tường có dịp để suy nghĩ về bản thân, khi
nghe được nhận định của thượng thư Bộ Lễ Lê Bá Thận, lúc vị quan họ Lê
này được thăng thự hiệp biện đại học sĩ, lại được sung Cơ mật viện đại
thần. Nhận định ấy Lê Bá Thận viết trong bản sớ xin từ, không dám nhận
hàm chức mới được phong:
“… Nay
lạm dự vào Viện Cơ mật, tâm cơ, thù ứng cho khéo,
nghĩ làm nhanh nhẹn tinh tường, thần không bằng Phạm Phú Thứ; học thức
sâu rộng, mưu chước tinh thâm, thần không bằng Nguyễn Tư Giản; làm việc,
tính kế thường hợp cơ nghi, có tài hoạt bát ứng biến, thần không bằng
Nguyễn Văn Tường…” (217).
Ông xem đó cũng là lúc ḿnh phải
soi thấy được ḿnh qua đồng sự. Với nhận định đó, ông tự bảo, không bao
giờ nên tự măn. Và thật ra, mục tiêu cùng phương châm
“chiến để hoà, hoà để thủ, và thủ để chiến”, chiến là tiên quyết và
hậu quyết,
đồng thời, “hoà”
với nghĩa là để canh tân Đất nước,
ông thấy nào đă làm được ǵ đâu. Năm nay, ông cũng đă bước vào tuổi năm
mươi mốt (51), kể cả một tuổi trong ḷng mẹ!
Cũng tháng chín, vua Tự Đức c̣n ra
sắc dụ
“ban cấp hai bản
hoà ước, thương ước cho các địa phương” (218),
bởi “khi ấy, hai bản ước cùng với người nước Pháp đă
bàn định xong, đ́nh thần lo về ḷng người ngờ vực, xin ban mệnh lệnh
trước”
(218), mặc dù chưa được quốc trưởng Pháp và vua Tự Đức phê chuẩn, làm lễ
hỗ giao.
Vua Tự Đức xuống dụ:
“… Từ
xưa vẫn không phải cậy hoà để dựng nước, mà [cũng]
chưa từng không giảng hoà để cho quân nghỉ ngơi. Tạm thời làm việc [giảng
hoà này] phải đều là tính cho dân.
… […] Duy nghĩ: Thường t́nh người ta, quen ở thói thường, t́nh thế
trong ngoài, không trông thấy rơ, th́ ư kiến này khác, hoặc chưa bỏ hết,
nên [trẫm] phải không sợ phiền, hiểu bảo cặn kẽ trước khi có việc. Phàm
các quan thân, sĩ thứ, quân dân của ta, đều phải đặt lẽ phải ở ḷng ḿnh,
nên lấy việc nước làm trọng, chớ lấy kế riêng làm đầu, chớ đem bàn ngang
khác nhau ở đường ngơ, chớ cho lời răn bảo của triều đ́nh làm tờ giấy
suông… […] … Gần đây triều đ́nh Trung Quốc cùng bốn nước ở biển Tây [Anh,
Nga, Đức, Mỹ…] giảng hoà, cũng cho đặt khâm sứ, lănh sự, và các người
buôn nước Tây buôn bán ở bờ cửa biển Trung Quốc. Đây đều là việc dĩ
nhiên, ai cũng tai nghe mắt thấy, […] cũng không phải một ḿnh nước ta.
Phải nên nghĩ kĩ trước sau, trên dưới cùng ḷng, để giữ toàn cục. Trẫm
có ḷng mong” (219).
Phải chăng vua Tự Đức và triều
thần muốn san phẳng ḷng hoài nghi, hoài nghi về phía này, phía khác, và
san phẳng cả sự khác biệt về chính kiến trước bước ngoặt lịch sử mới của
Tổ quốc Đại Nam? Thật ḷng, không ai không ngờ vực về
“thiện chí” của thực dân Pháp và cố đạo đội lốt tôn giáo! Cuối cùng, trừ bản “hoà” ước không phổ biến rộng, c̣n thương ước
được in sao ra nhiều bản, niêm yết khắp các phủ huyện (219).
Sau đó khoảng một tháng, từ “dữu
dân”, “tả đạo”, hoặc “đạo” đều được thay bằng từ “giáo dân”, với nghĩa
là dân có giáo
hoá. C̣n hai từ Pháp đề nghị là “nghĩa dân”, “đức dân”,
không được chuẩn. Và từ đó, cũng thay từ “lương dân” thành “b́nh
dân”, với nghĩa là dân có ḷng hoà hảo (220). Đó cũng là
việc thực thi điều khoản IX của “hoà” ước Giáp tuất 1874.
Công việc triển khai “hoà” ước c̣n
thể hiện trong việc sắp xếp lại nhân sự. Phạm Phú Thứ được điều bổ làm
thự tổng đốc Hải [Dương] – [Quảng] Yên, kiêm sung tổng lí thương chính
đại thần. Trần B́nh: thượng thư Bộ Hộ. Nguyễn Tăng Doăn chính thức lănh
tuần phủ Hải Dương. Trần Hy Tăng thôi giữ chức tuần phủ Trị – B́nh, ra
Hà Nội làm tuần phủ (Phạm Thận Duật về kinh, đợi bổ chức vụ khác).
Nguyễn Thành Ư: khâm phái kiêm lănh sự ở Gia Định. Phó lănh sự tại Gia
Định là Phan Kiêm Ích (221).
Bấy giờ, sứ bộ sang Trung Hoa do
Phan Sĩ Thục làm chánh sứ trở về nước, lại bị bọn thổ phỉ, giặc Cờ vàng
làm nghẽn đường (222)!
Cũng vào thượng tuần tháng mười
này, chánh sứ Nguyễn Văn Tường lại phải cùng các tuỳ tùng xuống tàu thuỷ
hơi nước vào lại Gia Định. Chả là tên thống đốc Krantz cứ nằng nặc yêu
sách vua Tự Đức và triều thần chấp nhận sửa đổi một phần của điều khoản
thứ 02 trong thương ước cứ ngỡ là đă hoàn tất từ hạ tuần tháng bảy
nguyệt lịch trước! Một lần nữa, nhà vua và các đại thần cố nhẫn nại
(223)!
Ông cùng các tuỳ tùng liền trở về
kinh đô Huế sau khi kí xong.
Thượng thư Bộ H́nh, sung Cơ mật
viện đại thần, tước hiệu Ḱ Vĩ bá Nguyễn Văn Tường từ đây mới thực trở
thành rường cột thường trực ngay tại triều đ́nh Đại
Nam.
Hạ tuần tháng mười nguyệt lịch, ông c̣n được vua Tự Đức cử làm công việc
của một đại thần quản lí sự vụ Nha Thương bạc với thượng thư Bộ Lại
Nguyễn Tư Giản. Ông thật ḷng muốn từ chối, bởi phải đảm đương việc
ngoại giao, ngoại thương ấy trong thời đoạn “chịu khuất”, với
“sách lược thoả
hiệp tạm thời”
chỉ chuốc thêm những nỗi đau ḷng
và phẫn uất. Nhưng rồi vẫn không thể khước từ được, nên phải đành khiêm
tốn viết sớ nhận chức, bởi không thể nhận chức một cách miễn cưỡng!
“Cho
Nguyễn Tư Giản kiêm sung Nha Thương bạc, [Nguyễn
Tư] Giản dâng sớ xin từ. Vua bảo rằng: “Chức Thương bạc của nước ta chỉ
là hàm hư, để tiện làm giấy tờ giao thiệp mà thôi, không phải ví như Nha
môn Tổng lí ở nước Thanh. Phàm việc đă cùng với Viện [Cơ mật] bàn làm;
chỉ thảo giấy tờ, lại có Viện [Cơ mật] bàn để sửa chữa; xét ra không có
việc ǵ khó lắm, tưởng ngươi cũng có thể làm được. Duy có trong khi bàn
bạc, tưởng cũng để cho ngươi tập mà biết, cho có nhiều nhân tài, không
chỉ một người giữ măi. Ngươi không thể tất ư ấy chăng? Nhưng lúc này
thường xem ngươi về khoa ngôn ngữ h́nh như chưa được giỏi. Nay đương
được chức ấy, chỉ Nguyễn Văn Tường; [Nguyễn Văn Tường] làm việc ấy trước
sau vốn đă am hiểu thông thạo, đă không lănh chức Thương chính cũng lănh
chức Thương bạc, để việc giao thiệp với nước ngoài được phát triển mưu
mô, nói hết lời, xem hiệu quả, cho xứng ư trẫm; [trẫm] bắt phải làm cho
xong. Nguyễn Văn Tường, ngươi phải kiêm sung chức ấy. Nguyễn Tư Giản,
ngươi cũng không được giữ ư kiến, và không bắt chước người [chỉ] giỏi hư
văn mà ít thực dụng, mới là không hổ thẹn”” (224).
Vua Tự Đức đă phải quở trách cả
hai đại thần gần như quở mắng!
18
CHÂU BẢN (225)
“Người
Tây xảo trá trăm mối, việc nghe đoán càng phải thận trọng”
(Bản tấu ngày
sáu [06] tháng hai [02] năm Tự
Đức thứ hai mươi mốt, Mậu th́n [1868]).
“Người
Phú kia đă chiến thắng ta, việc đánh giữ khổ biết bao, mà vẫn đ̣i ta cùng thề, [là] bởi v́ nó từ trùng dương mà tới, chễm chệ ở
đất ta, bên trong th́ sĩ dân ta chống lại, bên ngoài th́ các nước vây
quanh ḍm ngó, ăn ngủ sao yên, cho nên ắt phải đ̣i ta kí hoà ước, để
khiến cho ta phải chịu đè nén, lấp đường công luận của các nước, mà cô
lập t́nh trông mong
của sĩ dân ta, tiện cho nó từ từ xử trí. Điều đó là sự khu xử giảo
hoạt của nó. Nếu không thế, sao năm trước hoà ước phân minh, mà nay phó
hoàn toàn cho hư văn, lại c̣n đ̣i sửa lại!” (Bản tấu tháng ba [03],
năm Tự Đức thứ hai mươi mốt [21], Mậu th́n [1868]).
“Đánh th́ việc đă qua, không dám nói lại. Hoà như
nay th́ có ǵ để trông cậy?…
Vả, không lo bọn giặc ngang ngược, chỉ lo ta không
thể tự cường, không lo bọn giặc tham tàn, chỉ lo ta không thể tự giữ…
Kinh sư là đất căn bản, đồn luỹ đă vững chăng? Khí
giới đă tinh chăng? Chí quân ḷng dân đă được khích lệ chăng? Đường bộ,
đường thủy, pḥng bị đă vững khắp chăng? Tỉnh B́nh Thuận đương xung yếu,
các tỉnh đạo khác cũng có hải phận, quân lương binh lính làm thế nào cho
tinh và đủ? Hào mục, sĩ dân làm thế nào cho chuyên luyện? Nơi nào hiểm
yếu cần phải giữ? Phép pḥng thủ nào tất vững? Hoặc đặt riêng chuyên
viên để uỷ thác công việc, hoặc chọn cử thổ hào các nơi để cho quen
thuộc. Phàm những điều ấy tưởng cũng nên xét kĩ, trù liệu chín chắn và
sớm thi hành để khỏi trở ngại về sau”
(Vua Tự Đức châu
phê: “Điều trần này thảy đều thiết thực”). (Bản tấu tháng ba
[03], năm Tự Đức thứ hai mươi mốt [21], Mậu th́n [1868]).
“Chức tước
của khanh là do ân mệnh, là bởi nghĩ đến ngày xưa siêng năng, lao nhọc,
được ơn tri ngộ, chứ không phải tầm thường. Như ta từ khi lên ngôi đến
nay, đối với khanh, chưa có mảy may ǵ ân huệ, [nhưng cũng] đă từng lấy
lễ nghĩa t́nh cảm đối đăi (t́nh lễ tương đăi). Mỗi khi có hỏi han ǵ,
khanh từng cảm kích, ứa nước mắt, ta cho là ư khí cùng hợp nhau”
(Châu phê trên
bản tấu đề ngày mùng một [01] tháng bảy [07] năm Tự Đức hai mươi mốt
[21], Quư dậu [1868], về t́nh h́nh lương, dữu).
“Phận tuy nhỏ nhưng được ân tri ngộ như thần cũng
hiếm. Thần mỗi khi tự nghĩ đều thấy ḿnh vô tài, mà sứ mệnh lại hỏng, sợ
khó mà báo đáp cho xứng với trọng trách. Cho nên từ lúc giúp việc binh
tào [một bộ phận của Bộ Binh: biện lí] cho đến lúc lạm dự kinh doăn,
nhiều phen muốn trần t́nh, xin giữ vụng để may mà khỏi phụ ơn ban. Rồi
lần lượt được hoàng thượng thức tỉnh, cân nhắc cho. Sấm sét hay mưa móc
thảy đều ngụ ư sinh thành. Thần như thế chỉ biết cúi đầu tỏ bày sự ngu
muội, mong càng thấu cho sự cảm kích, nỗ lực. Tuy phong trần đă trải,
nhưng c̣n được thân này, danh và thực đều nhờ hoàng thượng gầy dựng vậy.
Nay đi Tây, đă vâng lời giản uỷ, lại vâng hỏi đến nhiều điều trọng sự.
Thần là thế nào mà được quyến cố tin tưởng, dù lạm dự chứ chẳng là phận
sẵn, th́ biết báo đáp thế nào cho xứng đáng. Thần xin dám quyết tâm, xin
mạo muội tâu bày”
(Bản tấu đề ngày
mùng bảy
[07] tháng sáu [06] nhuận, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quư dậu
[1873]).
“Lại như
Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng B́nh làm như thế nào mà đều không công hiệu.
Đoàn Thọ trị chức cũng không phải nhỏ, cớ sao chẳng có khả năng? Trẫm
thường than thở: Biết dùng người thậm khó”
(Châu phê trên bản tấu ngày mùng bảy [07] tháng sáu
[06] nhuận, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quư dậu [1873]).
“Nhờ đại
tạo tác thành may được dự hàng cống sĩ (năm Tự Đức thứ ba [1850], đội ơn
chuẩn cho thi lại, trúng được cử nhân)”
(Nam Ḱ tấu nghị, bản tấu số mười lăm [15], không đề ngày tháng năm
[?]).
“Ông vạch
ra khuyết điểm trong việc tuyển bổ quan lại”:
- “Tuyển bổ không hợp với kiến thức, tài năng,
“lấy quan thái y mà cử làm phủ huyện, kẻ lại điển mà cất làm học quan””
(Bắc Ḱ tấu nghị, bản tấu ngày hai mươi [20] tháng sáu [06] năm Tự Đức
thứ hai mươi sáu [26], Quư dậu [1873]).
- “Tuyển bổ mà chỉ dựa vào bằng cấp th́ cũng
không đáng tin cậy. Chỗ nào cho kẻ thư sinh tay trắng mà có học thức,
khả năng?”.
- “Tuyển bổ bằng cách điền khuyết: nhiều người
chờ đợi được bổ vào một chức vụ (khi có người về hưu, hay thuyên chuyển
đi nơi khác…). Cách này dễ khiến cho người ta hối lộ để được ưu tiên,
khiến “kẻ được bổ không cần đợi, người đợi th́ không bổ”” (226).
“Vả mạng
của ngươi cũng oái oăm, mới vào thi th́ đă khổ, bể hoạn cũng ch́m nổi,
đáng thương thay!… Lại như ngươi lúc thiếu niên, có chuyện bất b́nh, do
kêu được th́ sáng tỏ, rồi sau th́ thôi” (Châu phê trên bản tấu ngày hai
mươi [20] tháng sáu [06] nhuận, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quư dậu
[1873]).
“Trộm nghĩ: thần khí cục hèn mọn, nhà cỏ hoang sơ,
buổi đầu v́ tội trừ tên, kế đến mang ơn dự thí, gió mây gặp hội, gỗ vông
đă nấu mà có tiếng vang” (Nam Ḱ tấu nghị, bản tấu số mười sáu [16],
không đề ngày tháng năm [?]).
“Trộm xét các nước Tây thường chuộng công lợi lại
tham lam, giảo quyệt, mà nước Phú [Pháp] và nước Anh là nhất. Các nước
Đông phương ta gặp lúc này khó tiến. Đại Thanh, Nhật Bản, Cao Ly, Xiêm
La, Cao Miên, Miến Điện đều bị họ lộng hành. Ta cũng bị như thế… Hiện
nay Gia Định thuế phiền, sưu nặng, dân không đường sống, th́ việc nổi
dậy cũng chưa biết ngày nào… Lục tỉnh [Nam Ḱ] là đất ph́ nhiêu đă rơi
vào họng đói của nó, tự không phải là thế bị bức bách [đến mức vô phương
cứu văn], mà chính là lực không đủ để nó nhả ra
(Nam Ḱ
tấu nghị, bản tấu ngày mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi
sáu [26], Quư dậu [1873]).
Bọn Pháp là “cọp đói, ưng đói chẳng chịu bỏ
miếng mồi ngon” (Nam Ḱ tấu nghị, bản tấu ngày mười [10] tháng tám
[08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quư dậu [1873]).
“Bọn Tây dương tính tham, chấp theo điều lợi. Ấy là
t́m được rồi lại sợ mất đi. Thật là khó lấy nghĩa lí, trí thuật làm lay
chuyển nó nghe theo”
(Bản tấu ngày
mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quư dậu [1873]).
“Ôi đất
đai khai thác gian nan mà một sớm nhượng cho người. Hoàng thượng nhức
nhối trong ḷng đă lâu, mà tôi con cũng không dám lộ ra ngoài miệng”
(Bản
tấu ngày mười [10]
tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quư dậu [1873]).
“Thần trộm nghĩ rằng có người mới có đất, mà thu
phục nhân tâm th́ chính trị tốt không bằng giáo hóa tốt. Các hạt trong
Nam vốn có dựng văn miếu, có thầy dạy, có trường thi, nhưng từ khi hữu
sự đến nay bỏ phế đă lâu vậy…
Xin được ưng thuận cho đem lí lẽ tranh biện với nó,
đ̣i hỏi cho ta được trùng tu văn miếu để tiện phụng thờ, cắt đặït giáo
chức để rèn luyện học tṛ và mở trường thi để thu nhiều kẻ học. Dân giáo
nếu xin nhập học, ứng thí cũng cho.
Như thế th́ cơi bờ dù có mất mát ch́m đắm, chính
lệnh tuy chưa tới được, nhưng giáo hoá vẫn c̣n có thể thi hành, lấy đó
mà vun trồng đạo lí, kích thích sĩ phu. Chúng nó mới đến, dùng chính
sách hà khắc, ta lấy thiện giáo dạy dỗ dân. Tuy mất đất đai nhưng có
được ḷng người, th́ cũng có thể dùng về sau. Vả lại, bên ngoài ta lấy
vẻ mặt tươi cười chờ đợi, bên trong lại nghiêm chỉnh tự trị, binh khí,
thuyền súng có nhân viên đảm trách, người người tự nỗ lực, tự mưu tính
để chờ cơ hội, th́ cái hiệu nghiệm lúc xế chiều không phải là muộn vậy”
(Bản tấu ngày mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai
mươi sáu [26], Quư dậu [1873]).
“Cốt yếu ở chỗ ta phải có thế không thể xâm phạm,
sau đó mới lấy lẽ không thể dung tha được để trách người” (Bản
tấu ngày mười [10] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quư
dậu [1873]).
“Việc
lương – đạo thù nhau, thần đă từng lấy làm lo. Đă cho
đạo binh kinh lược [của Nguyễn Chính (Chánh)] đi nhanh để trấn áp và [thông]
tư cho các tỉnh bắt giữ, phủ dụ, khiến cho cùng yên… Thần trộm xét sự
thế Bắc Ḱ dần dần sẽ xong, chỉ có việc lương – đạo không yên làm cho
các việc nhân đó mà đổi khác”
(Châu bản, tấu, ngày mùng năm [05] tháng chạp [12]
năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quư dậu, [1973, đầu năm 1874]).
“Nay mai việc lương – đạo ở các tỉnh khá yên, chỉ
c̣n lại vài tên côn đồ th́ đă có đạo binh của quan kinh lược [Nguyễn
Chính] tuỳ cơ tiễu trừ, phủ dụ, ít lâu sẽ xong. Duy thần trộm nghĩ, muốn
việc về sau tốt đẹp th́ nên xem chuyện lương – đạo là rất quan trọng. Kẻ
gánh vác phải có nhiều cách thể hiểu dụ, dạy bảo khiến cho người ta
trông cậy ở ḿnh mà không sợ hăi, tin ḿnh mà không nghi, mới có thể
cùng quay về điều tốt đẹp”
(Châu bản, tấu,
ngày mùng năm [05] tháng
chạp [12] năm Tự Đức thứ hai mươi sáu [26], Quư dậu [đầu năm 1874]).
“Riêng các tỉnh Nam Ḱ, khai thác gian nan mà nay
một sớm nhượng cho người. Kính nghĩ: trong ḷng Hoàng thượng có điều u
uẩn, phận tôi con phải lập công báo đáp” (Bản tấu ngày mùng sáu [06]
tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).
“Mảnh đất cô huyện ấy kẹp giữa Phú và Miên, ngửa
đông nghiêng tây, sức nào giữ vững, hao tốn chẳng xong, cuối cùng sẽ rơi
vào kế xảo trá của nó. Nếu không thế th́ đất Cửu Long hoang rậm xa xôi,
nó c̣n muốn chiếm hết để mở mang, huống chi ba tỉnh cận kề bụng nó, há
dung cho khỏi cắt ĺa? Đó cũng là t́nh ư của giặc mọi rợ [:Pháp] không
thể không xét” (Nam Ḱ tấu nghị, bản tấu ngày mùng sáu [06] tháng
tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).
“Thế th́ toàn cơi trong Nam, muốn thu hồi hết cũng
thậm khó mà chỉ một nửa cũng không dễ”
(Bản tấu ngày
mùng sáu [06] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).
“Khanh đă
biết rơ cái ǵ đáng lo, cái ǵ chưa, th́ từ rày về sau phàm sự ǵ nghe
được khanh cứ giăi bày dâng lên. Điều ǵ đă biết th́ không ǵ không nói
hết, như họ Lư [Lư Hồng Chương], họ Tăng [Tăng Kỷ Trạch] của nước Thanh
vậy. Trẫm vốn muốn nghe, không câu nệ là [việc] ở trong hay ở ngoài, đều
nghe sự giăi tỏ đầu đuôi, đến khi nào tạm thấy hiệu nghiệm, th́ đúng là:
khanh trên không phụ thái tổ, giữa không phụ trẫm, dưới không phụ thiên
hạ. Có được bầy tôi như thế, muôn đời đều khen. Nếu nói trau chuốt suông,
hoặc có mảy may ẩn giấu, không chịu hết sức, gặp việc ǵ lui rồi nói sau,
hoặc đă lâu ngày mà chẳng thấy chút hiệu nghiệm, th́ đó là khanh đem tất
cả điều khinh khi để tự khinh ḿnh vậy, quyết không thể dung được trên
đời!”
(Châu phê trên
bản tấu ngày mùng sáu [06] tháng tám [08] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy
[27], Giáp tuất [1874]).
“Kính, từ
khi hoàng thượng nối tiếp cơ đồ lớn lao, vỗ yên vận sáng, tuy tŕ doanh
bảo thái [giữ sự thịnh vượng, tốt lành – chú thích của dịch giả, nhà
nghiên cứu Trần Đại Vinh], chưa từng không lấy sự gắng gỏi làm nỗi lo
toan. Nhưng quá nửa ngày th́ trời xế, ngược với sáng là tối, [vốn] là lẽ
tuần hoàn xưa nay thay đổi. Cho nên, trong th́ biến loạn anh em [Hồng
Bảo, Ưng Đạo], ngoài th́ cái hoạ mọi rợ [Pháp, Tây Ban Nha], Nam Ḱ đất
cũ th́ trầm luân, Bắc Ḱ th́ giặc cướp liền năm”
(Bản tấu
ngày hai mươi bảy [27] tháng mười [10] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27],
Giáp tuất [1874]).
“Nay
đương chức trong ngoài, tham nhũng, hèn yếu không phải là không có, nhưng kẻ có tài lo liệu cũng chưa từng
thiếu. Kẻ gặp việc lo th́ tránh khéo, ở chức công mà chỉ lo vui với việc
riêng, đă được trích ra trừng trị, răn dạy để sửa chữa th́ cũng ít vậy.
Thậm chí có kẻ theo việc mà đ̣i ăn hối lộ, khác nào chợ búa, càng không
biết liêm sỉ là ǵ nữa. Than ôi, nhân tâm một phen sao đến thế! Hay là
đường sĩ hoạn chưa được sạch trong? Không biết lấy ǵ để làm cho chính
sự ham chuộng [lẽ sạch trong] như thế ư?”
(Bản tấu ngày
hai mươi bảy [27] tháng mười [10] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp
tuất [1874]).
“[Theo sứ
mệnh được hoàng thượng giao phó], thần thường tiếp người nước Thanh,
nước Tây. Họ đâu phải tất cả đều siêu việt! Chỉ v́ họ lấy cái thực mà
làm, c̣n ta th́ lấy cái hư để đối phó. Lấy cái thực để đối với cái hư,
th́ mạnh, yếu đă phân rơ. Sau này việc giao thiệp càng phiền toái, trách
nhiệm về bờ cơi càng nặng. Thế cho nên đảm đương công tác rất gấp mà
chưa lấy việc sửa đổi bên trong làm đầu… th́ cũng không đâu vào đâu vậy”
(Bản
tấu ngày 27 tháng 10 năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất [1874]).
“Kính mong hoàng thượng chọn người chân chính sung
lo việc thuyên tuyển, khiến cho nắm lấy công bằng, tiến lui tất có ư
[…]. Mong hoàng thượng vững quyền truất giáng để khích lệ người tài năng,
để người người đều tận lực trong công việc. Nội trị được sửa đổi th́
ngoại trị khá hưng, mới có thể thư nỗi lo đêm ngày”
(Bản tấu ngày
hai mươi bảy [27] tháng mười [10] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).
“Đến như
thần đă không có tài khác, đường làm quan trắc trở, đă nhiều lần lạm dự
vào ơn mưa móc không phải phận ḿnh [cách nói khiêm tốn thời phong kiến],
mới có được ngày nay. Kính được sai làm sứ, thần nào dám tiếc tâm sức.
Duy được thờ hoàng thượng trải hơn hai mươi năm nay, ở bên ngoài th́
nhiều, chưa am hiểu chính thể. Nếu như ban ơn chỉ dụ cho ở tại kinh, hầu
hạ bên cạnh, được nghe lời răn dạy, để cho thần mở óc ngu tối mà giảm
bớt lỗi lầm, đợi đến ḱ sai phái lui tới với Tây, tuỳ cơ thương thuyết
để tiện lo cứu văn, hoặc có thể đền đáp trọng trách muôn một. Ấy là
nguyện vọng của thần vậy”
(Bản tấu ngày
hai mươi bảy [27] tháng mười [10] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).
“Riêng thần là một kẻ hàn nho, được quyến cố, xin
khắc ḷng báo bổ… Nếu gặp lúc quan hệ, thần muôn vàn không dám làm kẻ
bên lề ngồi xem thành bại, chỉ khư khư một tấm ḷng đau khổ”
(Nam Ḱ tấu nghị,
bản tấu ngày mùng một [01]
tháng mười một [11] năm Tự Đức thứ hai mươi bảy [27], Giáp tuất [1874]).
THƠ (227)
Họa chính sứ Lê: “Tự Đông Gia
khởi hành tựu Thuận tấn hỏa thuyền”
nguyên vận
Kỉ niên sóc tái
kiên nhung ḱ
Thử nhật Tây phù
tá hỏa tŕ
Hoàng tuất tiền
đồ kha khảm lịch
Chi thương văng
sự hải tang di
Lỗ t́nh tự thị
đa tư sính
Triều sĩ hà
thường thiểu kiến nguy
Độc quư phi tài
thao trọng tuyển
Sinh b́nh đồ
tụng bách thiên thi.
“Từ Đông Gia
bắt đầu đi đến thuyền hơi nước
ở cửa Thuận”
Họa
thơ chánh sứ Lê Tuấn
(Lê Toán)
Bao năm đầu ải,
vững cờ soi
Nay vượt biển Tây,
xe sứ ngồi
Xa liệu, cứu dân,
đường sóng gió
Kính thương, biến
nỗi, việc thung đồi
Giặc khoe, cứ măi
khua nương thế
Quan ngó, sao thưa
thấy hiểm thời?
Cúi thẹn không tài,
vua quư chọn
Sống thường tay
trắng, đọc thơ thôi!
Họa chính sứ Lê: "Đăng yết Thiên Y
tháp tại B́nh Thuận
(228) tỉnh,
Cù
Huân tấn", nguyên vận
Quần phong tranh
hạ nhất loan hoành
Địa mạn sơn cao
thủy diệc thanh
Thác tục đương
niên truyền Liễu Hạnh
Siêu t́nh hà xứ
tiếp ḱ sinh?
Thê nham linh
tích tồn chiêm vọng
Phù hải ḱ duyên
tá phẩm b́nh
Nam thổ thiên
thu hoàn cố quốc
Quy cương ưng tướng thử Tây hành.
"Lên thăm
tháp Thiên Y
tại cửa hải
pḥng Cù Huân,
tỉnh B́nh
Thuận"
Họa
thơ chánh sứ Lê Tuấn
Cụm đồi tranh xuống
đầm ngang sâu
Biếc núi đất xuôi
nước ánh màu
Mượn tục, xa thời
truyền Liễu trước
Vượt phàm, nào chốn
nối đời sau?
Dấu linh hang lạnh
trông vời đó
Duyên lạ biển cồn (bồng)
khen trách đâu
Ngh́n thuở đất Nam
về nước Việt
Ứng giùm, thu cơi,
chuyến đi Âu!
Thuyền cận
Cần Giờ
nghịch phong
bất tiến
Phan Thiết kê
minh nhất dạ đàm
Bà sơn bạc mộ
bán vi lam
Hải quang tinh
tán ba triều bắc
Oa phị (phí) yên
phi hỏa chuyển nam
Lănh thượng
chiêu đăng tiêu tức cận
Thuyền đầu khuy
kính lộ tŕnh am
Thừa phong vạn lí hoàn
dung dị
Chỉ xích tŕ hồi
dă khởi cam.
Thuyền gần đến Cần Giờ,
gặp gió ngược, không đi tới được
Phan Thiết, một đêm
gà rộn đầm
Núi Bà chiều nhạt
nửa sương thâm
Biển ngời sao tản,
khơi chầu bắc
Nồi bỏng khói bay,
lửa chuyển nam
Đèn vẫy đỉnh non:
tin báo tới
Liếc gương đầu lái:
dặm ngàn băng
Vạn trùng theo gió
lui thường dễ
Gang tấc chậm,
quành, không lẽ cam!
Tặng Dương
quan
(Gia Định
tỉnh nhân)
văng Hương
Cảng
Lục thất niên dư
hựu nhất lai
Ngă lai quân khứ
lưỡng bồi hồi
Khứ lai dị lộ
quân tu kí
Mạc sử lâm ḱ
hữu sở xai [:sai]!
Tặng quan làm ở
cửa biển cho Tây,
người tỉnh Gia
Định, đi Hương Cảng
Sáu, bảy năm hơn,
đến một lần
Anh đi, tôi đến,
đều tần ngần
Đến, đi, khác đường,
anh nên nhớ
Đừng để đang khi,
t́nh phải cân!
Trú Gia Định
quan Tây viên
hữu cảm
Khách xá công dư
hướng văn thiên
Xa hoành khúc
kính quá đông biên
Sổ lan mao giới
giai tân vật
Bán bức hoa cầm
dị văng niên
Đối cảnh kham bi thùy
tác chủ
Phùng nhân nan
đạo thử lai duyên
Như hà tạo hóa
do đa sự
Không sử lê viên nhuận nhất biên.
Ở Gia Định, xem
vườn thú Tây lập,
cảm xúc
Nhà khách, trời chiều, việc sứ thưa
Bờ đông, cong lối, ngựa xe đưa
Nhiều chuồng lông la là loài mới
Nửa khoảnh chim hoa khác vẻ xưa!
Đối cảnh buồn ai: tṛ chủ cướp!
Gặp người bảo chúng: nghiệp riêng mua?
Cớ sao trời đất c̣n nhiều chuyện
Khiến nỗi vườn hề phải chép thừa
Quá Kim
Chương tự
Tằng hướng
trường sinh thuyết tức ki [:cơ]
Bách niên thế sự
bất thăng bi
Các trung đế tử
kim hà tại?
Thành quách nhân
dân bán dĩ phi!
Đi ngang qua
chùa Kim Chương
Theo thuật trường
sinh bàn thở sâu
Trăm năm khôn xiết
việc đời sầu!
“Con vua trong
gác nay đâu nhỉ?”
Thành quách, nhân
dân, một nửa đâu!
Đề B́nh Tây
tướng quân
Lê quận công
mộ
(mỗi cú hữu
sổ mục tự)
Nam tử đương vi
nhất thế hùng
Bán thiên ứng
vận kỉ như công!
Lưỡng ḱ sử tải
khôi cương tích
Bách chiến nhân
suy [:thôi] hỗ giá công
Tam xích hiệp [:luân]
phong tồn cố liệp
Cửu nguyên cô
phẫn khởi lương cung
Vị khôi thất
thập niên tiền sự
Tụng biến b́nh
Tây lục tỉnh trung.
Nêu lên những
suy nghĩ
trước ngôi mộ
B́nh Tây tướng quân
được phong tước
quận công
Lê Văn Duyệt
Gánh việc, thân trai một kiếp hùng
Nửa ngàn đáp vận ai như ông?
Hai miền sử chuyển: cầm cương búa
Trăm trận người tôn: pḥ chúa công
“Ba thước” lặng
phong c̣n tích cũ
“Chín miền”
riêng hận dậy cung đồng
Chưa tàn, chuyện bảy mươi năm trước!
Ca khắp: B́nh Tây, đất Cửu Long.
Tại Gia Định
đắc báo tham biện
Nguyễn chi tử
thu tiệp
Khách trung xa
mă yếm phi trần
Hồi ức thu vi
tập tấn thân
Phan quế thử
lang nghi đắc thủ
Thừa sà ngô bối
vị tri tân
Gia nghiêm trách
trọng thần vi phụ
Quốc khánh thù
nan tử hữu quân
Vân thủy hà thời
quy cựu phố
Nhất môn vũ
trạch cánh thiêm tân.
Ở Gia Định
được tin con trai tham biện
Nguyễn Tăng Doăn thi hương đỗ
Quê xa người ngựa, chán phong trần
Nhớ buổi thi hương tập tấn thân
Vin quế chàng này càng rơ vững
Cỡi bè đây lăo chẳng hay gần
Tôi, quan, làm bố, nghiêm bồ chữ
Vua, nước, tuyển con, nặng gánh ân
Mây sóng khi nào về bến cũ
Hai ơn một cửa lại tươi ngần.
Tại Gia Định,
được tin báo con
trai tham biện
Nguyễn Tăng Doăn
thi đỗ
ḱ thi mùa thu
Xa quê, chán bụi, ngựa người đua
Nhớ thuở thi hương tiến bước xưa
Vin quế, chàng này càng xứng nắm
Cỡi bè, đây bọn chửa hay bờ!
Nếp nghiêm, nho gánh, thần làm bố
Đàn phúc, sĩ xây, con có vua
Mây nước khi nào về bến cũ
Một nhà nết đất sáng ơn mưa.
Hết
tệp 7 truyện kí thứ 7
Viết đến ḍng
chữ cuối của truyện kí thứ 7
vào lúc 11 giờ
kém 05,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ,
HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(217)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 112 – 113.
(218)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 113.
(219)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 113 – 114.
(220)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 122 – 123.
(221)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 123 – 124, 125.
(222)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 115 – 116.
(223)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 103 – 104. Xin
xem lại theo chú thích (203).
(224)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 126 – 127.
“Thực dụng” (có tính thực tế) có nghĩa đối lập với
“hư văn” (suông rỗng, viển vông), không phải “thực dụng chủ nghĩa” với
nghĩa “tục dụng”. Kẻ
“thực dụng chủ nghĩa”
hoặc kẻ “tục dụng”
chỉ chú trọng lợi ích vật chất, bất chấp đạo lí và các
giá trị nhân văn khác.
(225)
Châu bản Nguyễn Văn Tường
(những bản tấu, sớ… của Nguyễn Văn Tường, có châu điểm, châu phê của
vua Tự Đức); dẫn theo: Trần Viết Ngạc. Xin xem 2 chú thích (58) và
(150).
(226)
Dẫn theo lời dẫn gián tiếp và trực tiếp của nhà
nghiên cứu Trần Viết Ngạc, gồm cả các câu in theo kiểu chữ đứng, được
đặt trong dấu ngoặc kép, ở đoạn này.
(227)
Ḱ Vĩ quận công thi tập,
tư liệu Hội nghị Khoa học lịch sử với đề tài
“Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường",
ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996. Xin xem chú thích (211): KVPCĐT. NVT. T.
VNVCNTH. & TT., sđd., bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản);
các bài thơ đă trích ở trên, từ bài số 47 đến 51, bản dịch nghĩa của
Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch thơ của Trần Xuân An, tr. 293 – 313. Người
dịch thơ hoàn toàn tuân theo niêm luật thơ Đường. Ở các bản dịch thơ vào
năm 2000 trong bản thảo cuốn sách đă dẫn, tôi có phần linh hoạt về niêm
(như thơ hiện đại), để đỡ đơn điệu, nhưng cũng không để rơi vào khổ độc
(trúc trắc khó đọc). Nay, tôi đă sủa chữa lại các bản dịch thơ năm 2000
ấy.
(228)
Cù Huân (là một hải pḥng tấn: cửa biển pḥng thủ)
thuộc Khánh Hoà, chứ không phải thuộc B́nh Thuận. Hẳn có sự nhầm lẫn về
địa danh ở đầu đề này.
Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 7
(PHÂN ĐOẠN 7 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
Xin
xem tiếp TỆP 8
(phân
đoạn 8 truyện kí thứ 7)