Tệp
5
– Tập III
(PHÂN ĐOẠN 5 TRUYỆN KÍ THỨ 9)
TRẦN XUÂN AN
BẮC K̀,
TƯỞNG CHỪNG LẶP LẠI
Truyện thứ
chín
(phân đoạn 5)
18
Ở Huế, các đồn Lộ Châu, Triều Sơn trên tuyến pḥng thủ cửa Thuận –
sông Hương được tăng cường thêm năm trăm (500) biền binh (188). Lính trạm
các cung đường từ kinh ra Bắc Ḱ đều được phụ cấp thêm tiền gạo để phục vụ
quân bưu một cách có năng suất, hiệu quả hơn trong t́nh trạng khẩn cấp
(189).
Viện – Bạc, lúc này gồm Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, và vẫn
c̣n có cả Trần Tiễn Thành, mặc dù quan họ Trần vốn chủ “hoà” này đang ốm
v́ bệnh và v́ bị triều thần chỉ trích. Viện – Bạc tâu xin ra lệnh dụ cho
kinh lược sứ Nguyễn Chính (Chánh) lập tức thông tư, bàn bạc việc quân với
thống đốc Hoàng Tá Viêm để tuỳ cơ đánh chiếm lại thành Nam Định,
“nghiêm sức cho thân sĩ các phủ huyện đoàn kết
xă dân, canh giữ để cho chúng [:Pháp] chỉ giữ [được] tỉnh thành, không
được lấn xuống, mới có thể tính dần được” (190) .
Mặc dù đang bệnh, vua Tự Đức bảo rằng: “Từ trước
đến nay thân sĩ đă xin đoàn kết để ứng cứu, bảo vệ. Sao lúc ấy không tính
ngay, cho chúng có th́ giờ được voi đ̣i tiên, lan tràn khó tính, sĩ khí
ngày càng tiêu tan hết? Nguyễn Chính đă cho chọn đất đóng quân để làm
thanh thế cho quan tỉnh, nay cũng không được công trạng ǵ, phải giáng bốn
cấp, lưu [nhiệm], phải lấy lại ngay tỉnh thành, để chuộc tội trước”
(190) .
Khác với Bắc Ḱ “tả đạo”, “phù Lê” trước đây, ở thời điểm này, tinh
thần đoàn kết dân tộc và yêu nước truyền thống đă được khơi dậy mạnh mẽ.
Năm trăm (500) quân kinh đô lại được lệnh hành quân ra Thanh Hoá, và
đồng thời tỉnh ấy mộ thêm thổ dũng (lực lượng dân quân), tái nhập ngũ lính
mộ cũ, khoảng sáu trăm rưỡi (650) viên (191). Nguyễn Chính cũng phái thêm
vào Thanh Hoá ba trăm viên lính, đóng tại Tam Điệp, Nhân Sơn, Chính Đại
(192). Tạ Hiện nghe thành Nam Định mất, liền xin về chiêu mộ thổ dũng để
quyết đánh, chiếm lại, với chức vụ đề đốc (193), thay liệt sĩ Lê Văn Điếm.
Vẫn đang là tháng hai Nam lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi sáu, Quư mùi
(1883)! Toàn thể các quân thứ và đa số nhân dân Bắc Ḱ đă quyết chiến để
rửa nhục.
Cuối trung tuần tháng này, quân Pháp vượt sang sông Hồng, sấn vào
chỗ đóng quân của ta ở Gia Lâm (194). Chúng thách thức, khiêu chiến. Hôm
ấy, đúng ngày mười chín (27.03.1883), với tinh thần bừng bừng quyết chiến,
tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản liền điều động, đốc thúc quân binh đến
ngay tại Gia Lâm để trợ lực, kinh lược phó sứ Bùi Ân Niên cũng đem quân
tiếp đến. Cả ba đội quân nổ súng, vung gươm với quyết tâm chiến thắng.
Quân Pháp phải rút lui trong hoảng loạn. Chúng quay về giữ Dốc Gạch,
đem theo xác một tên quan ba, bốn tên lính Pháp tử thương, cùng sáu tên
khác bị thương. Quân ta, sáu người không tránh khỏi bị thương tích (194).
Hôm sau, sáng ngày hai mươi (28.03.1883), với quân số được tăng viện,
Pháp lại đến tấn công. Binh dơng, quân thứ Bắc Ninh quyết giữ những chỗ
hiểm yếu, nấp bắn. Không thể tấn công nổi, quân Pháp lại rút. Trận này,
phía Pháp chết chín tên, một tên khác bị thương. Quân ta cũng bị tổn thất:
bị thương mười người lính, chết năm viên (194).
Chiều hôm ấy, độ giờ mùi (13 – 15 giờ), quân Pháp tiến thẳng lên đê
sông Hồng, bắn loạn xạ. Binh dơng của ta liền đánh giáp lá cà. Trận đánh
bằng vơ thuật và dao ngắn rất dữ dội. Số bị thương và chết tương đương
nhau, mỗi bên khoảng hai, ba chục người. Về sĩ quan, Pháp có một viên quan
hai phải bị băng bó vết thương do dao ngắn và các thế vơ. Phó đề đốc Trần
Xuân Soạn cũng bị thương nhẹ. Trong trận ấy, không những đạo quân của
Trương Quang Đản và tán lí Lương Quy Chính, đạo quân của Bùi Ân Niên tức
tốc đến ứng cứu, các đạo quân khác của thương biện Nguyễn Cao, lănh binh
quan Hồ Văn Phấn cũng liền tiếp viện. Quân Pháp chống đỡ không nổi, liền
hăi hùng rút quân xuống tàu binh, chạy về Đồn thuỷ Hà Nội (194).
Tin chiến thắng tại Bắc Ninh đă truyền nhanh một niềm phấn khởi khắp
cả nước. Ở kinh đô Huế, những tập tâu báo tiệp bay vào làm nức ḷng vua Tự
Đức, hai đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng phần lớn đ́nh
thần và nhân dân.
Ngôi nhà vuông mới xây dựng xong, phía sau, bên trái Tả vu Điện Cần
chánh, nơi chỉ có tứ trụ đại thần đến bàn luận việc cơ mật, và vài tham
biện, tư vụ được tin cẩn, túc trực để phụ giúp, ghi chép, ngoài ra không
một ai khác được ghé vào, kể cả những vị quan trợ lí hành chính thuộc Viện
– Bạc. Sáng sớm hôm sau, tại đó, thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường và
thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đang đọc lại những bản tâu tŕnh về ba
trận thắng tại Gia Lâm, Dốc Gạch, triền đê sông Hồng thuộc tỉnh Bắc Ninh.
- Đúng như tin quân thám báo, quyền tuần vũ Hà Nội Vũ Nhự cho biết,
bọn Pháp sẽ tấn công Bắc Ninh để chặn chân các quân thứ và quân binh tỉnh
ấy cứu viện Nam Định, tập kích Đồn thuỷ. – Quan Bộ Binh nói –. Lẽ ra theo
kế hoạch, khi bọn rợ Pháp tấn công thành Nam Định, Nguyễn Chính tiếp viện,
phối hợp đánh ngay, và ngay lúc đó, quân tại Bắc Ninh sẽ tập kích hậu cứ
Đồn thủy (rợ Pháp đă rút phần lớn quân đi đánh Nam Định). Nhưng bọn Pháp
cũng ranh ma lắm. Một số quân của chúng từ Nam Định, sau khi chiếm được
thành liền tức tốc quay về phối hợp với quân tại hậu cứ Đồn thuỷ để đánh
cản quân ta tại Bắc Ninh.
- Ta kém chúng ở tốc độ hành quân! Cái nhược điểm của ta là ở chỗ
hành quân bằng phương tiện ghe thuyền quá thô sơ, quân kị binh lại quá ít.
– Quan Bộ Hộ phân tích –. Nhưng dẫu sao quân tỉnh Bắc Ninh và các quân thứ
khác tại đó cũng ba lần đẩy lùi được giặc Pháp. Đó là ba lần chiến thắng
rơ rệt. Bọn Pháp phải tháo chạy. Tôi nghĩ Bộ Binh cần khắc phục về nhược
điểm hành quân chậm.
- Đúng vậy, quyết chiến, không thể không khắc phục nhược điểm ấy, và
cả nhược điểm về vũ khí nữa. Về vũ khí, năm kia (Tân tị, 1881), Hoàng Tá
Viêm đă sai Lưu Vĩnh Phúc sang Vân Nam mua một số súng đạn Âu Mỹ khá nhiều,
lại từ tháng mười một năm ngoái (Nhâm ngọ, 1882), vua đă chuẩn cho “sai quan tỉnh Lạng Sơn gửi sang Hương Cảng hỏi
mua hai trăm (200) cây súng Tây [dương], hai ḥm viên đạn (giá hơn bốn
trăm mười bốn [414] lạng bạc) để pḥng dùng cho việc quân tỉnh ấy” (195)
, trong đó
có cung cấp cho các
quân thứ Cao Bằng, Lạng Sơn của Lương Quy Chính, Nguyễn Cao, Trần Xuân
Soạn…
- C̣n nguyên nhân thắng lợi khác?
- Đó là có sự yểm trợ của quân Thanh, mặc dù quân Thanh chỉ kéo ra
áp sát biên giới, mới đưa một số doanh sang Quán Ty (Hưng Hoá), sang các
tỉnh miền núi tả ngạn, hữu ngạn sông Hồng, và chưa nhúc nhích, động binh
lần nào.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường gật đầu, lại nêu câu hỏi cho rơ vấn đề
hơn:
- Dẫu vậy, ư quan Bộ Binh nói, cũng giúp quân ta tự tin hơn chăng?
- Không nên ỷ lại vào quân Thanh, nhưng yếu tố tự tin tăng cao hơn
là v́ có quân Thanh hậu bị, không thể phủ nhận được. – Thượng thư Tôn Thất
Thuyết trả lời –. Không những tinh thần của các quan quân ở các tỉnh Bắc
Ḱ phấn chấn lên, mà nhà vua, các quan tại triều cũng có chung sự phấn
chấn đó (mặc dù xen lẫn chút âu lo). Tôi thấy rơ việc liên minh quân sự
với nhà Thanh là một thắng lợi ngoại giao của quan Bộ Hộ và của vua tôi
triều đ́nh ta.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường mỉm cười. Ông nói:
- Quan Bộ Binh quá khen! Thật ra, ngoại giao và quân sự không thể
tách ĺa nhau, và một khi phối hợp ăn khớp, sẽ nhân lên sức mạnh cho nhau.
Từ khi tôi trực tiếp thành lập Cục Thuyền chính, liên minh quân sự, chính
trị, ngoại giao với nhà Thanh qua liên hệ hợp đồng với Đường Đ́nh Canh của
Chiêu Thương cục, bằng vỏ bọc vận tải ấy (nhằm qua mắt bọn Pháp, các cố
đạo), tôi đă thấy t́nh thế đă buộc triều đ́nh chúng ta bước vào t́nh huống
“cưỡi lưng cọp”
rồi. Thế
cưỡi hổ đă thành! Khả năng tốt nhất dự kiến xảy ra là lập
được thế
ngoại giao đối trọng: Đại Nam ta trung lập, đứng
giữa hai lực mâu thuẫn; ta vẫn vững v́ hai lực ấy sẽ phải cân bằng! Hoặc,
khả năng gay go sẽ xảy đến: Giữa Đại Nam triều Nguyễn ta và Pháp chỉ c̣n
một phen sống mái mà thôi.
- Tôi biết bọn Pháp vẫn c̣n sử dụng chiêu bài “phù
Lê”. Ở
Hà Nội, tên Henry Rivière vẫn nuôi một con đàn bà hậu duệ nhà Lê (196). –
Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói –. Và việc bọn Pháp lợi dụng giáo dân “tả
đạo” vẫn là chiến lược lâu dài của chúng, nhưng chúng biết rút kinh nghiệm,
lần này đă khôn khéo giấu mặt.
- Trở lại vấn đề là tinh thần quyết chiến đă lên cao. Ba trận đẩy
lùi quân Pháp của Bắc Ninh, mặc dù có người không cho là thắng lợi cơ bản,
dẫu sao, cũng là ba trận chiến thắng, tuy ở quy mô nhỏ. Tinh thần quyết
chiến và chiến thắng
ấy cũng xuất phát từ việc giặc Pháp lần này cố bức bách ta, ta lại liên
minh được với quân Thanh.– Thượng thư Nguyễn
Văn Tường từ tốn nói –. Tinh thần, ư chí chiến đấu
không thể hô hào suông mà dấy lên được trong đầu óc, trong tâm trạng quan
quân. Tinh thần, ư chí chiến đấu ấy là truyền thống ngh́n đời nhưng phải
có cơ sở là thực lực, tức là quyết chiến trên sức mạnh có thật. Vấn đề là
Viện –
Bạc chúng ta suy sâu nghĩ xa để kiến nghị lên nhà vua, làm sao cho vua tôi
chúng ta thật sự “thiết thạch đồng tâm”, quyết một ḷng vững bền như sắt
đá. Ít ra, nhờ vậy, cũng buộc bọn Pháp phải tuân thủ “hoà” ước Giáp tuất
1874, không thể được
voi đ̣i tiên, được đằng chân lân đằng đầu. Trước mắt, tôi nói
mục tiêu trước mắt, ít ra là như vậy. C̣n hiện nay, vẫn chưa thể tính đến
việc khôi phục lại toàn bộ giang san từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau được.
Phải buộc cho bằng được bọn Pháp tuân thủ “hoà” ước Giáp tuất 1874! Tôi
lần này, ngoài các điều khoản khác, sẽ quyết buộc chúng phải thi hành điều
khoản thứ mười (X) ở Nam Ḱ: Ta được mở trường dạy quốc học trong ấy…
- Tôi đang nghĩ đến những trận chiến thắng quân sự tiếp theo phải
đạt cho được tại Bắc Ḱ. – Quan Bộ Binh Tôn Thất Thuyết nói –.
- Đúng như vậy.
Hai đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc cùng hội bàn kế hoạch quyết
chiến trong những trận đánh sắp tới.
Vua Tự Đức dẫu đang ốm nặng với ung nhọt phía sau lưng (197) cũng
không yên ḷng buông lơi công việc. Nhà vua châu phê vào tập tâu của tổng
đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản và phó kinh lược sứ Bắc Ḱ Bùi Ân Niên:
“Quan quân,
binh dơng bị chết, đều cho thăng hàm, cấp tiền tuất và cho nhiêu ấm [con
cháu được hưởng quyền lợi học tập, thăng bổ hoặc ban tặng chức sắc (thực
quyền hoặc chỉ là danh xưng)]. Quan quân thứ, quan tỉnh các ngươi nên cố
gắng nhiều hơn, một ḷng, hết sức, giết bọn giặc, bắt tướng giặc, cốt
cho nước ta được yên mà oai nước được mạnh” (198); “nên cố
gắng hơn lên, đốc sức binh dũng, cốt phải đại thắng,
cho chúng sợ không dám hành động” (199) ; các tỉnh khác, Hải Dương, Hưng
Yên, Ninh B́nh, phải đóng cọc ở ḷng sông, đánh đắm thuyền chở đầy đá để
chặn tàu giặc Pháp tiến công (199); “một đạo Sơn Tây cũng nên hợp sức cố
đánh, bày mưu đánh cho được, cốt chóng thành công cho đỡ lo
nghĩ ngày đêm” (199); “Ninh B́nh là chỗ cổ họng, quan hệ không phải là ít.
Bọn Phan Đ́nh B́nh, các ngươi khéo dùng thổ dũng, dân binh, hết ḷng pḥng
bị trước cho mười phần vững chắc…” (199); “c̣n ngoài ra, ai có mưu kế hay,
[luyện] binh tinh nhuệ, đánh tất thắng, giữ thành tất vững, đều cho các
quan quân thứ, quan tỉnh hết ḷng mà làm…” (199) .
Như vậy, lệnh dụ quyết chiến đă được ban hành!
Quyết chiến!
Không c̣n cách nào khác!
Đó là con đường hào hùng nhất.
19
Tháng ba nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi sáu, Quư mùi (1883),
việc tăng cường pḥng thủ, chấn chỉnh binh lực càng được đẩy mạnh.
Súng lớn được bố trí thêm ở phía đông bắc kinh thành Huế. Quân biền
binh vốn được điều động làm việc ở các sở thợ (công binh xưởng) đều được
rút về để huấn luyện. Quân số ấy hơn một ngàn rưỡi (1.500) người (200).
Tại Quảng Trị, thân sĩ hăng hái mật tâu công việc chống đánh giặc
Pháp (201). Triều đ́nh phải theo sắc dụ bảo rằng, không nên hấp tấp.
Lại bố trí thêm hai mươi (20) cỗ súng đại bác, ba mươi (30) cỗ súng
quá sơn ở đồn trước và đồn sau Lộ Châu (cửa Thuận An) (202).
Ở Bắc Ḱ, hai đại thần với quyền lực cao nhất là Hoàng Tá Viêm,
Nguyễn Chính. Trước đây, sau khi Pháp thực thi mưu kế liền đánh chiếm Hà
Nội, liền trao trả để làm sức ép hoăn binh, buộc ta thôi pḥng thủ, Hoàng
Tá Viêm là người
đầu tiên và duy nhất dám căi lệnh vua, khi nhà vua ban
sắc dụ rút quân về Sơn Tây. Lần ấy, ông tâu về kinh:
“Vạn
phần đánh được cả!” (203)
, ngầm trách
lại vua và đ́nh thần
chủ “hoà”.
Cũng lần ấy, thái tử thái bảo, kinh lược sứ Bắc Ḱ
Nguyễn Chính cũng tâu về kinh: “Khiến cho giặc không
dám trông thẳng!” (203). Nhưng trong thực tế chiến đấu,
Nguyễn Chính đă hèn nhát! Nay, Nguyễn Chính không c̣n được giữ cờ tiết
mao, đă bị giáng xuống hàm tán lí.
Hoàng Tá Viêm, nguyên thống đốc bị giáng xuống hàm tổng đốc, vẫn
quyền giữ chức tiết chế thống lănh toàn mặt trận Bắc Ḱ, cũng hưởng ứng
sắc dụ quyết chiến. Lệnh dụ quyết chiến thật sự như mở cờ trong bụng, ông
thật sự phấn khởi, mặc dù nhà vua c̣n trách cứ ông chậm tiếp viện, ứng
cứu. Nguyễn Chính bị trách cứ nặng hơn, nhưng cũng có những biểu hiện
hưởng ứng ư chí quyết chiến. Họ hưởng ứng lệnh dụ đă ban: “Bọn ngươi nên
tính kĩ, làm [:pḥng thủ,
chiến đấu] cho thoả đáng, để hả ḷng công phẫn, lừng lẫy uy
thanh của nước” (203) .
Thống đốc Hoàng Tá Viêm cũng đă chiêu mộ được ba chục ngàn (30.000)
dân quân, trong đó hơn ba ngàn bốn trăm (3.400) người đă được ông chỉ đạo
huấn luyện và có kết quả giỏi (204). Tất nhiên, là tướng cầm quân, dạn dày
kinh nghiệm, ông hiểu chỉ số người tập luyện giỏi mới chiến đấu tốt, và
ngoài ra, lực lượng c̣n lại chỉ hỗ trợ, như tải thương, vận lương và tự
giữ xóm làng. Điều đó, chứng tỏ nhân dân Bắc Ḱ đă tích cực hưởng ứng
quyết lệnh chiến đấu chống Pháp, như truyền thống chống xâm lược ngh́n xưa
mà trong các bản dụ trước đây nhà vua không quên nhắc đến. Chẳng hạn,
trong bản dụ trong tháng mười năm ngoái, Nhâm ngọ (1882):
“Đại khái dân
khí không yên, v́ phong tục không
chính, mà tiêm nhiễm đă lâu nên mới đến thế. Không thế, th́ người đời xưa
dùng để đánh quân Nguyên, quân Minh là dùng dân nào? Năm trước giặc Hải
Dương quấy một tỉnh Nam Định, v́ dân tốt, quan tốt, được đặc cách khen
thưởng là dân nào?…” (205) .
Chỉ có một điều rất đáng tiếc, ấy là sự mâu thuẫn giữa thống đốc
Hoàng Tá Viêm và phó kinh lược sứ Bắc Ḱ Bùi Ân Niên. Bùi Ân Niên những
muốn được chuyên trách một đạo quân riêng để phối hợp với quân binh của
Trương Quang Đản, v́ giữa ông và thống đốc Hoàng Tá Viêm không có sự nhất
trí trong việc vạch kế hoạch và tác chiến. Hoàng Tá Viêm mỉa mai, cho rằng
Bùi Ân Niên am hiểu việc quân lắm, xin điều động Bùi Ân Niên về triều,
giao quân lại cho ông (206). Vua suưt nghe theo lời tâu của thống đốc họ
Hoàng! Ngay khi chưa có chỉ dụ triệu hồi Bùi Ân Niên, Hoàng Tá Viêm đă
dùng quân lệnh buộc Bùi Ân Niên giao quân! Tham tán họ Bùi liền dâng sớ
phản hồi, chê trách Hoàng Tá Viêm:
“Giả sử
quan thống đốc trước khi Nam Định chưa có việc, tiến ngay đến bức Hà
Thành, khiến cho chúng trông chỗ nọ bỏ chỗ kia, không dám bừa băi ở Nam
Định, há không là việc tốt hơn ư? Lại cứ đóng ở Sơn Tây không tiến quân,
cho nên chúng có th́ giờ tính đánh Nam Định, sự thế thêm khó khăn…” (207). Bản
sớ của Bùi Ân Niên c̣n vạch ra những điều khác, như tâu rằng Hoàng Tá Viêm
toan rút quân thứ đóng tại Bắc Ninh lên Sơn Tây, trong khi Bắc Ninh đang
bị Pháp quyết tâm đánh, lại chỉ chuyên nghe lời Lưu Vĩnh Phúc. Và cũng
trong bản sớ ấy, Bùi Ân Niên c̣n tố cáo rằng, Hoàng Tá Viêm không nghĩ đến
việc chung của Đất nước, sử dụng quyền lực để áp chế người dưới, khiến
người dưới không làm được việc ǵ, lại ganh công với người dưới trong ba
trận đẩy lùi quân Pháp tại Gia Lâm nữa (207)!
Viện – Bạc họp bàn, tâu lên vua. Dụ ban ra:
“Đạo Sơn
Tây binh tướng đă nhiều, mà đạo Bắc Ninh binh tướng hơi ít. [Bùi] Ân Niên
cũng chưa thấy có việc ǵ kém, lại vẫn cho sung chức tham tán cai quản
binh dũng đạo quân cũ, cùng với Trương Quang Đản cố gắng làm việc, cho
xong việc định làm…”
(207) . Và cuối cùng, sau cuộc tâu hặc lẫn nhau, đă được phân tích, để
thanh thoả giữa hai người, thống đốc Hoàng Tá Viêm cũng vẫn được giữ quyền
thống lănh tiết chế như trước, tham tán Bùi Ân Niên vẫn ở cương vị cũ.
Đó là sự mất đoàn kết? Nhưng dẫu sao cũng thể hiện được phần nào
tinh thần b́nh đẳng trong tâu hặc, phản hồi. Quan cấp trên khó ḷng áp bức
quan cấp dưới trong cơ chế b́nh đẳng trong tâu hặc, phản hồi ấy.
Cũng tháng ba ấy, bố chính tỉnh Quảng Tây nước Thanh là Từ Diên Húc
lại ra cửa quan ải đóng quân để trấn áp (208). Tại Bắc Ninh, thống lănh
quân Thanh Hoàng Quế Lan đến đóng quân ở phủ Lạng Giang, quản đới Trần Đắc
Dũng đóng quân ở huyện Yên Dũng, bang đới Diệp Phùng Xuân đóng bên tả ngạn
sông Đáp Cầu, thống đốc Vy Hoà Lễ đóng quân ở Hùng Lăm, cùng nhau làm
thanh thế ứng cứu. Quan quân thứ tỉnh Bắc Ninh Bùi Ân Niên bàn việc quân
với Hoàng Quế Lan. Hoàng Quế Lan bảo:
“Chưa tiếp được công văn thượng
quốc [nhà Thanh], chưa dám hội lại làm việc”, “nếu chúng [:Pháp] có theo
sông Nguyệt Đức đến, sẽ phái quân doanh đổi áo quần đánh giúp”
. Chả là
quân Thanh c̣n chờ
kết quả cuộc đàm phán giữa Trung Hoa nhà Thanh với chính phủ Pháp!
Triều đ́nh, nhất là hai đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết đă biết rơ t́nh h́nh ấy. Nhà vua cũng cùng triều
thần và Viện – Bạc đi đến kết luận tạm thời:
“Nước Thanh đă lo ngại sinh
ra hiềm khích
[với nước Pháp]… […] … Rút cục, việc ta, ta phải làm là chính. Vậy cho các
ngươi, quan quân thứ, quan tỉnh khuyến khích tướng biền phải tự gắng sức,
cho hết đạo bầy tôi, mà làm cho thế
nước mạnh mẽ, chớ có chỉ trông cậy vào người… […] … [Tuy
vậy, cứ] tuyên ngôn quân nước Thanh đến giúp cho nổi thanh thế” (209) .
Hai đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết đă nắm rơ t́nh h́nh ở Thiên Tân và phái bộ Phạm Thận Duật cũng như
sứ thần Nguyễn [Thượng] Phiên ở Quảng Đông (Trung Hoa). Người nắm rơ vấn
đề nhất, đó là thượng thư Nguyễn Văn Tường, v́ ông chuyên trách mũi nhọn
ngoại giao này.
“… Tháng hai [năm Quư mùi, 1883, trước thời điểm
này một tháng]… bọn [Phạm] Thận Duật đến Thiên Tân th́ nước Pháp đă có thư
đến, nói không chịu điều đ́nh, và
vin lấy cớ hoà ước năm Giáp tuất [1874] có câu: “Nước Đại Nam có quyền tự
chủ, không phải theo phục nước nào”,
[để] không cho nước Thanh nhận nước ta làm thuộc quốc. [Pháp] lại rút sứ
[thần] Bảo Hải [:Bourée] về, mà cho Lư Đức Cố [:Tricou] sang thay…” (210) .
Hướng vận động ngoại giao đối trọng ấy đang ở mức chưa thành công.
Đại thần nhà Thanh Lư Hồng Chương vẫn tiếp tục thương thuyết cùng sứ thần
mới của nước Pháp, ấy là viên quan văn Tricou.
Bởi thế, lực lượng quân Thanh do Hoàng Quế Lan thống lănh tuy đă
sang nước ta từ tháng chín nguyệt lịch năm ngoái (Nhâm ngọ, 1882) đến nay,
vẫn chưa động tĩnh ǵ! Thượng thư Nguyễn Văn Tường hết sức lo ngại, nhất
là trong lúc đó, Pháp càng có khuynh hướng chuyển quân thêm vào Bắc Ḱ.
Thượng thư Tôn Thất Thuyết cũng cùng chung ư nghĩ lo ngại ấy.
20
T́nh h́nh bên ngoài nước và trên mặt trận là thế, t́nh h́nh nội bộ
cũng không phải không phức tạp, đau ḷng.
Tháng ba nguyệt lịch Quư mùi (1883), nhà vua vẫn chưa có dấu hiệu
khỏi bệnh. Hồng Sâm đă được phái sang Trung Hoa để t́m rước thầy thuốc
giỏi, bởi các ngự y cũng như các lương y trong nước ta đều đă bó tay! Đại
thần quản lí sự vụ Bộ Binh Trần Tiễn Thành từ đầu năm Quư mùi (1883) đến
nay cũng đă mấy lần cáo ốm, nằm chữa bệnh ở công thự riêng trong khuôn
viên Bộ Binh. Việc Trần Tiễn Thành bị chê trách rất nhiều là một trong
những nguyên nhân khiến ông ta cáo ốm, ngoài căn bệnh lị, một bệnh mạn
tính, kinh niên về đường ruột.
“Năm thứ ba mươi sáu (1883), [Trần] Tiễn Thành v́
già ốm tâu nói: “Bệnh t́nh của thần liên miên ngày tháng, xin trả hạn để
chữa thuốc đă đến hai, ba lần, gần đây lại phát, tăng giảm không thường,
liệu không phải hàng tuần đă khỏi… […] … Vả công thự không phải là nơi
dưỡng bệnh, nằm lâu sợ người ta nói. Nếu tạm về nhà, thời xa cách việc cơ
mật, ḷng rất không yên, đương lúc sự cớ ấy vẫn thấy nhà vua quên ăn trễ
ngủ. Thần, tấm thân dẫu mắc bệnh, bụng thường lo giấu, c̣n một hơi thở
cũng không dám chút trễ năi… […] … Chỉ v́ thần đă tới niên lệ, vừa gặp
việc cơ mật bề bộn, chưa dám viện lệ xin [về nghỉ hưu], thời kẻ chê [là]
người luyến sạn (sách Tấn thư: ngựa hèn c̣n luyến hột đậu ở chuồng) có
ngại cho người hiền; lại nhân vừa nghỉ bệnh, thời người
cho là thấy [thời thế] khó, thoái thác cáo ốm. Chúng khẩu [:miệng lắm
người] c̣n nóng hổi chồng chất bời bời những lời chê bai. Thần đương ốm
trong tâm rất là đau khổ… […] … Tâm của thần, bệnh của thần bậc đại thần ở
triều đều biết rơ đă lâu. Thần ḷng lại hỏi ḷng, duy có mặc [kệ] họ, ḿnh
chỉ một niềm thôi… […] …” (211) .
Vua Tự Đức đă châu phê vào tờ sớ:
“Bệnh của khanh là lăo bệnh. Ta đă hỏi thầy thuốc,
họ nói: “không ngại”. Vậy cứ yên tâm ở thự, đợi khỏi, vào chầu nghe việc
cơ mật, bất tất phải nghỉ hạn ở ngoài, xa cách bất tiện”
(211) .
Đối với thượng thư Nguyễn Văn Tường, sau Vũ Trọng B́nh, chính Trần
Tiễn Thành là người không phải không có ân nghĩa với ông.
“Năm thứ hai mươi sáu (1873), Hà Nội, Hải Dương,
Nam Định, Ninh B́nh kế tiếp nhau thất thủ. Khi Nguyễn Văn Tường tới Hà Nội
giảng giải thu về bốn tỉnh, vua cho Văn Tường là do Trần Tiễn Thành đề cử
lên mới được biết, xuống dụ rằng: “[Nguyễn] Văn Tường cùng với trẫm được
tri ngộ, dẫu do từ khi làm huyện lệnh ở Thành Hoá mà mới biết tiếng thôi,
nhưng phần nhiều do Trần Tiễn Thành cử ra, nhân đó mới dần tiến lên. Nếu
cho là vô tri, theo lệ sống lâu nên lăo, thời truy nguyên ra, việc thưởng
nên thôi ư! Vậy thưởng [từ] thụ hiệp biện, [được thăng] tiến thự Văn minh
điện đại học sĩ, c̣n hàm vẫn như cũ. Đó là [do] biết tiến [cử] người hiền
nên được thượng thưởng”. Khi vào triều kiến thường được ưu lễ, gọi là Trần
khanh mà không gọi tên” (212) .
Nhưng thật sự chính kiến hai người vẫn khác nhau xa, và càng lúc
càng khác. Trần Tiễn Thành chỉ chuyên một đường lối chủ “hoà”, dần dần
buông xuôi, những năm về sau này, lại gần như đầu hàng, thoả hiệp. Nguyễn
Văn Tường chỉ xem
hoà là cơ nghi và
hoà phải đi đôi với thủ để cuối cùng
phải chiến.
Quả thật như thế, trong những năm về sau gần đây, t́nh h́nh không
thể “hoà” được nữa, nhưng Trần Tiễn Thành vẫn cứ “hoà”! Mâu thuẫn nẩy sinh
trong tâm trạng đại thần Viện – Bạc Nguyễn Văn Tường là một bên, việc hệ
trọng mất
c̣n của Đất nước, và một bên khác, ấy là ân nghĩa tiến cử cũ
(mặc dù Trần Tiễn Thành tự nguyện tiến cử theo lệnh dụ của vua, theo
phương châm “tiến cử người hiền, sẽ được
thưởng hậu; che giấu người hiền, sẽ bị giết”)
! Vận mệnh
Tổ quốc
và chút ân nghĩa tiến cử cũ: Bên nào nặng? Bên nào nhẹ? Đó là chưa đặt lên
bàn cân việc Trần Tiễn Thành lại nhận sự tác động bởi De Champeaux để đẩy
Nguyễn Văn Tường khỏi Nha Thương bạc…
Triều thần, thời điểm lịch sử này, không ngớt chỉ trích đường lối
chủ “hoà” của Trần Tiễn Thành, nhất là quá tŕnh hơn mười năm đứng đầu Bộ
Binh của một Đất nước đang chống ngoại xâm, ông ta lại để quân binh tŕ
trệ, vũ khí lạc hậu, đến nỗi vua cũng nhiều lần trách cứ! Thượng thư Bộ
Binh Tôn Thất Thuyết luôn chỉ trích Trần Tiễn Thành: Với quyền lực nắm
trong tay, ở vị trí đại thần số một, chỉ dưới mỗi một ḿnh vua, lại được
vua Tự Đức quá tin cậy đến mức khó hiểu, Trần Tiễn Thành muốn khuynh loát
tất cả, nhưng ông ta lại để t́nh trạng Bộ Binh như thế là không thể tha
thứ được! Nếu không có thượng thư Bộ Hộ sung đại thần Viện – Bạc, một
người có uy tín và ảnh hưởng nhất trong triều thần, th́ t́nh trạng Bộ Binh
c̣n suy bại đến mức nào! Ư kiến ở Viện – Bạc, ở các cuộc đ́nh nghị là ư
kiến chung về lănh đạo, về chủ trương, chính sách, về cách giải quyết các
trường hợp cụ thể khó giải quyết ở cấp tỉnh, huyện, nhưng trực tiếp nắm
giữ, thực thi, đốc suất công việc Bộ Binh, Trần Tiễn Thành không thể đổ
lỗi cho ai khác!
Rơ ràng không thể không nẩy sinh mâu thuẫn, và
mâu thuẫn không thể
không bị t́nh thế đẩy đến đỉnh điểm của nó! Biết làm thế nào được! Không
có một t́nh huống nào
thật sự hoàn toàn thuận lợi, nữa là ở thời đoạn lịch sử bi tráng này!
21
Tháng ba nguyệt lịch năm Tự Đức thứ ba mươi sáu, Quư mùi (1883),
t́nh thế lại im ắng trong căng thẳng, cường độ căng thẳng mỗi lúc mỗi tăng
lên. Nắng mùa hè vẫn sôi bỏng trong không khí.
Viện – Bạc và nhà vua không thể không dùng một từ xem ra c̣n nhẹ
nhàng, nếu so với từ “phản quốc” đích đáng, để giành cho nhân cách, tâm
địa của linh mục xứ Phát Diệm, Ninh B́nh Trần Lục (213), hay thường gọi là
cha Sáu, cụ
Sáu.
Y là một cốc nước bẩn nhưng vẫn phần nào vẫn c̣n là nước. Lần này, y rặt
là phản quốc. Linh mục Trần Lục ấy đệ thư đến quan tỉnh Thanh Hoá, xin
theo ư phái viên Pháp băi bỏ tuần ti ở cửa tuần Chính Đại! Chả là trong
thời gian Pháp bộc lộ dă tâm xâm lược Bắc Ḱ lần thứ hai, và tên Nguyễn
Hữu Độ tấu tŕnh theo ư Pháp bằng giọng lưỡi quan tâm đến việc nước một
cách giả dối, do đó triều đ́nh ít nhiều nhân nhượng cho triệt bỏ một số
tuần ti trong phạm vi Bắc Ḱ. Pháp vốn muốn những tuần ti của ta không c̣n
tồn tại để chúng tha hồ thao túng về thương mại và tự tiện thu thuế thương
chính. Nay Trần Lục lại muốn lấn sang Trung Ḱ cho thực dân Pháp. Lệnh dụ
vạch mặt linh mục Trần Lục phải ban ra:
“Tỉnh
Thanh Hoá không thuộc về Bắc Ḱ, đấy là Trần Lục nịnh hót mà chỉ [bày cho
Pháp]. [Trẫm] sai [Phan] Đ́nh B́nh bắt Trần Lục nói với phái viên nước
Pháp phải thôi” (213) .
Sự kiện vẫn c̣n gây xáo động t́nh h́nh Bắc Ḱ trong thời điểm căng
thẳng này, đó là việc quân Thanh đưa
”quân sang nhưng không động tĩnh”.
“[Đường] Cảnh Tùng tháng chạp
năm ngoái, tự kinh [đô] về Hải Pḥng, lại đi [đường] bộ đến các tỉnh Bắc
Ḱ, tra xét t́nh h́nh biên giới, đến nay cáo từ về nước”
(214) .
Theo lời tâu của thống đốc Hoàng Tá Viêm, khi với y
“cùng nhau
bàn luận, thấy có nghĩa phẫn lắm, bàn việc
quân rất là có lí, lại thêm Lưu Vĩnh Phúc là người cùng làng với viên ấy,
rất là kính trọng. Nếu được viên ấy ở lại đấy, tự khắc mọi việc làm chóng
xong” .
Về “sau
triều đ́nh nước Thanh chuẩn y cho”
Đường Cảnh
Tùng phụ giúp cho Hoàng Tá Viêm
(214). Nhưng
thật tâm, Viện – Bạc và nhà vua không tin cậy vào t́nh hữu nghị trong
sáng, “nghĩa phẫn”
của họ
Đường, cũng như Từ Diên Húc, v́ hành tung của họ trên nước ta,
mặc dù cũng chưa thấy có biểu hiện ǵ là lộng hành, xâm lược. Có người bấy
giờ đă nói: Chính tiến sĩ Đường Cảnh Tùng đă bí mật bàn với Lưu Vĩnh Phúc,
khuyên tướng Cờ Đen họ Lưu nên nhân cơ hội Đại Nam suy trầm này mà ám sát
Hoàng Tá Viêm, khởi binh, và lên ngôi An Nam quốc vương! Lưu khẳng khái từ
chối đề nghị của Đường Cảnh Tùng (215)! Đấy là sự thật hay kế li gián?
Không rơ! Kinh nghiệm lịch sử mấy ngh́n năm nay cho thấy đă nhiều lần quân
liên minh cứu viện bỗng lộ mặt xâm lược. Tuy nhiên, lần này chưa rơ. Triều
đ́nh Đại Nam ta chưa biết đến tập sớ của tổng đốc Quảng Đông Trương Thụ
Thanh đệ tŕnh lên vua Quang Tự nhà Thanh hồi tháng bảy nguyệt lịch Nhâm
ngọ (1882) (140)! Cũng như hai thượng thư Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết, các quan quân thứ, quan tỉnh Bắc Ḱ đều nghĩ: Giá như triều đ́nh
nhà Thanh cho ta mượn quân có trang bị, tiếp viện súng đạn (họ trao hết
cho Hoàng Tá Viêm, cho các tướng Đại Nam ta chỉ huy số quân Thanh đó, với
quân luật triều Thanh), th́ hiệu quả hơn, và ta yên tâm biết mấy! Nghĩ là
nghĩ vậy, ai cũng biết đây là một thế trận buộc phải chấp nhận vận dụng
vào thực tế, một khi đă gần như bế tắc. Nếu bị t́nh thế đẩy đến cùng, ta
sẽ chủ động cho thế
trận liên minh, đối trọng ấy trở thành “toạ sơn quan song hổ đấu” !…
Trong khi đó, kho gạo ở kinh đô chưa thật thừa thăi để dự bị chiến
tranh, nên Bộ Hộ của thượng thư Nguyễn Văn Tường đành xin cấp tiền thay v́
tiêu chuẩn gạo lương cho quan chức, hoàng thân, tôn thất (216).
Tháng tư Quư mùi (1883) lại đến.
Ở kinh đô Huế, “Nha Hải pḥng kinh ḱ tâu xin cắm
liền hàng rào bằng gỗ và lấp bằng sọt đá ở cửa hàng rào Lộ Châu” (217)
để đề pḥng
Pháp tấn công vào trung tâm
thần kinh của Đất nước.
Ở Bắc Ḱ, hai tên tướng phỉ, Phạm Văn Khoả và Nguyễn Văn Câu, người
huyện Đông Anh, tỉnh Bắc Ninh bị sa lưới. Với tội phản quốc, câu kết bè
lũ, tự xưng ngũ quân đại nguyên soái, điệu bát, lại cướp của, dán bích
chương ở các xă thôn, tống tiền và đ̣i nộp thuốc súng, đạn dược trước đây,
nay chúng bị bắt được, không thể tránh khỏi tử h́nh (218). Đó là bọn phỉ
quấy rối, nổi loạn thật sự, không hề đụng đến một chiếc lông chân của bọn
Pháp viễn chinh, cố đạo thực dân mà chỉ cướp bóc nhân dân, và nhắm đánh
vào quan quân triều đ́nh. Cùng với chiến công dẹp phỉ ấy của tỉnh Bắc
Ninh, một tướng phỉ Tàu khác, tên là Dương Đại Gia Hoả, bị quân Thanh bắn
rớt từ sườn núi xuống vực (219).
Công việc dẹp phỉ vẫn c̣n phải tốn ít nhiều tâm sức nhưng không
nghiêm trọng như những năm giặc Cờ, thổ phỉ tràn lan về trước. Thống đốc
Hoàng Tá Viêm dâng sớ xin khoan hồng cho tù phạm Hưng Hoá để giúp chúng
cải tà quy chính, sử dụng họ vào việc tiễu phỉ. Vua Tự Đức dẫu đang bệnh,
vẫn châu phê: “Quân cảm tử, phần nhiều ở trong tù phạm.
[Hăy] chọn lấy kẻ dũng cảm. [Vấn đề] chỉ ở tướng khéo khuyên dùng mà thôi”
(220) .
Bắc Ḱ, cái nôi sinh tụ đầu tiên của dân tộc ta, nơi mỗi tấc đất đều
ghi những chiến công chống ngoại xâm oanh liệt! Chính những người dân Nam
Đàng Ngoài, Bắc Đàng Trong cũng mang ḍng máu quật cường ấy tiến vào mở
đất vào phương nam. Thế mà, sau hai trăm năm chia cắt thời Trịnh – Nguyễn,
và kể xa hơn, sau mấy trăm năm, nói như vua Tự Đức, là “v́ phong tục
không chính, mà tiêm nhiễm đă
lâu nên mới đến thế. Không thế, th́ người đời xưa dùng để đánh quân
Nguyên, quân Minh là dùng dân nào?” (205).
Tiêm nhiễm phong tục nào vậy? Hăy hỏi linh mục Trần Lục và những tên tướng
phỉ như Tạ Văn Phụng, Hồ Văn Vạn, những Tịch, Trận, Khoả, Câu và những tên
giặc Cờ, giặc trốn nước Thanh, thuỷ khấu cướp bóc theo mùa, hải tặc các
quốc tịch…
“Tả đạo”, phỉ ta, phỉ Tàu cùng nguy cơ đói kém khá kinh niên, cứ trở
đi, trở lại, là những ǵ tạo nên một phần không khí căng thẳng ở Bắc Ḱ và
cả nước. Nhưng dẫu sao, nguy cơ giặc Pháp mới là trực tiếp và nguy hiểm
nhất. Phần lớn nhân dân Bắc Ḱ đang sục sôi căm uất. Không chỉ ba vạn
người dân mà gấp mười lần như thế đang sẵn sàng hỗ trợ quan quân triều
đ́nh để quyết chiến với Pháp. Nhưng lạ thay, hẳn do hậu quả hai trăm năm
chia cắt và “phong tục” kia chi phối, nên chưa thấy những lực lượng dân
quân, hương binh tự khởi phát đánh Pháp, trong thời đoạn sắc dụ đă ban ra:
“Quan quân
thứ, quan tỉnh các ngươi nên cố gắng nhiều hơn, một ḷng, hết sức, giết
bọn giặc, bắt tướng giặc, cốt cho
nước ta được yên mà oai nước được mạnh”; “nên cố gắng hơn
lên, đốc sức binh dũng, cốt phải đại thắng, cho chúng
sợ không dám hành động”; “một đạo Sơn Tây cũng nên
hợp sức cố đánh, bày mưu đánh cho được, cốt chóng
thành công cho đỡ lo nghĩ ngày đêm”; “Ninh B́nh là chỗ cổ họng, quan hệ
không phải là ít,… […] …, các ngươi khéo dùng thổ dũng, dân binh, hết ḷng
pḥng bị trước cho mười phần vững chắc…”; “c̣n ngoài ra, ai có mưu kế hay,
[luyện]
binh tinh nhuệ, đánh tất thắng, giữ thành tất vững, đều cho các quan quân
thứ, quan tỉnh hết ḷng mà làm…”
(199) .
Trong lúc đó, cũng tháng tư Quư mùi (1883), tên nhà văn khá nổi
tiếng ở nước Pháp, đang lộ nguyên h́nh là một tên xâm lược tàn ác và đốn
mạt, với chức vụ cai quản lực lượng sư đoàn thuỷ binh viễn chinh Pháp, tên
là Vy Ê hay Lư Hoa Lợi (Henry Rivière), “uỷ phái viên đem bán gạo chứa ở
Cục Chiêu thương Hải Dương và thu các thuế xuất nhập cảng, thuế thuốc
phiện và gạo” (221)
! Bọn thực
dân Pháp ở “tàu Pháp kiểm soát, đuổi phái viên [cuả ta], ngồi thu thuế
quan Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên” (222) !
Henry Rivière và bọn Pháp viễn chinh ngang ngược đến thế là cùng!
22
Trung tuần tháng tư Nam lịch, Quư mùi (1883), vào lúc sáng sớm ngày
mười ba (19.05.1883), Henry Rivière liền bí mật ra lệnh xuất quân sau khi
đă bí mật ra lệnh cho hậu cần phân phát khẩu phần có thịt tươi và rượu cho
quân viễn chinh Pháp (223). Với thịt tươi và những li rượu nồng độ cao,
bọn lính hăng máu hẳn lên. Chúng nai nịt, mang súng đạn cùng sư đoàn
trưởng thuỷ quân lục chiến Henry Rivière hành quân thật im lặng về phía
phủ Hoài Đức, nơi các quân thứ Sơn Tây và đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc đă kéo
về trấn đóng mấy hôm rồi. Henry Rivière rất căm hận thống đốc họ Hoàng và
quyết lần này sẽ lấy đầu họ Lưu để trả thù cho Françis Garnier, một tên
đại uư nhăi nhép vốn chẳng ra ǵ, nhưng nhờ sự tuyên truyền, y trở thành
anh hùng ở Pháp!
Trong bóng tối chưa hé một tia nắng hừng đông, lượng rượu cồn đổ vào
người (hẳn có thêm chất kích động) khiến bọn lính Pháp thấy ngứa ngáy ở
ngón tay bóp c̣ súng. Chúng đang thèm nghe tiếng nổ, thèm thấy máu trào và
những thây người ngă xuống, bất kể là dân lành hay lính triều đ́nh Đại
Nam.
Henry Rivière không uống rượu, nhưng y căm giận v́ những lời nhục
mạ, sỉ vả mà những toán quân của Lưu Vĩnh Phúc tạt vào hai chiếc tai của y
từ hôm trước. Bấy giờ, y cố b́nh tĩnh nén giận, không vội kéo quân ra như
Françis Garnier. Henry Rivière đă có trong tay một bọn “tả đạo” người bản
xứ, vốn được giám mục Puginier bí mật giới thiệu một cách tin cẩn. Y b́nh
tĩnh cho bọn ấy đi do thám t́nh h́nh đóng quân của quân ta. Và y vạch kế
hoạch đánh úp.
Hôm nay, Henry Rivière tự nhủ, như đă ra quân lệnh hồi khuya, phải
tiêu diệt quân Đại Nam khiêu khích đang ngủ vùi ở phủ Hoài Đức.
Khi chưa đến phủ Hoài Đức, mới vừa ra khỏi Cầu Giấy một đoạn, ở phía
tây, ngoài cửa ô La Thành, y hoảng hốt khi nghe tiếng hô xung phong phía
sau lưng, và từ trong những đám cỏ, sau gốc cây, bờ ruộng hai bên khúc
đường mới bước qua, bóng lính dưới quyền chỉ huy của Lưu Vĩnh Phúc ào tới,
nổ súng bắn chéo và xông vào đánh giáp lá cà.
Những toán quân gồm sáu trăm (600) tên Pháp cũng phản phục kích một
cách có bài bản, chứng tỏ chúng là một đoàn quân đă được huấn luyện kĩ
càng và dạn dày chiến trận.
Cánh bên phía trái, quân đoàn luyện của tướng họ Lưu do Dương Trứ Ân
chỉ huy. Nhưng tiếc thay, sau khoảng mấy chục phút đầu vùng dậy đánh mănh
liệt, bắn hạ và chém được nhiều tên địch, Dương Trứ Ân bị trúng thương, hi
sinh ngay tại trận địa (223). Cánh quân đoàn luyện này vẫn tiếp tục chiến
đấu. Giặc ở xa, họ nổ súng. Giặc ở gần hoặc chúng tiến đến gần, họ vung
đao, kiếm và dao ngắn.
Cánh quân phía bên phải, do Ngô Phượng Điển chỉ huy. Sau loạt súng
phối hợp với cánh quân bên trái, bắn chéo vào giặc Pháp, thấy chúng ngă
xuống v́ trúng đạn và ngă xuống ḅ toài trên mặt đất để tránh đạn, rồi
chúng nhanh chóng phản phục kích bằng những loạt súng liên thanh, Ngô
Phượng Điển lập tức ra hiệu lệnh cho toán quân tiền khu xung kích. Những
toán quân c̣n lại vẫn mai phục, bắn yểm trợ cho toán xung kích kia. Lúc
này, mặt trời đă sáng rơ. Ông lại cầm súng ngắn đứng dậy, phất tay cho đợt
tấn công thứ hai. Ông khom người chạy bên viên lính thổi kèn thúc quân
kiểu Anh. Bỗng Ngô Phượng Điển ôm lấy bắp chân. Máu tứa ra ở các kẽ ngón
tay. Ông ngă xuống. Thấy viên chỉ huy họ Ngô đă trúng thương, hai cánh
quân, cũng ít nhiều đă bị thương tổn, vội lùi lại cố thủ (223).
Đang nằm trên một nóc nhà ngói quan sát trận địa, Lưu Vĩnh Phúc liền
phất tay và nhảy xuống. Đă được mật bàn trước, Hoàng Thủ Trung cũng lập
tức ra hiệu lệnh cho đội quân của ông (223).
Hai cánh quân do họ Lưu, họ Hoàng trực tiếp chỉ huy cùng hai ông
xông ra giữa trận đạn của giặc Pháp, với các thế ḅ, toài, đi khom tuỳ
theo địa h́nh, địa vật. Những hào giao thông đă được đào sẵn. Những đụn
rơm, gốc cây, ụ đất đă bố trí sẵn. Những luống khoai, vồng sắn cũng được
tận dụng. Lưu Vĩnh Phúc đă cùng thống đốc Hoàng Tá Viêm đă nghiên cứu kĩ
trận địa mai phục.
Henry Rivière và sáu trăm tên Pháp bỏ chạy tán loạn. Đội kị binh lập
tức đuổi theo.
Những tên lính Pháp mắt xanh mũi lơ ngă xuống dưới những phát súng
nổ từ đằng sau lưng chúng hay bởi những thanh đại đao, mă tấu chém tới lúc
chúng đang bỏ chạy. Henry Rivière đă nhanh tay lột quân hàm đại tá để lẩn
vào bọn lính Pháp, nhưng Lưu Vĩnh Phúc đă chú ư đến y từ lâu với một đặc
điểm trên người y mà họ Lưu cố nhớ.
Vó ngựa của Lưu Vĩnh Phúc chồm lên con ngựa Henry Rivière đang cỡi.
Tiếng ngựa của Henry Rivière hí hăi hùng, bỏ chạy, để cái xác không đầu
ngă xuống cách chỗ chiếc đầu tóc râu vàng hoe đă rơi khoảng mươi thước.
Ngỡ như cái chết của Françis Garnier được lặp lại, nhưng xem ra, cái
chết đáng đời của Henry Rivière vẫn ngoạn mục hơn.
Ngoài ra, một quan hai, một quan ba Pháp cũng bỏ mạng tại trận cùng
hai mươi (20) tên lính Pháp khác, và sáu mươi (60) tên Pháp khác nữa bị
trọng thương cùng nhiều tên bị thương nhẹ. Những tên Pháp lem luốc bụi
đất, máu me, khói thuốc súng kéo nhau, bồng bế, khiêng vác nhau bỏ chạy
một cách thê thảm (223)…
Thống đốc Hoàng Tá Viêm trầm tĩnh cười thật hả dạ khi quan sát từ
đầu đến cuối cuộc phục kích lớn. Ông đă quyết tâm thực hiện lệnh dụ “một ḷng, hết sức, giết bọn giặc,
bắt tướng giặc, cốt cho nước ta được yên mà oai nước được mạnh”
! Và Lưu
Vĩnh Phúc vẫn là một dũng tướng, một
“hiệp sĩ
phi chính phủ, hành đạo trừ tà”
. Ông chỉ
căi lệnh
dụ là không ra lệnh bắt sống Henry Rivière, mà đă bảo Lưu Vĩnh Phúc phải
chém ngay, giữ đầu và xác của hắn làm “con
tin”.
Tin báo tiệp bay nhanh tên lưng ngựa trạm để vào kinh đô Huế.
Cả triều đ́nh, thần dân và nhà vua phấn khởi như chưa bao giờ phấn
khởi đến thế!
Sắc dụ ban thưởng tức khắc: Liệt sĩ tử trận Dương Trứ Ân được truy
phong tuyên uư phó sứ, gia tặng hàm lănh binh quan; Lưu Vĩnh Phúc thăng
thụ đề đốc với áo măo chánh nhị phẩm; Hoàng Thủ Trung thăng thụ tuyên uư
sứ với bậc hàm ṭng tứ phẩm, lănh chức lănh binh quan; Ngô Phượng Điển
được thăng chính thức tuyên uư phó sứ lănh chức phó lănh binh quan với sâm
quế thuốc thang điều trị; và tất cả quân binh, kể cả thống đốc Hoàng Tá
Viêm đều được thăng chức, thưởng tiền, hoặc khai phục chức tước bị cách
trước đó. Nhưng không có vinh quang nào bằng là họ tự biết chiến công này
sẽ măi măi được ghi lại trong sử sách, và trước mắt, khiến kẻ thù là giặc
Pháp, kể cả bọn thực dân đầu năo, chóp bu tận nước Pháp, phải thêm một
phen rúng động, hăi hùng và hằn học, thù hận một cách vô lí, vô đạo (223).
Bấy giờ, tại kinh đô Huế, Sứ quán Pháp đă đóng cửa, vắng hoe, im
ĺm. Lănh sự Pháp tại Hà Nội đệ thư đến quân thứ Sơn Tây, xin trao trả xác
chưởng thuỷ sư Henry Rivière và hai tên quan hai, quan ba Pháp. Tập tâu
vào kinh, vua Tự Đức bảo:
“Không cho! [Hăy] sai quân thứ Sơn Tây tạm
chôn, đợi
xét” (223) .
Hết tệp 5 truyện kí 9
Viết đến ḍng chữ
này vào lúc 16 giờ 26 phút,
ngày 29.12.2002
(26.11 Nh. ngọ, HB.2),
tại thành phố Hồ
Chí Minh.
TRẦN XUÂN AN
(188) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
177.
(189) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
177.
(190) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
178.
(191) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
178.
(192) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
192.
(193) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
179.
(194) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
180 – 181.
(195) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
159.
(196) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
533.
(197) Y. Tsuboi trích dẫn Bùi Quang Tung,
NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 300. Không rơ Bùi Quang Tung căn cứ vào tư liệu
nào, và tư liệu ấy có đáng được tin cậy hay không, để viết như thế. Dẫu
sao, tôi vẫn xem chi tiết về bệnh và cái chết vua Tự Đức, theo Bùi Quang
Tung, như chất liệu tiểu thuyết có thể sử dụng được ở chừng mức nào đó
trong thể truyện kí lịch sử.
(198) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
181.
(199) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
181 – 182.
(200) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
182.
(201) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
183.
(202) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
183.
(203) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
182 – 183.
(204) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
184.
(205) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
153 – 154.
(206) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
185.
(207) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
185 – 186.
(208) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
187.
(209) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
187 – 188.
(210) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
161 – 162.
(211) ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 169 – 170.
(212) ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 167.
(213) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
188.
(214) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
190.
(215) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
402 – 403.
(216) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
189 – 190.
(217) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
192.
(218) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
190.
(219) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
190 – 191.
(220) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
191.
(221) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
191.
(222) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
192.
(223) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
192 – 194. Xem thêm: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 404 –
409.
Chú thích xong lúc
08 giờ ngày 14.02.2002
(13.01 Quư mùi, năm
thứ hai công nguyên Ḥa B́nh [:HB.2]) .
TRẦN XUÂN AN
Hết tệp 5
(phân đoạn
5,
truyện kí 9)
Xin xem tiếp
tệp 6
(phân đoạn
6,
truyện kí 9)