Tệp 5
PHÂN ĐOẠN 5
TRUYÊN KÍ THỨ 7
TRẦN XUÂN AN
CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874
Truyện kí thứ bảy
(phân đoạn
5)
11
Quả thực,
đến lúc này, sau nhiều chuyến đi tàu thuỷ dọc ven biển Đất nước, phó sứ
Nguyễn Văn Tường mới nhận ra, từ Đà Nẵng trở vào, thiên nhiên có một khí
hậu và thời tiết khác hẳn. Tất nhiên là nhờ thuốc thang ngự dụng và thầy
thuốc ngự y, nhưng cũng c̣n nhờ nắng ấm, ông sớm hồi phục sức khoẻ. Ông
cảm nhận điều đó bằng tất cả xúc giác của ḿnh. Có điều, phó sứ Nguyễn Văn
Tường vẫn tự thấy, chắc hẳn khi sự biến đă qua, cách giải quyết dẫu sao
cuối cùng cũng do nhà vua, triều đ́nh bàn thảo, quyết định. Và tựu trung,
như thế, ḷng lo nghĩ cũng băo hoà, nên giấc ngủ về đêm có phần đẫy giấc
hơn, bớt trăn trở, khắc khoải, thao thức đi. Do đó, ông sớm thuyên giảm
bệnh chăng.
Thật sự khi
tàu mới cập bến Thủ Ngữ tại Sài G̣n cho đến mấy hôm sau, ông vẫn chưa hay
ở Nghệ – Tĩnh vừa bùng nổ cuộc
nội chiến “B́nh Tây sát tả”!
Sau một bữa
ăn tối, các thành viên chính của sứ bộ Đại Nam ngồi quanh bàn nước, vừa
chuyện tṛ vừa bàn thảo thêm một vài khía cạnh của “hoà” ước và cả thương
ước.
Chánh sứ Lê
Tuấn vẫn c̣n hơi mệt mỏi, mặc dù chứng viêm họng mạn tính đă khỏi cơn tái
phát. Ông vẫn luôn nói năng chậm răi, từ tốn. Giọng Hà Tĩnh của một người
nhiều năm ra Bắc vào Nam vẫn c̣n nguyên chất:
- Quan phó
sứ rời khỏi Gia Định từ hôm mười bảy tháng mười năm ngoái, đến hôm rằm
tháng giêng này, rứa là cũng gần tṛn ba tháng trời! Nói cho chính xác là
kém hai ngày, vị chi tṛn một quư! Thật thấm thoát mà không biết mấy biến
động! – Chánh sứ nén tiếng thở dài –.
- Bẩm, sự
biến Bắc Ḱ và những cách giải quyết, cũng như quyết định của đức vua,
triều thần, ở đây quan chánh sứ, quan tham biện đă nắm rơ và cụ thể. – Phó
sứ Nguyễn Văn Tường nói –. Vấn đề c̣n lại là “hoà” ước, kế tiếp là thương
ước. Nhưng tôi thấy hầu như cũng đă thành dạng bản cả rồi!
- Thật ra,
thành dạng bản từ hai tháng trước. Ngày hai mươi sáu tháng mười âm
(15.12.1873), tướng Dupré đă gửi cho tôi xem xét bản gốc của văn kiện
“hoà” ước (169)! Ngày hai mươi ba tháng chạp (09.02.1874) mới đây, ông
Prioux đă cùng linh mục Nguyễn Hữu Cư bàn định quy cách “hoà” ước (169).
Rồi từ hôm ba mươi tháng chạp (16.02.1874) đến nay, cứ bàn căi măi một số
điều khoản… Bàn căi lần cuối cùng để thông qua (169)… Thế đấy, cho đến mấy
hôm gần đây nhất, “hoà” ước đă thành dạng bản rồi, nhưng các cố đạo vẫn
khiếu nại. Họ muốn tiếp tục bàn thảo thêm về điều khoản liên quan đến họ
với việc truyền đạo và về dân giáo (170). Mấy hôm nay, quan phó sứ cũng đă
trực tiếp thảo luận đó. Và dẫu sao, th́ hai bên cũng đă thông qua… Đôi khi,
tôi vẫn lấy làm tiếc về vụ biến Bắc Ḱ. Nếu chúng ta không cứng rắn, mà
mềm dẻo một tí, th́ quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương không phải tử tiết,
và máu không đổ ở ngoài ấy… – Chánh sứ Lê Tuấn chợt rắn giọng –. Nhưng đó
là ư nghĩ lúc dao động…
- Đâu phải
cả ba chúng ta đây không ai bị dao động! Thú thật, lúc mới nghe báo tin Hà
Nội thất thủ, quan Vũ hiển bị thương, bị bắt, pḥ mă Nguyễn Lâm hi sinh
tại trận, Phan Đ́nh B́nh, Vũ Đường, Đặng Siêu, Nguyễn Đăng Nghiễm, Phan
Tôn, Phan Liêm bị chúng bắt chở vô đây, định đày sang Pháp, tôi cũng hơi
dao động thật! Bọn Pháp muốn làm sức ép và chúng đă làm thật, thậm chí
chúng c̣n muốn chiếm đóng bằng quân đội viễn chinh của chúng! Có điều ta
không để cho chúng làm được điều ấy. Françis Garnier đă phải đền mạng.
Chúng chiến, ta cũng phải chiến.
Ta phải chiến đấu mới hoà được!
T́nh thế chung và t́nh huống cụ thể bắt buộc phải như vậy. – Phó sứ Nguyễn
Văn Tường cố giấu xúc động –. Lưu Vĩnh Phúc đă thực hiện vai tṛ “hiệp sĩ
phi chính phủ” rất tốt. Đó là do tài điều động và sự yểm trợ của thống đốc
Hoàng Tá Viêm và tham tán Tôn Thất Thuyết. Tôi đă có dâng sớ xin nhà vua
tưởng thưởng, trả chức, phong tước cho ba vị ấy (171).
- Ồ, cả Lưu
Vĩnh Phúc? Tôi xin tạt ngang khía cạnh này một chút. Nếu phong chức cho
Lưu Vĩnh Phúc, th́ ông ta trở thành quan của triều đ́nh Đại Nam thật rồi,
làm sao c̣n đóng vai “hiệp sĩ
phi chính phủ”
hay
“hiệp khách giang hồ hành đạo trừ tà”
được?
- Cái khó là
ở đấy, nhưng cũng đă được đ́nh nghị xong, tuy chưa công bố. Đơn giản là
thế này… Lưu Vĩnh Phúc là người Hoa, nguyên là giặc Cờ đen, mới được
Nguyễn Huy Kỷ và Trần Doăn Đạt quy phục, ai cũng biết. Nhưng ta cứ nói với
Pháp: “Ông ta cứ chiến đấu chống phỉ và Pháp như một hiệp sĩ ngoài ṿng
cương toả của triều đ́nh ta. Dẫu triều đ́nh ta có phong chức cho Lưu Vĩnh
Phúc để ràng buộc th́ ông ta vẫn cứ tính nào tật ấy. Đó là một “hảo hớn”
đồng thời là quan của triều đ́nh Đại Nam! Triều đ́nh không thể ứng xử với
ông ta như một viên quan thuần tuư Đại Nam…”. Người Pháp không thể trách
ta cũng như không thể làm ǵ Lưu Vĩnh Phúc được.
Phó sứ và
tham biện cùng cười khẽ, cảm thấy thật thú vị. Trong khi đó, chánh sứ Lê
Tuấn chỉ muốn câu chuyện quay lại vấn đề đang bàn thảo.
Không khí
bỗng im ắng một lúc khá dài.
Rót trà ra
chén, tay của chánh sứ Lê Tuấn hơi run, một phần v́ tuổi già, lại bệnh
yếu, một phần khác là do tâm trạng của ông lúc này. Dẫu mọi việc hầu như
đă được ước định, chỉ c̣n chép lại “hoà” ước cho thật sạch đẹp theo quy
cách, và đặt bút xuống kí, áp ấn lên mặt giấy nữa thôi, nhưng nào ai trong
sứ bộ cảm thấy không buồn!
- So với yêu
cầu đặt ra ban đầu, như thế là chúng ta thất bại. So với “hoà” ước Nhâm
tuất 1862, chỉ hơn được vài điểm nhưng đă bị kèm theo thương ước thật bất
b́nh đẳng… – Phó sứ Nguyễn Văn Tường hơi trầm tư –. Phải tự nghiêm khắc
thấy như vậy. Có điều, tôi vẫn rất tâm đắc với điều khoản Đại Nam ta được
mở trường dạy học, lập văn miếu cho sĩ tử tại Nam Ḱ này. Ta mất đất nhưng
quyết không để mất dân tâm! Quan chánh sứ, quan tham biện hẳn cũng đồng ư
như tôi, rằng trong thế yếu của nước ḿnh, cũng phải xem việc mở cửa biển,
khai thông thương mại với các nước là điều kiện để đua tranh với bốn bể
năm châu. Tất nhiên, mở cửa biển, khai thương trong thế nước hùng mạnh,
không chịu các điều khoản hiệp ước bất b́nh đẳng, dân ta đă quen đua tranh
với thiên hạ bốn phương, th́ yên tâm hơn, ít nguy cơ hơn… Nhưng thế nước
suy yếu, biết làm sao được!
Trước “hoà” ước này, lại đă có “hoà” ước Nhâm tuất 1862, thật quá bất lợi!
Sứ bộ ta vào trận
chiến ngoại giao này vào lúc đă quá muộn, thế nước đă bị trói buộc, lại
quá suy nhược! Biết làm thế nào được…
- Nhà đă
cháy gần hết, chữa được chút nào hay chút ấy. Như vậy cũng là khá rồi… So
b́ thế nào được với thời đại thắng quân Nam Hán, đánh Tống b́nh Chiêm, ba
lần đánh bại quân Nguyên – Mông vô địch thế giới, thời Nguyễn Ức Trai viết
“B́nh Ngô đại cáo”!
Tôi đồng ư với
quan chánh sứ, quan phó sứ, rằng ta có dao động, và ta cũng chưa đạt mục
tiêu ban đầu đề ra (thật ra các mục tiêu ấy quá cao, so với khả năng hiện
thực!). – Quan tham biện Nguyễn Tăng Doăn nói –. Biết làm sao được!
- C̣n ư kiến
của tôi: Phải cố cầm cự thêm một thời gian dài nữa, để chấn chỉnh mọi mặt
Đất nước, để học giặc mà đánh giặc… – Phó sứ Nguyễn Văn Tường nói, chợt
nh́n quanh, cảnh giác, rồi lại yên tâm –.
- Yên tâm!
Đây là Dinh Sứ thần do bọn Pháp xây dựng, nhưng chúng chẳng nghe lén được
đâu. Những viên lính tuỳ tùng của sứ bộ ta chỉ lo mỗi một việc cảnh giác
bọn Pháp nghe lén, chẳng lẽ không làm tốt sao! – Chánh sứ Lê Tuấn mỉm cười
cuối câu nói –.
Chuyện tṛ
thêm một lúc, ba thành viên chính của sứ bộ đi ngủ. Không một ai trong họ
không thao thức, đau xót, mặc dù
vua Tự Đức, đ́nh thần và cả hoàng tộc
đều xem “hoà” ước Nhâm tuất 1874 họ sắp kí kết là một thắng lợi lớn của sứ
bộ (172)…
Họ hiểu văn kiện “hoà” ước chỉ vài chục trang giấy, nhưng liên quan đến
vận mệnh Tổ quốc… Họ phải chịu trách nhiệm trước triều Nguyễn và nhân dân
Đại Nam, cũng như với lịch sử thiên thu…
Vào lúc bốn
giờ chiều ngày hai mươi bảy tháng giêng năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp
tuất (15.03.1874) (173), chánh sứ Lê Tuấn và phó sứ Nguyễn Văn Tường long
trọng thay mặt triều đ́nh Vương quốc Đại Nam đóng khuôn dấu toàn quyền đại
thần vào “hoà” ước! Song song, bên cạnh, là chữ kí, khuôn dấu của thiếu
tướng đề đốc, thống đốc Nam Ḱ Dupré, người đại diện toàn quyền của Nước
Cộng hoà Pháp (173)!
Hai mươi
phát đại bác nghi lễ nổ rung trời Gia Định! Đối với sứ bộ và nhân dân, đấy
là giây phút sống lại nỗi phẫn uất Nhâm tuất 1862 và Đinh măo 1867!
Chưa trọn
hai ngày đêm, vào lúc ba giờ nửa khuya về sáng, trong canh khắc bắt đầu
ngày hai mươi chín tháng giêng nguyệt lịch (17.03.1874) (174), chánh sứ Lê
Tuấn trút hắt hơi thở tắc nghẹn cuối cùng trước ba vị quan ngự y, những
ngự y vốn được nhà vua và triều đ́nh phái đi theo sứ bộ mấy tháng nay. Từ
hôm qua, sau buổi tiệc tiễn chân tướng Dupré về Pháp, chánh sứ Lê Tuấn lại
ngă bệnh. Có lẽ v́ rượu mạnh trong bữa tiệc ngoại giao, nên cổ họng quan
chánh sứ lại đột ngột viêm tấy và lồng ngực đầy đờm răi đặc quánh, khiến
ông chết như một người ngạt thở! Chánh sứ Lê Tuấn mất lúc ông mới suưt
soát tuổi sáu mươi (174)!
Bốn giờ rưỡi
sáng, tại căn nhà ở gần Cầu Ông Lănh (174), nơi vừa kịp thuê, thi hài quan
chánh sứ được khâm liệm, trong nỗi buồn đau, tưởng tiếc của phó sứ Nguyễn
Văn Tường, tham biện Nguyễn Tăng Doăn cùng đoàn tuỳ tùng. Lúc ấy, có sự
hiện diện của nhiều quan chức Pháp, trong đó có đề đốc kiêm thống đốc
Krantz, kẻ mới vừa sang để thay thế Dupré.
Krantz đă
cho chiếc tàu thuỷ mang tên Montcalm, đang đậu ở cảng Vũng Chân, chở thi
hài chánh sứ Lê Tuấn và toàn thể sứ bộ Đại Nam cùng đoàn tuỳ tùng về kinh
đô Huế (174).
Đến Huế, lễ
truy điệu trọng thể được tổ chức trước khi tiếp tục chuyển linh cữu chánh
sứ Lê Tuấn về với ḷng Đất Mẹ quê hương Hà Tĩnh.
Trong hương
khói trầm nhang tưởng niệm, phó sứ, tham biện sứ bộ và đoàn tuỳ tùng nghẹn
ngào thương tiếc, nhất là khi một viên chức hữu tư Bộ Lễ, phụng chỉ ban
tế, đọc điếu văn của chính hoàng đế Tự Đức (172):
“… Việc đánh
dẹp phía đông chưa xong, việc đi sứ sang tây lại
gấp đến. Ai cũng nói rằng khó kiếm được người, chỉ có dùng người ấy là hơn
cả. Ngươi về yết kiến vua chưa được mấy ngày, bấy giờ ngươi đă mang bệnh,
ăn uống đă rất kém. Nhưng chỉ nghĩ đến công việc, không bỏ hỏng được, và
cái khí tiết không kể đến thân của ngươi, nên trẫm cũng để cho ngươi đi mà
luôn ngóng ngươi trở về! Hỡi ơi thương thay! Sao nay chẳng thấy ngươi về!
Trẫm với ngươi không phải là thân thích, cố cựu, nhưng riêng khen bụng
ngươi giỏi vượt mọi người, nhanh hơn khanh tướng, ngươi đă cương quyết xin
đi để báo đáp ơn tri ngộ. Trẫm đương mong t́m được người, cũng trộm lấy
làm mừng rằng đă biết được người. Nay bản thảo hoà ước mới xong th́ tin
báo tang vụt tới, đáng mừng mà hoá ra buồn. Hỡi ơi thương thay! […]
Khi lâm
hành, ngươi đă dự lo tất sẽ xảy ra biến cố… […] … Biết […] thương uỷ phó
sứ [Nguyễn Văn Tường] kíp về điều đ́nh, rồi ngươi tiến tới (suư phủ Pháp)
giảng giải, cuối cùng đă có thể chuyển nguy làm yên.
Ngày nay
chiến tranh trở lại giảng hoà, th́ công của phó sứ [Nguyễn Văn Tường] tức
là công của ngươi vậy. Trẫm đương mong ngươi về mà cùng nhận sự luyến ái
hậu t́nh của trẫm. Ngờ đâu… […] khiến người ta biết bao thương tiếc. Hỡi
ơi thương thay!
Vả ngươi
chưa tới lục tuần, mắc cái bệnh hầu t́ không quan trọng. Trẫm đă không
ngại xa xôi ngh́n dặm, ban thầy cấp thuốc liên tiếp dọc đường, tưởng rằng
cái bệnh vô căn nguyên ấy không thuốc rồi cũng khỏi. Đâu có ngờ ngươi vội
từ trần. Hỡi ơi thương thay! […]
[…] Tài
đức công nghiệp của ngươi đă có ng̣i bút của sử thần. Đây trẫm chỉ ghi lại
cái t́nh tri giao đối với ngươi, gọi là có mấy lời, rót mấy chén rượu, cho
trọn cái nghĩa thuỷ chung vua tôi mà thôi. Hỡi ơi thương thay!” (172).
11
CƯỠNG ƯỚC
“HỮU NGHỊ” GIÁP TUẤT 1874 (175)
“Hoà ước mới
định (tất cả hai mươi hai [22] khoản) đă làm xong.
Lời ước
rằng: Nay vua nước Đại Nam và vua nước Đại Pháp cần muốn kết lời thề hoà
hiếu, hoà thuận bền chặt để cho hai nước được giao thiệp với nhau lâu dài.
Nhân đó cùng bàn, [làm] nên định ước mới kết giao, để thay thế điều ước đă
định tại ngày mùng chín (09) tháng năm (05) năm Nhâm tuất, Tự Đức thứ mười
lăm (15), tức là ngày 05 tháng 06 năm 1862. Cho nên đặc cách phái toàn
quyền đại thần để tiện làm việc.
Vua nước Đại
Nam đặc cách phái H́nh bộ thượng thư, khâm sung định ước chánh sứ toàn
quyền đại thần là Lê Tuấn; Lễ bộ tả tham tri, khâm sung định ước phó sứ
toàn quyền đại thần là Nguyễn Văn Tường.
Vua nước Đại
Pháp đặc cách phái tổng thống Nam Ḱ, thuỷ lục dân quân đại nguyên soái,
ngự tứ đệ nhất đẳng thưởng công bội tinh, tuyên giáo bội tinh, khâm sung
định ước toàn quyền đại thần là Du Bi Lê [Dupré].
Hai bên đă
chiếu sắc khâm sai toàn quyền, công đồng so sánh, xét duyệt, đều là thoả
đáng, sẽ đem điều ước lập ra kê khai như sau:
Khoản thứ I:
Từ nay về sau, nước Đại Nam cùng với nước Đại Pháp đời đời kết giao hoà
hiếu, t́nh bạn thực thà.
Khoản thứ
II: Vua nước Đại Pháp biết rơ vua nước Đại Nam là giữ quyền tự chủ, không
phải theo phục nước nào, nên vua nước Đại Pháp tự hứa giúp đỡ, lại ước
định: Như hoặc nước Đại Nam nếu có giặc và nước ngoài đến xâm nhiễu, mà
vua nước Đại Nam có [thông] tư xin giúp đỡ, cốt cho dẹp yên, cũng muốn
đánh hết giặc biển quấy nhiễu, cướp bóc ở phận biển nước Đại Nam, các phí
tổn đều do nước Đại Pháp tự chịu và không đ̣i trả lại.
Khoản thứ
III: Vua nước Đại Nam nên đền đáp t́nh hứa giúp ấy, ước định: Nếu có giao
thông với các nước ngoài, th́ phải góp ư với nước Đại Pháp. Nếu từ trước
có giao thiệp đi lại thông sứ với nước ngoài nào, nay nên theo như cũ,
không nên đổi khác. Duy nước Đại Nam muốn giao thông buôn bán, bàn định
thương ước với nước nào, đều được tuỳ tiện; nhưng thương ước ấy không nên
trái với thương ước của nước Đại Nam cùng nước Đại Pháp hiện nay đă định.
Lại khi nào cùng với nước nào định thương ước ấy, th́ báo trước cho triều
đ́nh nước Đại Pháp biết.
Khoản thứ
IV: Vua nước Đại Pháp ước định cho thêm vua nước Đại Nam các thứ đồ dùng
mà không đ̣i tiền, kê ra sau này:
- Năm (05)
chiếc tàu chiến (tàu ấy chiều dài, chiều ngang bao nhiêu, lớn hay nhỏ, sẽ
có giấy biên để làm bằng). Sức máy năm (05) tàu ấy thông tính ngang với
sức ngựa, ước [chừng] năm trăm (500) [mă lực]. Máy móc, gỗ ván và nồi dẫn
nước ở năm chiếc tàu ấy đều là bền chặt và tốt hết cả. Lại các hạng súng
ống, vâït liệu kèm theo tàu đầy đủ, y như lệ đồ dùng ở tàu chiến của nước
Đại Pháp.
- Về súng
lớn: một trăm (100) cỗ. Ḷng súng ấy đường kính từ 7 phân đến 1 tấc 6 phân
(đều dùng thuốc [súng] của nước Đại Pháp). Mỗi cỗ, thuốc đạn đều hai trăm
(200) viên.
- Về súng
điểu thương mở bụng: một ngàn cây (1.000). Thuốc đạn năm mươi vạn
(500.000) viên.
Các đồ vật
trên này, đợi sau khi hoà ước cùng giao cho nhau, hạn trong một năm, đưa
đến Gia Định giao cho nước Đại Nam nhận dùng.
Lại như nước
Đại Nam có muốn: mượn người nước Đại Pháp dạy lính thuỷ, lính bộ; và các
thợ thuyền làm giúp máy móc; cùng người am hiểu thuế lệ, thu giúp thuế
buôn bán ở các cửa biển; và người am hiểu tiếng, chữ, kĩ nghệ làm trường
để dạy; mua thêm tàu chiến, thuốc đạn, đủ để dùng về việc quân; [nói chung
tất cả] các khoản ấy th́ nước Đại Pháp đều phải làm giúp cho. C̣n như tiền
công mượn các người ấy và giá tiền mua thêm tàu và súng, tới khi ấy hai
nước cùng định, cần phải thoả đáng với nhau.
Khoản thứ V:
Vua nước Đại Nam biết rơ địa hạt nước Đại Pháp hiện được cai trị, tức là
sáu (06) tỉnh: Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà
Tiên (phía đông giáp biển và địa đầu phía tây tỉnh B́nh Thuận nước Đại
Nam, phía tây phía nam đều giáp biển, phía bắc giáp nước Cao Miên và địa
đầu phía nam tỉnh B́nh Thuận nước Đại Nam) đều về quản hạt của nước Đại
Pháp, riêng giữ quyền tự hữu.
Duy nước Đại
Nam có phần mộ quê ngoại về họ Phạm, họ Hồ, cộng mười bốn (14) sở. Trong
đó, họ Phạm mười một (11) sở, ở thôn Tân Niên đông và thôn Tân Quan đông,
thuộc tỉnh Gia Định; họ Hồ ba (03) sở, ở thôn Linh Chiểu tây và xă Tân
Mai, thuộc tỉnh Biên Hoà. Các mộ ấy, nghiêm cấm các hạng người đều không
được xâm phạm. Nước Đại Pháp lại xin trích hai trăm (200) mẫu ruộng đất
gần mộ, trong số đó giao cho họ Phạm một trăm (100) mẫu, họ Hồ một trăm
(100) mẫu, để làm nhu phí vâng giữ các phần mộ. C̣n như ruộng đất ấy và
nhân đinh họ Phạm, họ Hồ, nước Đại Pháp đều miễn trừ đi lính, đi phu và
các thuế đinh, thuế điền.
Khoản thứ
VI: Chiểu theo điều ước cũ năm Nhâm tuất (1862), nước Đại Nam c̣n thiếu
tiền bồi thường cho nước Đại Pháp một trăm vạn (1.000.000) đồng bạc (mỗi
đồng bạc nặng 07 đồng cân 02 phân). Nay được bỏ hết, không đ̣i hỏi nữa.
Khoản thứ
VII: Nguyên điều ước cũ năm Nhâm tuất (1862), nước Đại Nam c̣n thiếu tiền
bồi thường cho nước Y Pha Nho (Tây Ban Nha) một trăm vạn (1.000.000) đồng
bạc (mỗi đồng bạc nặng 07 đồng cân 02 phân). Vua nước Đại Nam ước định trả
cho triều đ́nh nước Đại Pháp để chuyển giao cho nước Y Pha Nho, [nhưng]
phải đợi [từ] ngày nào nước Đại Nam chiểu thu thuế quan các cửa biển đă mở
cho các nước Tây dương và Tân thế giới thông thương. Mỗi năm thu được bao
nhiêu, trừ số chi phí trong một năm ra, hiện c̣n bao nhiêu, [th́] chia làm
hai thành [:02 phần], trích lấy một thành, bồi [đắp] vào số bạc thiếu ấy.
Mỗi năm bồi [thường] bao nhiêu, giao cho nguyên soái nước Đại Pháp ở tỉnh
Gia Định biên nhận, chuyển giao cho nước Y Pha Nho, lấy giấy biên nhận của
nước ấy, giao cho nước Đại Nam làm bằng. Nhưng không kể là mấy năm, năm
nào bồi [thường] xong th́ thôi.
Khoản thứ
VIII: Người nước Đại Nam có giúp nước Đại Pháp việc ǵ hoặc [người] nước
Đại Pháp có giúp nước Đại Nam việc ǵ, tự phản bội nước ḿnh mà có can
phạm pháp luật của nước, phải tịch biên gia sản, th́ từ khi đă định hoà
ước trở về trước, vua nước Đại Pháp và vua nước Đại Nam đều khoan tha, cho
trả lại gia sản. Duy gia sản ấy đă từng bán đi, không c̣n ở nhà nước nữa,
không phải trả về.
Khoản thứ
IX: Vua nước Đại Nam biết rơ Đạo Thiên chúa nguyên để khuyên người làm
điều lành. Nay đem các giấy tờ cấm Đạo Thiên chúa từ trước bỏ hết đi. Lại
cho phép người nước Đại Nam có muốn theo đạo và giữ đạo, đều được thong
dong tự tiện. V́ thế, người theo giáo trong nước đều được tuỳ tiện các
việc hội nhau đọc kinh, lễ bái, không kể số người, người ngoài [đạo] không
được vin cớ bức bách dân theo Đạo Thiên chúa làm việc ǵ trái phép đạo và
không bắt giáo dân khai riêng sổ sách. Từ nay về sau, giáo dân ấy đều được
đi thi, ra làm quan, mà chớ bắt phải trái phép đạo.
Vua nước Đại
Nam ước định:
Đem sổ riêng
từ trước bỏ đi tất cả, c̣n sổ sách binh đao, thuế khoá, phàm các việc đều
cùng giống như nhân dân. Và cấm từ nay về nói năng, giấy tờ, không nên lại
dùng chữ nào, câu nào có làm nhục đến Đạo Thiên chúa, cùng là trong mười
điều [mười điều răn? Thập điều
diễn nghĩa?],
nếu có những chữ, những câu như thế, cũng đều chữa lại.
Giám mục,
linh mục nước Đại Pháp đến ở nước Đại Nam để giảng đạo, người nào hễ tŕnh
có giấy thông hành của nguyên soái nước Đại Pháp ở Gia Định cấp cho, có đủ
Bộ Lễ hoặc quan tỉnh của nước Đại Nam đóng ấn, phê chữ “dĩ tŕnh”, mới
được vào trong nước Đại Nam, và tuỳ tiện đi lại ở trong địa phận thuộc về
giám mục ấy, tự do giảng đạo, chớ nên phân biệt, bắt phải quản thúc; c̣n
có ra đi, không trở lại, [th́] sức [:truyền lệnh] cho các xă thôn sở tại
khai báo như trước. Linh mục nước Đại Nam giảng kinh truyền giáo, cũng như
linh mục nước Đại Pháp.
Nếu linh mục
nước Đại Nam có phạm tội, phải phạt đánh roi, đánh trượng, th́ nên chiểu
lệ cho lấy tiền chuộc thay, không nên thực hành đánh roi, đánh trượng.
Giám mục, linh mục nước Đại Pháp và linh mục nước Đại Nam đều được thuê
mua ruộng đất làm đạo đường, đạo quán, nhà dục anh, nhà dưỡng bệnh và các
nhà thuộc về truyền giáo.
Và giáo dân
ấy trước can phải giam, đi an trí, gia sản đă bị tịch biên, nay nếu hăy
c̣n ở nhà nước, th́ nên giao trả cho giáo dân ấy nhận lấy; nếu đă bán mất
rồi, không c̣n ở nhà nước nữa th́ thôi.
Các khoản
trên đây th́ giám mục, linh mục nước Y Pha Nho cũng đều nhờ ơn như thế cả.
Sau khi hoà
ước này cùng giao cho nhau [:sau khi vua, quốc trưởng phê chuẩn, sẽ hỗ
giao], nên ban sắc dụ xuống bá cáo cả nước cho dân xă đều biết vua nước
Đại Nam đă rộng ban ơn huệ, chuẩn cho giáo dân được tự do theo đạo như
thế.
Khoản thứ X:
Nước Đại Nam đều có làm trường học ở thành Gia Định để tiện dạy học tṛ,
th́ có quan Bộ Lại của nước Đại Pháp ở Gia Định trông nom giúp cho. Trong
trường học ấy không được giảng dạy việc ǵ có trái phong hoá và trái quyền
của nước Đại Pháp. Như [ng; chẳng hạn] có làm đền miếu tế tự [hoặc] việc
ǵ [tương tự] đều cho tuỳ tiện. Nếu giáo sư ấy có trái khoản ấy th́ phải
giao trả [ông ta cho] nước Đại Nam, hoặc có làm việc ǵ nặng hơn việc ấy,
th́ trường ấy cũng phải thôi không đặt nữa.
Khoản thứ
XI: Cửa biển Thị Nại tỉnh B́nh Định cùng cửa biển Ninh Hải tỉnh Hải Dương
của nước Đại Nam, và [đường thuỷ] từ cửa biển ấy ngược lên một dải sông
Nhị Hà suốt đến địa phận tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh, và phố Hà Nội, th́
triều đ́nh nước Đại Nam nên mở cho người Tây dương và người các nước Tân
thế giới thông thương buôn bán. Sẽ định thương ước kèm với hoà ước này. Về
điều khoản thông thương mới bàn định cũng chiểu điều ước này tuân theo một
thể. Trong đó, cùng cửa biển Ninh Hải, cùng phố Hà Nội, và theo sông Nhị
Hà suốt đến địa phận tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh, th́ nên đợi khi điều ước
này cùng giao cho nhau [:hỗ giao], nên định ngày nào khai trương làm tiện,
tới khi ấy do hai nước bàn định. Duy cửa biển Thị Nại tỉnh B́nh Định, phải
đợi sau khi cùng giao cho nhau [:hỗ giao hoà ước] một năm th́ đem khai
thương. C̣n như các cửa biển, các sông, đợi sau này buôn bán, nếu có phồn
thịnh, ích lợi, th́ sẽ [để] cho nước Đại Nam nghĩ định làm việc.
Khoản thứ
XII: Các người Đại Pháp và thuộc địa cùng các nước Tây dương và Tân thế
giới, người nào hễ tuân theo luật lệ nước Đại Nam, phải được ước định khai
thương ở các cửa biển, mua đất làm nhà, tuỳ ư buôn bán và đặt làm máy móc
kĩ nghệ ở nước Đại Nam, nhưng phải nhờ quan nước Đại Nam chỉ định xứ sở,
không được lẫn lộn. Trong đó chỗ đất ở, hoặc đất công hoặc đất tư, chiểu
giá thuận mua, và cả nhà ở, thuế lệ phải nộp là bao nhiêu, th́ chiểu lệ
định đưa nộp cho quan nước Đại Nam. Các người đi buôn cho phép được thông
hành [:đi lại thông suốt] buôn bán từ cửa biển Ninh Hải suốt lên sông Nhị
Hà cho đến tỉnh Vân Nam. Về thuế lệ thuyền và thuế hàng hoá là bao nhiêu,
cũng chiểu lệ đưa nộp cho quan nước Đại Nam. C̣n như từ cửa biển Ninh Hải
theo sông Nhị Hà đến Hà Nội, lại từ Hà Nội suốt đến tỉnh Vân Nam, các chỗ
cạn ở ven bờ sông, người Tây đều không được buôn bán. Người các nước trên
đây đều được tuỳ tiện thuê mượn người nước Nam làm giúp các hạng tài phó,
thông ngôn, thư kí, thợ thuyền, phu chèo thuyền, làm công việc trong nhà.
Khoản thứ
XIII: Nước Đại Pháp được tiện đặt lănh sự hoặc một viên chuyên làm việc ở
các cửa biển đă khai thương ở nước Đại Nam, mỗi sở mang theo quân cốt đủ
để sai phái, nhưng không được quá số một trăm tên, để tiện tự vệ và tuần
pḥng canh giữ, cho khỏi người các nước sinh sự. Đợi khi nào yên ổn, không
ngại ǵ, th́ lănh sự ở lại làm việc, quân lính mang theo rút về hết cả.
Khoản thứ
XIV: Người nước Đại Nam cũng được các khoản đi lại, để buôn bán và mua đất
làm nhà ở tại nước Đại Pháp và các thuộc địa. Duy phải tuân theo luật lệ
nước Đại Pháp. Nếu vua nước Đại Nam muốn đặt lănh sự ở các cửa biển, các
phố ở nước Đại Pháp và các thuộc địa, để tiện coi giữ người nước ḿnh,
[th́] đều được tuỳ tiện.
Khoản thứ
XV: Người đi buôn của nước Đại Pháp và các thuộc địa cùng các nước khác,
muốn đến nước Đại Nam khai thương ở các cửa biển, ở để buôn bán, phải kê
khai tên và quê quán, tŕnh nộp ở quan nước Đại Pháp. Quan nước Đại Pháp
sẽ chuyển [thông] tư cho quan nước Đại Nam biết. Dân nước Đại Nam muốn đến
nước Đại Pháp và các thuộc địa ở để buôn bán, cũng chiểu theo như thế mà
làm. Nếu người đi buôn của nước Đại Pháp và các nước khác muốn đi lại xứ
khác trong nước Đại Nam có việc ǵ, phải có giấy thông hành [:đi lại thông
suốt] của quan nước Đại Pháp cấp cho, và quan nước Đại Nam thuận phê chữ
“dĩ tŕnh” mới được thông hành. Nhưng cấm không được buôn bán vật hạng dọc
đường. Nếu trái lệnh cấm th́ hàng hoá của người ấy do quan sở tại nước Đại
Nam tịch thu hết. Nhưng hiện nay sĩ dân trong nước Đại Nam c̣n giữ ḷng nọ
kia, chưa yên lặng hết, th́ người nước ngoài chưa tiện thông hành [:đi lại
thông suốt]. Nên đợi ngày nào quan nước Đại Nam cùng quan khâm sứ nước Đại
Pháp bàn xét hiện t́nh, quả đă yên ổn, mới có thể cấp giấy cho đi. Và
người nước Đại Pháp muốn đến xứ nào trong nước Đại Nam t́m học bác vật,
cũng phải [thông] tư cho quan nước Đại Nam biết. V́ người ấy có ư du học,
tất phải giữ ǵn [:bảo vệ] cho và cấp giấy tờ đầy đủ giúp cho người ấy
được tiện đi lại, thông hành t́m học.
Khoản thứ
XVI: Người nước Đại Pháp kiện nhau hoặc kiện với người nước khác, đều do
quan lănh sự nước Đại Pháp xét xử. Người nước Đại Pháp với người nước khác
kiện nhau với người nước Đại Nam, hoặc xin bày tỏ việc ǵ, phải trước hết
do quan lănh sự nước Đại Pháp hết sức giữ công bằng phân xử, cốt cho ổn
thoả. Nếu có khoản ǵ trở ngại, quan nước Đại Pháp [ở] thế khó xử đoán một
ḿnh được, tức phải [thông] tư xin quan nước Đại Nam hội đồng làm giúp.
Quan hai nước xét xử đă được công bằng, th́ đôi bên đều phải tuân theo.
Người nước Đại Nam kiện nhau với người nước Đại Pháp hoặc người nước khác,
phải trước hết do quan Đại Nam hết sức giữ công bằng phân xử, cốt được ổn
thoả. Nếu có khoản ǵ trở ngại, quan nước Đại Nam [ở] thế khó xử đoán một
ḿnh được, tức phải [thông] tư xin quan nước Đại Pháp hội đồng làm giúp.
Quan hai nước xét xử đă được công bằng, th́ đôi bên đều phải tuân theo. C̣n người nước Đại Pháp kiện
nhau hoặc kiện với người nước khác, đều chuyên do quan nước Đại Pháp xét
xử [Lưu ư: trong điều khoản XVI này, câu cuối lặp lại câu thứ nhất].
Khoản thứ
XVII: Người nước Đại Pháp và người nước khác đến địa hạt nước Đại Nam mà
phạm tội th́ phải giao về các toà ở Gia Định xét xử. Nếu người phạm tội ấy
trốn tránh ở địa phận nước Đại Nam, phải [thông] tư cho quan nước Đại Nam
nă bắt, th́ quan nước Đại Nam cũng phải hết sức ḍ bắt giao cho quan nước
Đại Pháp nhận để làm việc. Nếu người nước Đại Nam đến địa phận nước Đại
Pháp mà phạm tội, th́ quan nước Đại Pháp chiểu luật lệ nước ấy xét xử,
nhưng [thông] tư cho quan lănh sự nước Đại Nam biết để theo lệ tra xét.
Khoản thứ
XVIII: Phàm có giặc ở địa phận nước Đại Pháp, như có phạm các tội làm loạn
và trộm cướp, mà trốn [đến] địa hạt nước Đại Nam, [khi đă] được quan nước
Đại Pháp [thông] tư cho quan nước Đại Nam biết, th́ quan nước Đại Nam tức
khắc phải hết sức ḍ bắt, giao cho quan nước Đại Pháp xét xử.
Nước Đại Nam
có giặc phạm các tội làm loạn và trộm cướp, mà trốn đến địa hạt nước Đại
Pháp, [khi đă] được quan nước Đại Nam [thông] tư cho quan nước Đại Pháp
biết, th́ quan nước Đại Pháp cũng phải hết sức ḍ bắt, giao cho quan nước
Đại Nam xét xử.
Khoản thứ
XIX: Người nước Đại Pháp và người nước khác có chết ở địa hạt nước Đại
Nam, người nước Đại Nam có chết ở địa hạt nước Đại Pháp, th́ gia sản người
chết ấy phải giao cho con cháu người ấy [nhưng là người con cháu nào theo
luật định] đáng được hưởng. Nếu hiện tại không có người đáng được hưởng,
th́ gia sản người chết ấy đều phải giao cho quan nước ấy [để] chuyển giao
cho thân thuộc của người chết ấy ở trong nước nhận lấy.
Khoản thứ
XX: Từ ngày quan đại thần hai nước định hoà ước đă kí tên, đóng ấn trở về
sau, đợi đủ một năm, vua nước Đại Pháp đặc cách phái một người được sung
làm quan khâm sứ hạng nh́ đến ở kinh đô nước Đại Nam để tiện theo giữ các
khoản đă định trong hoà ước. Chức trách phải làm của quan khâm sứ ấy là
khiến cho hai nước t́nh giao hiếu thường hoà, nghĩa bạn càng hậu. Vua nước
Đại Nam nếu muốn đặt quan khâm sứ đến ở kinh đô nước Đại Pháp, cũng theo
như thế mà làm việc. Duy phẩm trật, nghi chế của quan khâm sứ ấy, phải đợi
hai nước bàn định, cốt được tương đương. C̣n bổng lệ của quan khâm sứ ấy
và các hạng chi phí, phải do các nước ấy chiểu cấp.
Khoản thứ
XXI: Nay ước mới này được đem thay thế điều ước cũ năm Nhâm tuất (1862)
trước. Nước Đại Pháp lại muốn chuyển nói với nước Y Pha Nho, cùng theo giữ
ước mới này mà bỏ ước cũ đi. Nếu hoặc nước Y Pha Nho không chịu thay đổi
các khoản ước cũ, th́ ước mới ấy nước Đại Pháp và nước Đại Nam đều cùng
theo giữ, mà khoản nào ở ước cũ là thuộc nước Y Pha Nho cùng nước Đại Nam
đă định, đều phải theo như cũ. Duy khoản nước Đại Nam c̣n thiếu tiền bồi
thường cho nước Y Pha Nho, th́ nước Đại Pháp tự nhận bồi thay. Nước Đại
Nam lại chiểu khoản thứ VII trong điều ước mới trả dầân nợ bạc ấy cho nước
Đại Pháp đủ số.
Khoản thứ
XXII: Nay ước mới đă định, th́ hai nước cùng nhau cùng giữ ước ấy, đời đời
chớ trái. Đủ một năm hoặc chưa tới một năm, đợi vua nước hai nước phê
chuẩn, th́ đem đến kinh thành nước Đại Nam cùng giao cho nhau để lưu
chiểu. Khi việc đă xong, lại đem hoà ước ấy đều tuyên bố ở trong nước,
khiến cho đều biết cả. Và ước mới ấy đă làm bốn (04) bản, toàn quyền đại
thần hai nước cùng nhau so sánh, phù hợp, phải kí tên, đóng ấn vào.
Hoà ước trên
này bàn định ổn thoả ở Phủ Nguyên soái, thành Gia Định, niên hiệu biên
ngày ta là ngày hai mươi bảy (27) tháng giêng năm Tự Đức thứ hai mươi bảy
(27), lịch dương lịch là ngày 15 tháng 03 năm 1874”.
13
HỊCH KÊU GỌI
KHỞI NGHĨA CỦA VĂN THÂN (176)
“Đây,
các bạn, lời thề của chúng ta!
Chúng ta
đồng đứng lên chống kẻ thù chung!
Nhà nho
chúng ta, theo truyền thống đấu tranh cao quư, chúng ta tạm gác bút nghiên
để cầm lấy khí giới.
Hôm nay,
hỡi các bạn, hăy chiến đấu cho Công lí!
Hăy
quyết tâm ra băi chiến trường.
Công lí
ở về phía ta. Chúng ta thề tử chiến với kẻ thù, thực hiện các nguyện vọng
cao quư của chúng ta.
Chúng ta
có lẽ phải, cho nên chúng ta là người bất khả chiến bại. Khi chúng ta đứng
lên, Công lí của chúng ta sẽ được tô điểm bởi một trận thắng vẻ vang!
Than ôi!
Mối đạo giả dối của Gia Tô đă vào nước chúng ta.
Kinh cầu
nguyện của chúng chiêm ngưỡng chúa [Nhi Nhu (Jésus)] và các vị thánh.
Bọn đui!
Bọn điếc! Bọn ngu!
Các chủ
thuyết của chúng dạy rằng không có cha cũng không có vua trên đời này.
Bọn chó!
Bọn dê cừu!
Lời biện
bác của chúng đều vô lí và xuyên tạc.
Thái độ
của chúng khiêu khích và phách lối!
Từ năm
1858, những đau khổ đă đến với Đất nước chúng ta và đang tàn phá.
Xưa kia,
tiên nho chúng ta đă khuyên dân chúng chiến đấu và thú dữ bị buộc phải
thôi gào thét. Tổ tiên chúng ta đă quyết tâm phục vụ các phán quyết của
hoàng đế.
Nào ai
có thể chịu dùng giải pháp tạm thời để tránh những phiền toái?
Chúng ta
hăy nhớ các quan nhà Tấn (265 – 420) v́ tranh giành quyền lợi làm cho tổ
quốc suy tàn. Các đại thần nhà Tống (960 – 1276) phá rối trị an và gây ra
những rắc rối chính trị. [Thừa cơ,] bọn rợ từ phương tây [của Trung Hoa]
rốt cuộc xâm chiếm và lấy nửa phần đất nước; nhà Tống buộc phải kí kết một
hiệp ước nhục nhă để chấm dứt tranh chấp. Không có vơ quan nào can đảm
đứng ra dẹp bọn đại thần. Cho nên bọn rợ vào nước và dân lành buộc phải
sống chung với chúng.
Than ôi!
Bọn mọi rợ đang sống trong Đất nước chúng ta.
Xấu hổ
biết bao! Nhục nhă biết bao!
Không
người dân nào trong sáu tỉnh [Nam Ḱ] là thủ phạm. Họ ở xa triều đ́nh và
bị gán cho một tội mà họ không có trách nhiệm. Vậy th́ ai chịu trách nhiệm
gây sự đau khổ cho dân?
Vũ trụ
đầy tiếng kêu cứu và tiếng khóc than đau khổ của người dân. Họ mất sự vui
sống và ch́m đắm trong cảnh nghèo khổ. Các nhân sĩ, ngoài [Bắc Ḱ] kia, có
đạo đức và nguyện vọng cao quư, nhưng không làm ǵ được: xa hoàng đế và ở
trong cảnh chịu tối, chịu rét. Cha già của họ đă mất hi vọng cuối cùng là
con ḿnh ngày sau làm quan.
Điều tệ
hại là chúng ta để kẻ thù của chúng ta làm hại càng lâu, dân chúng chịu
thiệt hại càng nhiều, và chúng đ̣i chúng ta khoản “bồi thường” càng lớn.
Trên mặt
thực tế, chúng đă chiếm đoạt những vùng đất ph́ nhiêu, nơi đó chúng đă xây
cất “chùa chiền” [đúng hơn, ấy là “giáo đường”] của tà đạo.
Trên mặt
đạo đức, chúng đă cố sức đầu độc Đất nước chúng ta để biến thành
một nước Thiên Chúa giáo.
Chúng
xem các ông cha bà mẹ của giống ṇi chúng ta như heo chó.
Chúng
làm nhục đạo đức Khổng giáo chúng ta.
Chủ
thuyết của chúng đặt lợi ích trên hết.
Ngôn từ
của chúng xúc phạm liêm sỉ.
Đó là
tṛ cười tột độ.
Chúng
làm bất cứ ǵ, bất kể thế nào.
Chúng ta
cứ để chúng làm thế hoài sao?
Để chống
nguy cơ, phải nhổ càng sớm càng tốt những mầm xấu có thể sản sinh sau này
không ít kẻ thù. Nếu chúng ta mở cửa cho kẻ thù, tất cả sẽ mất hết. Vậy
nên phải tận diệt chúng để khỏi hối hận về sau.
Chúng
tôi kêu gọi sự tham gia cao quư của các bạn.
Nếu ở
vào thời thái b́nh, các bạn sẽ được hưởng thụ những truyền thống tốt của
chúng ta: một chức quan ở triều đ́nh với tước công hầu; hoặc các bạn thi
cử đỗ đạt và được danh dự có tên trong danh sách trúng tuyển; hoặc được
chính phủ cấp dưỡng để học hành, nhận được lương thực và áo gấm do hoàng
đế ban cho; hoặc các bạn là sĩ tử của các ḱ thi tuyển.
Dù cách
nào, dù các bạn hiện là: phú hộ, cai tổng, lí trưởng, nhân sĩ, thân hào –
tất cả đều hưởng đặc ân của hoàng đế. Cho nên chúng ta có bổn phận v́
hoàng đế mà cầm khí giới trừng phạt kẻ thù.
Khổng tử
nói: “kiến nghĩa bất vi vô dũng giă”.
Nay là
thời ḱ chiến đấu. Chúng ta cần người trung thành, kiên quyết và nghĩa
khí. Hăy đoàn kết và tổ chức thành đội ngũ. Hăy tước đoạt tất cả phương
tiện quân thù dùng để xâm nhập nước ta. Như thế bọn rợ Phương Tây sẽ mất
hết các cơ sở hành quân trên Đất nước.
Hăy
trông gương của Lư Cương đời Tống. Ông đă ĺa Triều đ́nh đ̣i đánh với kẻ
thù. Đáp lời kêu gọi của ông, các học sinh Quốc tử giám đă cầm lấy khí
giới. Hoàng đế bắt tội ông và giam vào ngục. Hành động anh hùng của ông
khiến học sinh và con cái nhà nho nổi dậy.
Biến
động hiện nay liên hệ đến sự mất c̣n của Đất nước. Không có chỗ cho quyền
lợi riêng tư. Chúng ta đồng một ḷng nhận xét như thế. Nếu các bạn, những
người trung nghĩa, các bạn không tham gia vào cuộc chiến đấu oanh liệt v́
Tổ quốc, Trời cao không khi nào dung tha các bạn. Chúng ta không sợ chết.
Dù chúng
ta chưa nhận được sắc dụ cho phép, dù chúng ta có
thể bị hoàng đế kết tội, cũng không đáng kể: Phải hành
động! Chúng ta sẽ xin phép hoàng đế sau này. Dù thế nào, chúng ta cũng sẽ
tiêu diệt được chúng, chúng ta ít ra cũng sẽ trở thành anh hùng dân tộc.
Không
cần phải mắng nhiếc kẻ thù. Điều phải làm là hành động! Hăy theo về với
chúng tôi! Hăy suy nghĩ kĩ đi.
Ngày mùng hai tháng hai,
năm thứ hai mươi bảy triều Tự
Đức
(ngày 19.03.1874)”.
Lời hịch
được tung ra, sau khoảng hai mươi ngày, kể từ giờ phút cuộc khởi nghĩa văn
thân Nghệ – Tĩnh bùng nổ.
Hai vị lănh
đạo là tú tài Trần Tấn và học tṛ của ông, người cũng đă đỗ tú tài: Đặng
Như Mai. Hai thầy tṛ đều là người huyện Thanh Chương, thuộc tỉnh Nghệ An
(177). Trong những năm trước, sau khi Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp kí
kết “hoà” ước Nhâm tuất 1862
với Pháp, họ đă kịch liệt chống đường
lối nghị “hoà”. Lănh đạo một số người, Trần Tấn và Đặng Như Mai đă tấn
công, đốt phá nhiều giáo đường “tả đạo” tại quê hương xứ Nghệ. Để ổn định
t́nh h́nh chính trị, và do sự kiện cáo của các giám mục, linh mục thực dân
Pháp như Gauthier (Ngô Gia Hậu), Croc (Phê Chính Hoà), cả hai thầy tṛ đều
bị quan quân triều đ́nh bắt giam. Xét thấy Trần Tấn và Đặng Như Mai đều
nặng ḷng yêu nước, căm thù giặc Pháp sâu sắc, đặc biệt là họ cực ḱ thù
hận “tả đạo” Thiên Chúa giáo, nên họ được triều đ́nh phóng thích (177).
Ḷng căm hận “tả đạo”, tất nhiên trong số “tả đạo” ấy có cả Nguyễn Trường
Tộ, người đồng hương với họ, hầu như không bao giờ nguôi. Sau khi được thả
về quê, hai thầy tṛ viết thơ văn tiếp tục công kích “tả đạo” Thiên Chúa
giáo, một tôn giáo đă bị thực dân hoá, trở thành công cụ tâm linh để phục
vụ cho việc giành dân, cướp nước của Phương Tây (177).
Trừ những
vùng giáo dân phía tả ngạn sông Hồng, dưới sự quản lí của các cố đạo Tây
Ban Nha, hầu như các giáo xứ Đàng Ngoài thuộc cố đạo Pháp đều trở thành
tay sai của Françis Garnier! Đến nay, sau cuộc gây rối và đánh chiếm Hà
Nội cùng các tỉnh trung châu Bắc Ḱ của Jean Dupuis, Françis Garnier, cuộc
“sát tả” ngoài Bắc đă nổ ra và thổi bùng ngọn lửa căm uất “tả đạo” tại
điểm nóng Nghệ An – Hà Tĩnh. Chính trong thời điểm Hà Nội, Hải Dương, Ninh
B́nh, Nam Định thất thủ, bản chất của giáo dân “tả đạo”, bọn “giậu đổ b́m
leo”, kể cả những kẻ mượn chiêu bài “phù Lê”, có dịp bộc lộ một cách trắng
trợn. Bản chất phản quốc, tay sai của những tên được Françis Garnier phong
chức sắc để làm nô bộc cho y, như tên ngụy tổng đốc Trương chẳng hạn, cũng
là bản chất của một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” đốn mạt.
Không phải
ngẫu nhiên có mối liên quan giữa cuộc “sát tả” Bắc Ḱ với cuộc khởi nghĩa
văn thân Nghệ – Tĩnh. Bọn cố đạo thực dân Bắc Đàng Ngoài tại Hà Nội như
giám mục Puginier, rơ ràng đă câu kết với Jean Dupuis, góp vốn cho y đến
tám ngàn quan để buôn súng theo mục đích chính trị xâm lược (178), và câu
kết với Françis Garnier trong việc tuyển mộ giáo dân làm “lính bản xứ”
(178). Cũng không ai không biết, chính giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu)
thuộc giáo phận Nam Đàng Ngoài (các tỉnh bắc hữu ḱ) cũng chẳng khác ǵ.
Bức thư Jean Dupuis trả lời giám mục Gauthier trong việc câu kết “buôn
súng”, trước đây đă được tổng đốc An – Tĩnh Tôn Thất Triệt bắt được (179).
Triều đ́nh đă cho sao bản dịch bức thư ấy ra để phổ biến cho các quan,
nhất là quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương, hiểu rơ và t́m cách đối phó
(179).
Nếu ở Bắc
Ḱ, có đến một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” lộ mặt, th́ ở Nghệ An,
Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Quảng B́nh cũng không ít hơn, nhưng ở dạng tiềm ẩn,
chuẩn bị! Do đó, phong trào “sát tả” ở các tỉnh hữu ḱ, kể cả tỉnh hữu
trực ḱ Quảng B́nh, không thể không nổ ra!
Đến lúc này,
hiện thực là lửa và máu. Lửa đă cháy trên bao ngôi nhà dân lương, dân
giáo, đều là người Việt. Máu đă đổ từ bao người dân, dù lương hay giáo,
cũng là người Đại Nam. Gọi cho
thật chính xác, đây là cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ – Tĩnh. Trong khi
đó, không có một tên lính Pháp viễn chinh bỏ mạng, không một cố đạo Tây
dương thực dân nào bị thương tích. Bọn Pháp cầm súng hay cầm thập giá xâm
lược đă thành công trong việc xúc xiểm hai phía lương – giáo, chúng đang
khoái trá trong cuộc nội chiến đau ḷng này!
Bi kịch
lương – giáo, nói rơ ra là xung đột giữa một bên là Nho giáo, Phật giáo,
Lăo giáo và chủ yếu là đạo thờ cúng tổ tiên, anh hùng dân tộc lâu đời của
người Việt với một bên kia, là Thiên Chúa giáo câu kết với thực dân Pháp,
Tây Ban Nha. Bi kịch ấy đă thành nội chiến!
Triều đ́nh
Huế cũng đang rơi vào bi kịch!
Trước “hoà”
ước Nhâm tuất 1862, vua Tự Đức và đ́nh thần, biên thần cùng bao sĩ phu
khác trên Đất nước cũng chủ trương “b́nh Tây sát tả”, đâu khác ǵ hai thầy
tṛ tú tài Trần Tấn, tú tài Đặng Như Mai! Có điều, “b́nh Tây” vẫn phải là
nhiệm vụ tiên quyết, và “sát tả” phải đi đôi với “b́nh Tây”.
Đánh giặc ngoài vẫn phải là mục tiêu
hàng đầu; tiêu diệt, khống chế thù trong tuy là mục tiêu song song, nhưng
vẫn thứ yếu.
Sau “hoà”
ước Nhâm tuất 1862, nhất là giai đoạn này, vua Tự Đức đă bước sang đường
lối tiến hành “sách lược thoả
hiệp tạm thời” (180)
với thực dân Pháp
và cả với “tả đạo” Thiên Chúa giáo! Trước t́nh thế Bắc Ḱ như vậy, đành
phải đối phó một cách bất đắc dĩ như thế.
Tuy nhiên, hai thầy tṛ Trần Tấn và
Đặng Như Mai lại tung ra lời hịch với mục tiêu “sát tả”, xem “sát tả” là
mục tiêu, nhiệm vụ tiên quyết (181). Không hề thấy nghĩa quân dưới sự lănh
đạo của hai lănh tụ khởi nghĩa văn thân Nghệ – Tĩnh tấn công vào bọn Pháp
mà họ thương gọi là
“bạch quỷ”, “bọn mắc bệnh bạch
tạng”, bọn mắt
xanh mũi lơ viễn chinh, mà chỉ
nhắm vào dân ngụy theo “tả đạo” và đốt phá giáo đường, chủng viện Thiên
Chúa giáo.
Không thể
nói hai lănh tụ Trần Tấn, Đặng Như Mai không yêu nước, không trung thành
với triều Nguyễn. Nhưng quả thật, họ trung quân ái quốc theo cách suy nghĩ
của riêng họ! Trung quân ái quốc là đúng, nhưng trung quân ái quốc như thế
nào lại là vấn nạn lớn. Vấn đề là ở đó!
Và vấn đề là
triều Nguyễn đang rơi tuột vào bi kịch một cách đau ḷng! Cả vua Tự Đức và
quan lại đều thấm thía bi kịch đó, và đều muốn thoát khỏi, nhưng không
cách nào khác!
Đến cuối
tháng hai nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (1874), Trần
Tấn và Đặng Như Mai đă bị quan quân của tổng đốc An – Tĩnh Tôn Thất Triệt,
tổng thống Hồ Uy (Oai), tham tán Chu Đ́nh Kế đánh tan, phải chạy lên miền
núi (182). Mặc cho gươm súng của lực lượng quân binh chính quy thuộc triều
đ́nh và bao lời hiểu thị, thuyết phục của toản tu người Hà Tĩnh Đặng Văn
Kiều, mặc cho sự thất bại của hai lănh tụ Trần Tấn, Đặng Như Mai, nhân dân
Quảng B́nh, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá vẫn hưởng ứng lời hịch khởi nghĩa
văn thân. Đầu tháng ba nguyệt lịch, Trần Quang Cán phối hợp với Trần Tấn,
Đặng Như Mai tấn công, chiếm giữ được đến tám (08) phủ huyện Nghệ – Tĩnh.
Trong cuộc khởi nghĩa này, có vai tṛ thủ lĩnh nổi bật của Nguyễn Huy Điển
(tú tài Khanh, người Hà Tĩnh) và Trương Quang Thủ (đội Ngọc, người Mường ở
Quảng B́nh) (182).
Thượng thư
Lê Bá Thận lập tức được sung làm khâm sai đại thần, cầm quân tiến ra Nghệ
– Tĩnh. Liền sau đó, Vũ Lă, Nguyễn Văn Thuư, Trần Văn Chuẩn, Đỗ Đệ đều
được sắc dụ tiến ra phối hợp (183).
T́nh h́nh
rất căng thẳng, chưa giải quyết được. Mới tính trong những ngày tháng hai
nguyệt lịch, đă có đến hơn một ngàn (1.000) dân giáo bị giết chết (184)!
V́ vậy, các quan tỉnh Tôn Thất Triệt, Phạm Hy Lượng, Nguyễn Đôn liền bị
cách chức. Kinh lược sứ Bắc Ḱ Nguyễn Chính (Chánh) lại được lănh tổng đốc
An – Tĩnh; sung hiệp thống đại thần kiêm nhiếp bố chính sứ Thái Nguyên Vũ
Trọng B́nh được điều động vào, lănh tuần phủ Nghệ An (185).
Mới ở Nam Ḱ
ra, vào đầu tháng năm, Giáp tuất (1874), phó sứ Nguyễn Văn Tường liền được
thăng thượng thư Bộ H́nh, sung Cơ mật viện đại thần, tước hiệu Ḱ Vĩ bá
(186). Dịp này, Trần Tiễn Thành cũng được thăng Văn Minh điện đại học sĩ
(bậc thứ hai trong tứ trụ) nhờ có công trong việc tiến cử Nguyễn Văn Tường
để thương thuyết lấy lại bốn tỉnh Bắc Ḱ những tưởng mất hẳn vào tay Pháp
(hoặc, bốn tỉnh Bắc Ḱ có lấy lại được cũng không thể lấy lại một cách
khôn khéo như thế, nếu là người khác chứ không phải Nguyễn Văn Tường đảm
trách) (186). Và vào trung tuần tháng ấy, phó sứ Nguyễn Văn Tường liền
được sung làm khâm sai, đến Quảng B́nh làm tham mưu cho quân thứ của Lê Bá
Thận, với tư cách thượng thư Bộ H́nh (187). Đó là cánh quân phía nam.
Bấy giờ,
cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ – Tĩnh đă lan rộng vào Quảng B́nh, lan
rộng ra Thanh Hoá, máu lửa đỏ rực đất trời bốn tỉnh, đường giao thông và
đường trạm hoàn toàn bị nghẽn. Quân binh cánh phía nam t́m cách tiến quân
trên thượng đạo (vốn do Nguyễn Văn Tường đề xướng và phối hợp chỉ đạo xây
dựng), để phối hợp với cánh quân tiến vào từ phía bắc.
Cánh quân
tiến vào từ phía bắc do Tôn Thất Thuyết chỉ huy (188). Tuần phủ Sơn Tây
sung tham tán thuộc tôn thất ấy, những năm vừa qua nổi bật lên với tầm vóc
của một vị tướng trẻ rất tài năng về thao lược. Ông được lệnh đưa hai ngàn
(2.000) quân và hai (02) thớt voi vào Thanh Hoá, phối hợp với quân của hộ
đốc Thanh Hoá Tôn Thất Tĩnh, bố chính sứ Hoàng Hữu Xứng, án sát sứ Nguyễn
Khuyến (nhà thơ tam nguyên Yên Đổ) để đánh dẹp phong trào “sát tả” tại địa
phận tỉnh (188). Đến tháng sáu nguyệt lịch này,
cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ –
Tĩnh đă lan
mạnh ở huyện Nông Cống xứ Thanh.
“[Tôn Thất] Thuyết được tờ [thông] tư của tỉnh Thanh, lại được tỉnh Nghệ báo là
giặc chiếm giữ thành Hà Tĩnh, quan quân ở thứ Quảng B́nh [của Lê Bá Thận,
Nguyễn Văn Tường] hiện chưa tiến đánh, bèn cùng thống đốc Hoàng Tá Viêm
bàn định hiện t́nh ở quân thứ [Sơn Tây] hơi thư [(…)],chính nên đi đến chỗ
cần kíp […] (188)…
Đến khi
đến tỉnh Thanh Hoá, [Tôn Thất Thuyết] lại xin lấy Nguyễn Đ́nh Thi sung
chức tán lí, Trương Văn Đễ quyền sung tán tương […] (188)…
Khi ấy
bọn giặc ở Nghệ An từ xă Hoàng Mai (thuộc huyện Quỳnh Lưu, giáp núi Ngọc
Sơn) tràn sang phủ hạt Tĩnh Gia, đánh và quấy nhiễu. (Các sở đóng [quân]
để ngăn chận như Hà Niệm thượng, Hà Niệm trung, Du Xuyên, Sơn Châu, Đội
Trà, quan quân nguyên đóng ở đấy đều vỡ cả). Quan tỉnh Thanh Hoá đă phái
quan quân đem bảy trăm (700) quân chia làm ba đường tiến đánh. [Tôn Thất]
Thuyết tức th́ đem bọn đề đốc, lănh binh tiến quân, hợp với [quân] tỉnh
Thanh Hoá đánh giáp lại, toàn được thắng trận (chém được đầu giặc, thu
được tang vật của giặc rất nhiều, mà toàn quân chỉ có bốn người bị thương
nhẹ). [Tôn Thất Thuyết] đuổi thẳng đến địa giới Tuần La (giáp Nghệ An),
giặc ấy đều trốn chạy tan. [Tôn Thất Thuyết] rút quân về tỉnh đóng để trấn
áp […] … Sau giặc ấy chuyển về hạt Nghệ An, rồi lại gọi nhau tụ họp ở các
xă Thiện Kỵ, Hoàng Mai. Đường trạm không thông được. [Tôn Thất] Thuyết bèn
mang quân đến địa giới Nghệ An, tiến đánh. Giặc thấy thanh thế quân lừng
lẫy (khi ấy quan quân tỉnh Nghệ An hiện đương tiến đánh đến đấy), [chúng]
đă chạy trốn trước. [Tôn Thất] Thuyết nhân tiện đến thẳng Trường thi tỉnh
Nghệ đóng quân, cùng với tổng thống Nguyễn Chính hội bàn, cùng đánh”
(188).
Chỉ huy cánh
quân từ phía nam tiến ra, khi đến Quảng B́nh, Lê Bá Thận vẫn lần chần chưa
tiến (187). Theo đường bộ, Nguyễn Văn Tường phóng ngựa cùng quan binh hành
quân ra bổ sung. Nhưng quân thứ tiến tới ngang sông Gianh, vẫn chưa tiến
thêm được (188).
Bấy giờ, tại
Nam Ḱ, thống đốc thực dân Pháp Krantz rất sốt ruột về bản thương ước chưa
được kí kết. Y liền cho chiếc tàu thuỷ Antilope chở linh mục thông ngôn
Nguyễn Hữu Cư (Thơ) ra kinh đô Huế, với thư tŕnh gửi vua Tự Đức, mong nhà
vua điều động các sứ thần (Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doăn) vào Gia
Định để tiếp tục bàn định và kí kết thương ước (189).
“… Nhưng Tàu Antilope ra đến Huế, th́
chánh sứ [Nguyễn Văn Tường] vắng mặt v́ [đang bận] tảo thanh phiến loạn ở
sông Gianh [“sông phía bắc Đồng Hới” – chú thích của Cadière, chủ biên
BAVH.]. Thế là [linh mục Nguyễn Hữu Cư] theo tàu Antilope ra sông Gianh
luôn, và nhập với quan quân đi tảo thanh. Nội một ngày, quân cướp tan ră.
Các sứ trở vào kinh đô tấu tŕnh lên hoàng thượng [Tự Đức] kết quả chuyến
đi [tảo thanh ấy]; và xin lên đường vào Sài G̣n [tiếp tục nhiệm vụ bàn
định,] kí kết thương ước với đề đốc Krantz” (189).
“Khi ấy, bọn khâm sai Nguyễn Văn Tường
theo [lệnh] dụ [của vua] đi tàu thuỷ nước Tây, đem ngay thuyền công và
thuyền đánh cá, chia ra bắn vào đồn giặc ở các xứ Mũi Dao, Đèo Con, Thần
Đầu, đốt hết cả, giặc sợ, chạy tan. Thống đốc Lê Bá Thận cùng quân các đạo
kế tiếp tiến đến. Giặc nghe đại binh tiến đến, bỏ thành huyện Kỳ Anh trốn
đi… […] (190).
[…] Lê
Bá Thận lại tâu: “Lần này quan quân đến gần thành đạo [Hà Tĩnh], bọn giặc
liền trốn ngay từ trước…”…
Vua dụ
bọn Lê Bá Thận rằng: “Trẫm nghe quan quân đi đến đâu, dân trong hạt phần
nhiều đem sản vật thổ ngơi khoản tiếp, chẳng những có thẹn vừa đổi, c̣n có
thể đổi được lỗi trước. Tuy đem [chỉ] giỏ cơm bầu nước để rước quân nhà
vua, [mà] đối với đời xưa, có kém ǵ. Hiện nay đường chạy trạm đă thông,
quan quân thứ các ngươi phải nên xem cơ hội đánh bắt, cốt cho kẻ có tội
phải chịu tội với pháp luật, người bị hiếp phải theo th́ chớ trị tội, để
kịp rút quân về được sớm”” (190).
Cùng với tàu
thuỷ Antilope, chánh sứ Nguyễn Văn Tường, phó sứ Nguyễn Tăng Doăn và linh
mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư liền vào Gia Định. Trước khi sứ bộ xuống tàu
thuỷ, đại thần quản lí Nha Thương bạc Nguyễn Hữu Lập tâu lên vua Tự Đức:
“Nay việc Nghệ – Tĩnh đă yên,
mà dân giáo tụ họp chia đặt để báo thù, đốt [nhà], giết [người]; giặc biển
ở Bắc Ḱ quấy nhiễu. Tướng nước Pháp từng muốn đánh giúp, để tiện mở thông
thương. Xin [thông] tư cho sứ thần [Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doăn]
đem việc ấy bàn với tướng Pháp [để] phân xử, ngơ hầu mong được chóng yên
việc”. Vua nghe theo” (191).
Nguyễn Hữu Lập là
người làng Trung Cần, tỉnh Nghệ An, cũng đồng huyện Thanh Chương (192) với
Trần Tấn, Đặng Như Mai.
Cuộc nội
chiến lương – giáo Nam Đàng Ngoài trong thực tế, vẫn chưa nguôi và chưa
yên, ngay cả sau khi lănh tụ Trần Tấn bị mất v́ bệnh tại Cam Môn, Hà Tĩnh,
lănh tụ Đặng Như Mai và thủ lĩnh Trần Quang Cán bị quan quân sở tại bắt
sống, xử tử h́nh, cũng trên Quỳ Châu, vùng núi ấy! Cả ba cái chết đều xảy
ra vào giữa tháng tám Giáp tuất (1874) (193)! Tuy thế, ḷng thù hận cuồng
điên của giáo dân vẫn bị kích động không ngừng, đến nỗi vua Tự Đức đành
đoạn đến mức bất công là đă ra sắc dụ tịch thu tài sản, định mức tội lây
đối với thân thuộc của những lănh tụ, thủ lĩnh phong trào văn thân “sát
tả” Nghệ – Tĩnh (194)! Những tranh chấp, kiện tụng, đ̣i bồi thường, thậm
chí đ̣i đền mạng, do giáo dân bị kích động ấy, vẫn dai dẳng diễn ra măi
đến nhiều năm sau!
Hết
tệp 5 truyện kí thứ 7
Viết đến ḍng chữ cuối của
truyện kí thứ 7
vào lúc 11 giờ kém 05,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(169)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 482 – 485.
(170)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 486.
(171)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 26 – 27.
(172)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam liệt truyện
(ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 323 – 329;
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 35.
(173)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 485.
(174)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 487.
(175)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 12 – 22. Xem thêm: chú thích (264) ở
truyện kí thứ tám của bộ truyện – sử kí –
khảo cưú tư liệu này (“hoà” ước Nhật – Mỹ, 1858).
(176)
Dẫn theo: NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 241 – 244.
(177)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 22 – 23, 213; ĐNTL.CB., tập 32, sđd.,
1975, tr. 205; ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 10.
(178)
AOM. Aix, Amiraux 11990, 05.01.1876, dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP.
&TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 76 – 77: chỉ có một tư liệu về
vấn đề này. Xem thêm: sđd., ở tr. 88, GSTS. Y. Tsuboi viết:
“Về phía Pháp,
Dupuis đă nhận được sự yểm trợ khá kín đáo. Giám mục Puginier đă cho hắn
vay trước tám ngàn (8.000) quan. Phần đô đốc Dupré, vào tháng bảy (07) năm
một tán bảy ba (1873), ông cũng ứng trước cho hắn ba vạn (30.000) đồng bạc
qua đại lí ở Sài G̣n của Hiệp hội Ngân hàng Hương Cảng và Thượng Hải”. Ở
chú
thích cuối trang sách 88 này, Y. Tsuboi lại viện dẫn G. Taboulet và chính
Dupuis để đoan chắc thời điểm Puginier cho Dupuis vay là giữa tháng 05 và
tháng 10.1873, để dùng cho chuyến chuyên chở hàng cấm thứ hai của y. Về
tên giám mục thực dân Puginier này, trong việc câu kết với F. Garnier, GS.
Trần Văn Giàu trích thư ngày 08.07.1873 của lănh sự Pháp tại Quảng Châu để
minh chứng:
“Không phải hai ngàn (2.000) quân và bốn (04) chiến hạm như ông Sê-nê
[Sénez] yêu cầu, mà chỉ cần một chiến hạm, vài pháo thuyền đă nằm sẵn ở
Sài G̣n và một tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến gửi đến cửa sông Cái là đủ
biến Bắc Ḱ thành thuộc địa. Sáu ngàn (6.000) người công giáo mà giám mục
Puy-gi-nhê [Puginier] tự cho có trách nhiệm chiêu mộ, có vài ba người huấn
luyện viên, sẽ đủ để mà giữ Bắc Ḱ…”
(CXL., sđd., 2001, tr. 296). Trần Trọng Kim,
Việt Nam sử lược
(VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 520, viết về sự câu kết giữa “tả
đạo” Bắc Ḱ với “tả đạo” Nghệ – Tĩnh, theo giọng điệu viết sử dưới thời
bạo quyền thực dân của ông ta:
“Nguyên lúc bấy giờ
dân trong nước ta chia làm hai phái: bên lương, bên giáo; hai bên vẫn
không ưa nhau. Đến khi xảy ra việc đại uư Françis Garnier lấy Hà Nội, bọn
sĩ phu ở mạn Nghệ – Tĩnh thấy giáo dân có nhiều người theo giúp ông ấy,
th́ lấy làm tức giận lắm, bèn rủ nhau nổi lên đánh phá”.
[Về Trần Trọng Kim và cuốn VNSL., chúng tôi đă có nhiều dịp phê phán; ở
đây, chúng tôi chỉ ghi nhận lượng thông tin xác thực này].
(179)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 306.
(180)
Lénine:
“Thoả hiệp với kẻ thù mà có lợi cho cách mạng, chúng ta vẫn sẵn sàng thoả
hiệp”;
ư tưởng ấy thể hiện trong việc thoả hiệp với phát-xít Đức ngay sau Cách
mạng Tháng mười trước sự tấn công của các nước đế quốc tư sản (hiệp ước
Brest – Litovsk, ngày 13.5.1918); xin xem: Ban Tuyên huấn Trung ương, Vụ
Huấn học,
Lịch sử thế giới,
Nxb. Sách Giáo khoa Mác – Lê-nin, 1975, tr. 80 – 82, 94.
(181)
VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 520; GS. Trần Văn Giàu,
Hệ ư thức phong
kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử
(HYTPK. & STBCNTNVLS.), Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 368 – 369, 452 – 456.
(182)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 35, 37, 39.
(183)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 61.
(184)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 28.
(185)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 40.
(186)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 58.
(187)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 62.
(188)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 68 – 70.
(189)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 487.
(190)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 77 – 78.
(191)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 78.
(192)
Quốc sử quán triều Nguyễn và Cao Xuân Dục,
Quốc triều hương
khoa lục
(QTHKL.), bản dịch: Nguyễn Thuư Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự
Thanh, Nxb. Tp. HCM., 1993, tr. 300.
(193)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 107.
(194)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 104 – 105.
Soạn xong phần chú
thích
lúc 09 giờ 25 phút,
ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ,
HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 5
TRUYỆN KÍ THỨ 7
Xin xem tiếp TỆP 6 truyện kí thứ 7