Truyện kí thứ
11
được chia ra làm 4 tệp
Tệp
3
– Tập IV
(phân
đoạn 3, truyện kí thứ 11)
TRẦN XUÂN AN
THẾ TRẬN
“TOẠ SƠN QUAN
SONG HỔ ĐẤU”
Truyện kí thứ mười một
(phân đoạn 3)
12
“HOÀ” ƯỚC GIÁP THÂN (1884) (94)
“Chính phủ nước Pháp cộng hoà và triều đ́nh vương quốc Đại Nam
(*),trên tinh thần mong muốn chấm dứt vĩnh viễn sự tái diễn các vụ việc
đă xảy ra trong thời gian gần đây, và thắt chặt các quan hệ hữu nghị,
láng giềng tốt, đă quyết định kí một hiệp ước nhằm đạt mục đích đó và đă
cử các đại diện toàn quyền cho mỗi bên như sau:
[Đại diện] tổng thống nước Pháp cộng hoà: ông Jules Patenôtre…
[Đại diện] đức vua vương quốc Đại Nam: các ông Phạm Thận Duật,
Tôn Thất Phan (chánh phó toàn quyền đại thần); ông Nguyễn Văn Tường (dự
thương)…
Các vị trên, sau khi đă trao đổi giấy uỷ toàn quyền của đôi bên và
nhận thấy là đúng thể thức, đă cùng nhau thoả thuận các điều khoản như
sau:” (95)
+++ “Điều khoản I: Nước Đại Nam tự nhận nước Pháp giúp đỡ, nghĩa
là nước Đại nam có giao thông với nước nào, th́ nước Đại Pháp giúp đỡ
công việc, và nhân dân nước Đại Nam có ở nước ngoài th́ Đại Pháp cũng
giúp đỡ.
+++ Điều khoản II: Quân Đại Pháp đóng lâu ở đồn cửa biển Thuận An.
Từ cửa biển ấy lên tới kinh thành, các đồn luỹ ở ven sông và công việc
pḥng bị, nước Đại Nam cần phải triệt bỏ.
+++ Điều khoản III: Địa giới nước Đại Nam, từ giáp tỉnh Biên Hoà,
[thuộc] Nam Ḱ, về phía bắc, cho đến giáp tỉnh Ninh B́nh, [thuộc] Bắc Ḱ,
các quan viên ở tỉnh đều làm chức tự trị dân như cũ. Trừ ra các nha
thương chính và cục tạo tác, nên có quan Pháp trông coi. C̣n việc thường
mà có ứng dụng quan bác vật, hăy dùng người Pháp để trông coi.
+++ Điều khoản IV: Nước Đại Nam tự giáp tỉnh Biên Hoà đến giáp
tỉnh Ninh B́nh, những tỉnh ở khoảng giữa ấy, trừ ra cửa biển Thi Nại đă
mở buôn rồi, nay Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam, Xuân Đài thuộc tỉnh Phú
An [:Yên], hai cửa biển đó nên mở thêm bến buôn ra. C̣n dư các cửa biển
khác, sau này xét có ích lợi th́ họp bàn mở thêm việc buôn. Nước Pháp
cũng có đặt quan ở những chỗ bến buôn mở thêm ấy. Nhưng những quan ấy
phải theo lệnh của quan khâm sứ đại thần ở kinh.
+++ Điều khoản V: Quan khâm sứ đại thần [Pháp] đóng ở kinh chuyên
về giữ công việc ngoại giao nước Đại Nam với nước ngoài, không có dự kịp
tới công việc các tỉnh ở trong giới hạn [đă ghi tại] khoản thứ III. Khâm
sứ đại thần, lại được thẳng vào tâu với đại hoàng đế nước Đại Nam. Quan
khâm sứ đại thần ấy ở trong kinh thành, có quân Pháp theo hầu.
+++ Điều khoản VI: Các tỉnh nước Đại Nam từ giáp Ninh B́nh trở về
phía bắc, tỉnh nào có sự cần cấp, th́ nước Đại Pháp [thấy] nên đặt công
sứ hay bọn phó công sứ, đều theo lệnh quan khâm sứ ở kinh. Tỉnh nào có
công sứ hay phó công sứ, th́ trong các tỉnh ấy, gần chỗ quan tỉnh ở th́
cùng công sứ, phó sứ đó, có lính Pháp hay lính Nam theo hầu.
+++ Điều khoản VII: Quan công sứ nước pháp đặt ở tỉnh nào ở Bắc Ḱ,
quan công sứ ấy không được dự làm những việc dân chính trong tỉnh ấy.
Các quan tỉnh ấy, không kể là hạng quan nào, cứ cai trị hạt dân như cũ.
Như quan Pháp có kiểm được quan Nam nào nên làm hoán cách, có xin hoán
cách ấy, tức làm hoán cách.
+++ Điều khoản VIII: Nước Đại Pháp không kể viên dịch nào, như có
việc ǵ nên tư báo với các quan nước Đại Nam th́ do quan công sứ nước
Pháp tự báo mà thôi.
+++ Điều khoản IX: Nước Đại Pháp sẽ dựng một con đường điện báo từ
Sài G̣n đến Hà Nội, chuyên do người Pháp trông làm. Khoản này nếu được
tiền lời bao nhiêu, nước Pháp trích lấy một phần giao cho nước Nam tiêu
dùng, v́ nước Nam có nhường phần đất để đủ chỗ làm. Do đó những nhân
viên điện báo mới có thể dựng được những buồng bếp, nhà cửa để ở.
+++ Điều khoản X: Các người ngoại quốc ngụ ở nước Đại Nam từ giáp
Biên Hoà đến giáp Ninh B́nh và địa hạt Bắc Ḱ, th́ đều chịu dưới quyền
nước Đại Pháp xử đoán. Như người nước Nam cùng người nước ngoài, hay như
người nước ngoài cùng nước Nam có việc ǵ tranh kiện nhau, th́ đều do
quan nước Pháp phân xử.
+++ Điều khoản XI: Nước Đại Nam từ giáp tỉnh Biên Hoà đến giáp
tỉnh Ninh B́nh, th́ quan bố chánh chiểu thu thuế lệ về cho triều đ́nh
nước Đại Nam như cũ, không có quan Pháp kiểm cố tới đó. Đến như địa hạt
Bắc Ḱ th́ các quan công sứ hợp với quan bố chính, tóm các thuế lệ mỗi
tỉnh một xứ, khiến cho tiện việc kiểm cố, biết được số sở thu và sở chi.
Khi thu xong, quan nước Đại Pháp và quan nước Đại Nam hội đồng chuẩn
định sự chi phí các nơi và các số công nhu tiền kẽm bao nhiêu, số chi
c̣n bao nhiêu, quy nộp vào kho ở kinh của triều đ́nh Đại Nam.
+++ Điều khoản XII: Các sở thương chính ở trong nước Đại Nam, [Pháp]
lại muốn bàn định giao hết cho quan Đại Pháp chuyên biện. Những sở
thương chính có nên xây dựng th́ chỉ ở những nơi ven biển và biên giới
mà thôi. Lấy [:căn cứ vào] các sở thương chính trước, quan vơ nước Pháp
đă làm như thế nào, nước Đại Nam ngày nay cũng nên thôi bàn. Đến như
điều lệ các sở thương chính và các lệ thuế ngoại ngạch, kịp các khoản lệ
cấm các thuyền không được vào ra cửa biển trong khi có dịch khí, th́
trong nước Đại Nam và các sở Bắc Ḱ cũng y như điều lệ sáu tỉnh Nam Ḱ.
+++ Điều khoản XIII: Trong địa hạt Bắc Ḱ, nước Đại Nam và những
người Pháp mở buôn ở các sở và những người được nước Pháp bảo trợ, đều
được đi lại buôn bán, mua đất dựng cửa hàng, thung dung tự tiện. Lại
khoản các giám mục, linh mục giảng giáo cho giáo dân đă ước định ở ngày
15 tháng 03 năm 1874, tức ngày 27 tháng 01 năm Tự Đức thứ 27 (khoản thứ
chín [IX]), nay hoàng đế nước Đại Nam cũng phê chuẩn y như khoản ấy.
+++ Điều khoản XIV: Như người nước ngoài muốn đi trong nước Đại
Nam có công việc ǵ, th́ phải xin giấy thông hành ở quan khâm sứ tại
kinh, hay quan tổng thống Gia Định, đến tŕnh quan nước Đại Nam [để được]
phê chữ, đóng ấn vào hai chữ “dĩ tŕnh” mới có thể đi được.
+++ Điều khoản XV: Nước Đại Pháp tự hứa rằng, từ sau đi, xin giúp
đại hoàng đế nước Đại Nam hoàn toàn tốt đẹp và trong nước khỏi phải giặc
cướp trong ngoài. Do đó mà nước Đại Pháp chiểu cho là ở trong nước Đại
Nam, hoặc Bắc Ḱ hay nơi nào cần kíp, có nên đóng quân th́ được dùng
quân đóng để bảo trợ.
+++ Điều khoản XVI: Đại hoàng đế nước Đại Nam cai trị trong nước,
trừ ra những điều đă định ở trong hoà ước, [th́] ngoài [ra] c̣n đều theo
như cũ.
+++ Điều khoản XVII: Nước Đại Nam c̣n thiếu số bạc của nước pháp (tức
món nợ Y Pha Nho) sau sẽ bàn định tính giả [:trả]. Nước Đại Nam đừng đi
vay mượn nước ngoài. Nếu nước Pháp không đồng ư, th́ nước Đại Nam không
được vay nước ngoài.
+++ Điều khoản XVIII: Sau khi quan của hai nước hội đồng chia định
giới hạn các nơi mở buôn, và việc nhường đất cho người mở bến buôn,
trong đó có bàn dựng [các] cây đèn pha ở nước Đại Nam, từ ven biển Biên
Hoà đến giáp Ninh B́nh cùng địa hạt Bắc Ḱ, và định thuế khai các mỏ, lệ
dùng tiền bạc, [th́ lại] hội đồng định chia các sở thương chính và những
lợi tạp thuế và thuế điện báo, và chia các khoản thuế chưa cho liệt vào
khoản thứ mười một [XI], trích giao cho nước Đại Nam dùng. Điều ước ấy
đệ về, đưa tới triều đ́nh Đại Pháp và tiến lên đại hoàng đế nước Đại Nam
phê chuẩn, tuỳ tức trao đổi.
+++Điều khoản XIX: Tờ ước này thay thế cho các tờ ước kí ngày 23
tháng 11, ngày 30 tháng 08 và ngày 15 tháng 03 năm 1874. Khi nào hai bên
như có thay đổi ư kiến ǵ ở trong tờ ước đó th́ cứ lấy bản chữ Pháp làm
chính. Toàn quyền đại thần hai bên đă kí tên đóng ấn ở tờ ước ấy làm
bằng. Tờ ước ấy đă lập ở kinh vào ngày 13 tháng 05 năm Kiến Phúc thứ
nhất, tức là ngày 06.06.1884.
Dự thương: Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường,
Toàn quyền đại thần: Phạm Thận Duật,
Phó toàn quyền đại thần: Tôn Thất Phiên [:Phan],
đều đă kí tên đóng ấn” (94)
.
Khi đă bàn định trên cơ sở dạng bản “hoà” ước mười chín khoản,
Pháp đă soạn sẵn với ư đồ áp đặt, xem ra hai bên cũng tạm đồng thuận,
tên khâm sứ đương chức Parreau nói:
- “Cái ấn cũ nhà Thanh phong cho nước Đại Nam, chỉ có khi nào
gửi quốc thư sang nước Thanh th́ mới dùng, c̣n dư không cần [thiết] chi
cả. Nay nước Đại Nam đă nhận nước Pháp bảo trợ, không làm phiên phục
nước Thanh nữa, th́ cái ấn nhà Thanh ấy nên lấy ngày trao đổi lại để trả
nước ấy” (96)
.
Toàn quyền đại thần Phạm Thận Duật hơi bất ngờ. Ông nh́n sang phó
toàn quyền đại thần Tôn Thất Phan, thấy ông ấy chỉ lắc đầu, không nói ǵ
cả.
- Vấn đề phiên phục nước Thanh như thế nào, chúng tôi thấy không
bàn căi ở đây nữa. Các ông đă quá rơ là trước đây, đối với nhà Thanh,
nước Đại Nam vẫn hoàn toàn tự chủ, hoàn toàn độc lập, nhưng phải giữ “lễ
nghi ngoại giao” với nước lớn là nước Thanh. Chỉ như thế thôi. Quan phụ
chính Nguyễn Văn Tường đă nói với các ông rất nhiều lần và rất rơ ràng,
minh bạch từ mười một năm trước. – Quan họ Phạm lại tiếp lời –. Nói cụ
thể hơn, cái ấn ấy chỉ là sự công chứng tính chính thống của triều
Nguyễn về mặt ngoại giao ở châu lục và trong quan hệ với các nước trên
khắp thế giới mà thôi.
- Nhưng từ nay nước Pháp đă thay chỗ của nhà Thanh. Xin xem lại
“hoà” ước mới ráo mực! – Patenôtre nói –. Chúng tôi không nói “bảo trợ”
(hay phiên phục) với mức độ nào! “Bảo trợ” (hay phiên phục) với mức
độ nào th́ cũng là “bảo trợ” (hay phiên phục)!
- “Bảo trợ” khác với “phiên phục”! Hai chữ “bảo trợ” hoặc hai chữ
“bảo hộ” tạm thời bị quy định ư nghĩa của nó, vốn rất khác với nguyên
nghĩa. Chúng tôi không bàn nữa. C̣n hai chữ “phiên phục” có nghĩa là
nước láng giềng bên ngoài biên giới thuận theo quan hệ tốt đẹp, không
chống lại hoặc mưu toan đánh chiếm. Nước Đại Nam là láng giềng lănh thổ
nhỏ hơn, ít dân hơn Trung Hoa, không chống Trung Hoa, không đánh chiếm
Trung Hoa, và nước Trung Hoa tự xưng là “thiên triều” lại có nghĩa vụ
bảo vệ nước phiên phục nếu nước phiên phục ấy bị nước nào đó đánh chiếm,
làm sức ép. Chỉ thế thôi. – Quan phó toàn quyền Tôn Thất Phan nói tiếp,
không muốn để các tên Pháp tiếp tục kéo dài vấn đề ấy –. Tôi thấy cuộc
nghị bàn sáng nay nên ngừng lại. Chúng tôi sẽ tham khảo ư kiến quan phụ
chính Nguyễn Văn Tường và triều thần, Tôn nhân phủ đă, rồi sẽ bàn định
tiếp.
Cuộc họp ngừng lại. Phái đoàn ta ra về, trên chiếc thuyền trang
trí rất đẹp chèo ngang sông Hương.
Khi gặp quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, hai quan họ Phạm và
họ Tôn Thất tŕnh bày lại yêu sách ngang ngược của phái đoàn Pháp.
- Chúng nó lâu nay vẫn muốn nước ta đoạn tuyệt hẳn với nước Trung
Hoa về ngoại giao. Việc đ̣i lấy chiếc ấn “An Nam quốc vương” ấy c̣n là
một cách để bọn Pháp khoe với các nước về bằng chứng xác lập quyền “bảo
hộ” độc quyền của chúng trên nước ta. – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường
nói từ tốn nhưng rắn giọng –. Chúng ta dứt khoát không chịu trao ấn “An
Nam quốc vương” để chúng làm bằng chứng như thế. Vả lại, khi chúng “bảo
hộ” độc quyền th́ nước Thanh không có cớ ǵ giúp ta được nữa! Thêm vào
đó, chúng một khi đă “bảo hộ” độc quyền, th́ biết đâu, chúng lại làm sức
ép với triều Nguyễn bằng cách thức cũ, là chúng sẽ doạ phong vương cho
hậu duệ nhà Lê hoặc bất ḱ họ nào! Nước ta nhỏ, yếu, bị bại trận liên
tiếp, nên chịu lép quá nhiều, thật đau đớn!… Nhưng… Nói tóm lại, với bốn
lẽ trên, không đời nào chúng ta chịu trao ấn “An Nam quốc vương”cho bọn
Pháp, dẫu có ra sao th́ ra… – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường nói hơi
chậm lại –. Chúng ta c̣n có trách nhiệm với di chiếu, di chúc của tiên
đế. Đức vua Kiến Phúc c̣n trẻ… Hai vị nên hỏi xin thêm ư kiến của các vị
ở Thế miếu, ở Điện Hoà khiêm tại Khiêm lăng và ư kiến quan đệ nhị phụ
chính Tôn Thất Thuyết… C̣n với tư cách quan đệ nhất phụ chính, tôi không
đồng ư, dứt khoát không đồng ư trao ấn “An Nam quốc vương”
cho
bọn Pháp.
Lần thứ hai, hai quan chánh phó toàn quyền đại thần gặp quan phụ
chính Nguyễn Văn Tường, quan họ Phạm nói:
- Bọn Pháp đe doạ sẽ dùng biện pháp quân sự! Parreau nói,
“không th́ viên ấy [Patenôtre…] giao cho quan vơ chiểu biện [tức là sẽ
dùng vũ lực tấn công], và châm chước các lẽ ở trong tờ ước cũng đ́nh [hoăn],
[xin vua] chuẩn cho kính cáo”
(96)
!
- Ư của các vị tại Thế miếu (đại diện hoàng tộc) và tại Điện Hoà
khiêm (hoàng thái hậu Vũ thị) thế nào?
- Các vị xin tuỳ các quan phụ chính và triều thần!
- Ư của quan đệ nhị phụ chính Tôn Thất Thuyết có thay đổi ǵ không?
- Quan Tôn Thất Thuyết vẫn bảo ông ấy là quan vơ, “vơ tướng
chỉ biết có đánh chớ không biết “hoà”” (97)
!
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường ngẫm nghĩ. Một lúc, ông nói với
chánh phó toàn quyền đại thần Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan:
- Tôi đă tâu với đức vua sau khi bàn với quan Tôn Thất Thuyết,
quan Hồng Hưu. Tôi vẫn dứt khoát không đời nào trao ấn ấy cho bọn Pháp.
Nguy cơ chúng ủng hộ bọn “phù Lê” rất rơ! Tôi quyết định, “bảo [chúng]
không thôi, th́ phá đi, để [ta] lại đúc cái khác mà thôi” (96)
. Lấy ống bễ thợ kim hoàn, thợ rèn, thổi cho tan thành nước, cho
đông lại một thỏi bạc, ngay tại chỗ hoà nghị! Kiên quyết không trao cho
bọn Pháp cái ấn ấy. Tôi nói lại, tôi quyết định, “bảo [chúng] không
thôi, th́ phá đi, để [ta] lại đúc cái khác mà thôi”
.
Nhà vua trẻ Kiến Phúc, quan đệ nhị phụ chính Tôn Thất Thuyết, phụ
chính thân đại thần Hồng Hưu và các vị hoàng thân ở Thế miếu, hoàng thái
hậu ở Điện Hoà khiêm đều đồng ư như thế (96). Tất nhiên chiếc ấn được áp
vào nhiều bản giấy để lưu mẫu. Triều đ́nh cũng đồng ư trao cho Pháp một
bản mẫu để đem về nước (96)!
Sau hai, ba lần bàn thảo, cuối cùng Pháp cũng đành phải thuận theo
ư kiến của quan phụ chính Nguyễn Văn Tường (96)! Chiếc ấn “An Nam quốc
vương” đă bị ống bễ lửa thổi tan thành nước, rồi đông lại thành một thỏi
bạc khá lớn, ngay tại phía trước, gần chiếc bàn “hoà” nghị ở Sứ quán
Pháp (96)! Hôm cuối cùng ấy, có cả quan đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn
Tường. Sau đó là lễ kí tên vào bản “hoà” ước Giáp thân (1884). Ông cảm
thấy thật đau đớn khi phải cầm bút kí tên, áp ấn triện của ḿnh vào bản
“hoà” ước quá nhiều thua thiệt và tủi hận ấy.
Hôm ấy sắp vào ngày chính giữa mùa hạ, nắng ở Huế như muốn nổi lửa
và tiếng ve nghe vui tai bỗng trở nên đau buồn hơn bao giờ hết.
Dẫu sao, đối với phía Đại Nam, trong thời điểm bấy giờ, “hoà” ước Giáp
thân (1884) cũng là một thắng lợi, nếu so với “hoà” ước Quư mùi (1883)!
Tất nhiên, một khi Đất nước bị giặc xâm lược, chúng lại mạnh hơn, buộc
Đất nước bị chiến bại vào thế phải kí “hoà” ước, th́ “hoà” ước nào cũng
phải chịu ít hoặc nhiều thua thiệt, cay đắng, nhục nhă!
Khi quan phụ chính Nguyễn Văn Tường và phái đoàn ta ra về,
Patenôtre, Rheinart, Parreau mới thật sự hiểu ra, cơ chừng bản “hoà” ước
mới kí kết ấy không có giá trị ǵ hết, mà chỉ là một sự phủ nhận “hoà”
ước Quư mùi (1883)! Cả ba tên thực dân Pháp điên tiết muốn chửi đổng lên!
Hôm sau,
theo thông lệ, Nha Thương bạc nhận được tặng phẩm ngoại giao của phái
đoàn Pháp. Tất nhiên, Nha Thương bạc cũng chuyển tặng những phẩm vật
ngoại giao của triều đ́nh nước ta đến phái đoàn Pháp và tổng thống toàn
quốc Pháp theo thông lệ ấy. Khi mở những tặng phẩm của Pháp, mọi người
đều kinh ngạc và hiểu ra bọn Pháp căm hận quan phụ chính Nguyễn Văn
Tường như thế nào! Ngoài những tặng phẩm cung tiến lên vua Kiến Phúc,
các quan thấy:
“… Hồng Hưu: một bộ chén nậm bằng pha lê, ba tấm lụa, một
chiếc áo mưa, một chiếc mục kỉnh bằng vàng, tám chai rượu Ma La Gà (?),
tám chai rượu Mác Ten (Martel); Nguyễn Văn Tường: một thùng đạn máy
(98); Tôn Thất Thuyết: một bộ nậm chén uống rượu bằng pha lê, gương
soi, áo mưa, mâm đựng rượu (đều như trước [:trên]); Phạm Thận Duật: mục
kỉnh bạc hai chiếc, vũ đoạn một tấm, áo mưa hai chiếc, rượu Ma Chi (?)
sáu chai, rượu Ma La Gà sáu chai; Tôn Thất Phan và Chu Đ́nh Kế: mục kỉnh
bằng bạc một chiếc, vũ đoạn một tấm, áo mưa hai chiếc, rượu Ma Chi một
chai, rượu Ma La Gà hai chai, gương…; [Tôn Thất] Lương Thành: áo vũ đoạn
(như trước [:trên]), rượu Ma Chi hai chai, rượu Ma La Gà hai chai; Lê
Thận (hiệp lí thuỷ sư): gương, vũ đoạn, áo mưa (như trước [:trên]), rượu
Ma La Gà sáu chai…” (98)
.
Ngoài ra, c̣n bốn mươi hai và hai mươi tư viên quan lính khác được
nhận tặng phẩm ngoại giao!
Có người vẫn bảo, bọn Pháp biết tính cách quan phụ chính Nguyễn
Văn Tường là không thích dùng rượu cùng những đồ vật xa xỉ (98)!
Cũng từ ngày đó, Rheinart ở lại Huế, thay Parreau, làm khâm sứ
thêm một lần nữa. Từ độ ấy, không như trước, người ta thấy Rheinart
không giấu giếm ḷng thù hận đối với quan đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn
Tường! Trước đây, dẫu sao y c̣n nuốt hận vào ḷng. Nay y nói thẳng với
những nhân viên trong Sứ quán và một vài quan ở Nha Thương bạc về ḷng
căm hận đó!
Tôn Thất Phan từ nay cũng nhận thêm chức trách quản lí Thương bạc
sự vụ đại thần (99). Phạm Thận Duật được nhận thêm nhiệm vụ kiểm duyệt
bộ sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”
do
tập thể các nhà làm sử ở Quốc sử quán đă biên soạn (99).
13
Những ngày cuối tháng năm Giáp thân (1884), lănh sự Pháp lại đến
cửa biển Thi Nại tỉnh B́nh Định, để lại cùng các quan ta thu thuế thương
chính (100)! Chúng không hề biết mắc cỡ lúc trắng trợn bóc lột, nhất là
sau khi chỉ v́ ḷng dạ tham lam của chúng ngày càng thêm, chỉ bởi những
áp lực đánh đấm tàn bạo và ác độc của chúng ở Bắc Ḱ, dẫn đến sự “sứt mẻ”
trong quan hệ “ngoại giao”, trong những tháng ngày qua! Nhưng, nói thế
cũng là xuất phát từ ư nghĩ cho rằng bọn thực dân Pháp c̣n biết xấu hổ,
và cái được gọi là quan hệ “ngoại giao” của chúng c̣n có chút chân t́nh!
Thật ra, mục đích đầu tiên cũng là cuối cùng của chúng chỉ là xâm lược,
bóc lột, lúc có chiêu bài hay khi vứt bỏ chiêu bài th́ cũng đều trắng
trợn như thế!
Cho đến nay, Pháp mới trao trả cho triều đ́nh quản lí kho đúc tiền
ở Hà Nội (101)!
Tháng năm nhuận Giáp thân (1884) lại tới.
Dẫu t́nh h́nh khó khăn, ḱ thi hội năm nay vẫn được tổ chức
(102). Thượng thư
Phạm Thận Duật nhận chức trách giám
khảo cùng với Nguyễn Thuật, Vũ Nhữ [:Nhự]. Bộ Hộ của ông cũng đă đổi
thành Bộ Hội v́ kiêng huư (trường hợp gần đồng âm: [Ưng] Hỗ # Hộ). Vả
lại, về mặt chiết tự chữ Hán và về ngữ nghĩa, chữ Hội (tụ họp [thị
trường, kinh tế xă hội]) hay hơn, phù hợp với mức độ phát triển của thời
đại hơn chữ Hộ (cái cửa [gia đ́nh, kinh tế tự cung tự cấp]) (102).
Một vài công việc b́nh thường nhưng rất thiết yếu như thế vẫn diễn
ra, trong khi đó, t́nh h́nh chiến tranh Trung – Pháp vẫn không phải đă
chấm dứt. Chính thái độ kiên quyết không chịu đoạn tuyệt với nhà Thanh
của thượng thư Nguyễn Văn Tường, thể hiện trong việc không chịu trao ấn
“An Nam quốc vương” cho Pháp, là một trong những nguyên nhân
chính tác động cho cuộc chiến tranh Trung – Pháp thêm dữ dội. Và lần này,
không chỉ diễn ra trong lănh thổ nước ta! Nếu ḷng dạ nhà Thanh thật ra
là cùng Pháp xâu xé nước ta chứ không phải giúp ta với cái tâm trong
sáng, th́ nói cách khác đi, đó cũng là một cách để thúc đẩy thế trận
“toạ sơn quan song hổ đấu”.
Hai quan
phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đă cùng triều đ́nh biết tin
nhà Thanh đă nghị xử bằng quân luật các quan tướng Thanh bị thất trận
tại Bắc Ḱ nước ta (103). Trong khi đó, cuộc chiến vẫn tiếp tục, mặc dù
tạm tước Fournier – Lư Hồng Chương đă được kí kết tại Thiên Tân ngày
mười tám tháng tư Giáp thân (17.05.1884): sự kiện cầu Quan Âm bùng nổ
(104)!
Mặc dù quân Thanh có lệnh dụ không được đánh trước v́ đang nghị hoà
ở Thiên Tân. Nhưng đấy là lệnh dụ… Trong thực tế chiến trường, quan quân
binh dơng Đại Nam vẫn đem quân đến Lạng Sơn, đệ gửi các tập tâu về triều
đ́nh tại kinh đô Huế, với lời xin “hoặc sung ứng tiếp, hoặc sung
điều khiển, đều lệ thuộc vào quân Thanh” (104)
, nghĩa là được mượn danh nghĩa quân Thanh để giữ đất. Đó là quân
của tuần phủ Lạng Sơn Lă Xuân Oai, tán tương Đông thứ Nguyễn Thiện Thuật,
đề đốc Tạ Hiện, ngự sử Phạm Huy Quang và mười tám viên quan khác vốn
thuộc tỉnh Hải Dương, cộng với số quân Thanh đến mười bảy doanh do thự
đề đốc Quảng Tây Tô Nguyên Chương thống lănh…
Đến canh tư (01 – 03 giờ khuya về sáng), ngày mùng hai tháng năm
nhuận, Giáp thân (24.06.1884), hơn bảy, tám trăm (700 – 800) quân Pháp
dưới sự chỉ huy của trung tá Dugenne, tiến quân ngang tàng qua sông Hoá
(c̣n gọi là sông Qua Hoá, một nhánh của sông Thương), cách cầu Quan Âm
khoảng tám, chín dặm (425 m, mỗi dặm ta) (104). Chúng bắt đầu nổ súng.
Quân ta và quân Thanh đua sức, phối hợp chiến đấu quyết liệt. Trận
chiến diễn ra đến giờ thân (15 – 17 giờ) mới tạm ngớt tiếng súng. Quân
ta và quân Thanh chiến thắng, “được trận, bắt được một tên quan tư,
hai tên quan hai, hai mươi người lính, hơn một trăm (100) lính ma tà, và
bắt được áo, mũ, lừa, ngựa rất nhiều; và [quân Pháp] chết đuối ở sông
Hoá Giang không biết đâu mà kể. Quân Pháp lui giữ Bắc Lệ”
(104)
.
Ngày mùng bảy tháng năm nhuận, Giáp thân (29.06.1884), tri huyện
Hữu Lũng Hoàng Đ́nh Kinh, được nhà Thanh cấp bằng tán tương quân vụ,
“và những viên nhân thuộc vào quân ngạch [:quân chính quy], đốc [thúc]
quân nghĩa dũng [:lực lượng dân quân, hương binh khởi nghĩa, quyết chiến
đấu], đánh lấy lại Bắc Lệ” (104)
. Đó cũng là một trận thắng của quân dân ta! Trong trận thắng này,
bắt được một quan hai, một quan một và chém được sáu, bảy chiếc đầu của
quân giặc Pháp
(104).
Bốn ngày
sau, ngày mười một (03.07.1884), quân nghĩa dũng nước ta được lệnh tri
huyện Hoàng Đ́nh Kinh, tiến quân chặn giặc ở núi Thiên Cần (104). Cuộc
chiến đấu quyết liệt đưa đến kết quả: năm mươi (50) tên giặc bị bắn hoặc
bị chém bằng vũ khí thô sơ, tự tạo. Quân Pháp do đó phải lui về chốt giữ
ở phía dưới nhà trạm Bắc Cần khoảng mười dặm (104). Dân quân, hương binh
vốn rất anh dũng, khởi nghĩa kháng chiến chống Pháp, mặc dù dưới ngọn cờ
nhà Thanh, nhưng vẫn lập được chiến công rất đáng kể.
Tên thống tướng Millot hay tin quân Pháp đại bại ở Bắc Lệ, lập tức
ra lệnh cho thiếu tướng De Négrier đem hai đại đội quân đánh bộ và hai
đội pháo binh cùng một toán công binh tiến theo đường Phủ Lạng Thương,
hành quân đến làng Kép (Bắc Cần). Sau đó, phối hợp với quân của Dugenne
(105).
Quân Pháp vẫn cầm cự trong khi chờ viện binh từ Pháp sang.
Ngay giữa tháng năm nhuận Giáp thân (1884), sau khi nghe tin chiến
thắng của quân nghĩa dũng và quân Thanh tại biên giới phía bắc, nhân dân
Quảng Trị được nh́n thấy một trận mưa đá trong cơn băo lớn (106). Những
thi sĩ ở đất này gọi đó là trận mưa “trời văi ngọc”. Ngọc là những hạt
mưa đông lạnh, trong sáng, chói ngời như kim cương, thạch anh.
Ở thượng du Bắc Ḱ, dẫu vậy, vẫn c̣n có những đám thổ phỉ, thảo
khấu nguyên là giặc Cờ được vỗ yên năm nào, nay chúng lại nổi dậy. “T́nh
thế càng ngày càng lao lướt, quan tỉnh [lẩn tránh] chưa về hết” (107)
phần lớn do bọn lục lâm thảo khấu này…
Bấy giờ, tên quan thượng thư Pháp Parreau đang ở Bắc Ḱ. C̣n
Nguyễn Hữu Độ? Y đă bộc lộ sự dựa dẫm vào bọn Pháp để vượt quyền bổ
nhiệm quan chức… Không những Nguyễn Hữu Độ, c̣n có Nguyễn Trọng Hợp.
Nguyễn Trọng Hợp từ lâu ngă dần và rồi ngă hẳn về phía thân Pháp, được
ḷng tướng giặc Millot!
“Khởi phục cho Nguyễn Trọng Hợp làm hồng lô tự thiếu khanh,
quyền thự lí tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên. Tướng Pháp [Millot] gửi thư
xin sung, nên có mệnh này!” (108)
.
Tên công sứ
Pháp ở Hải Dương lại bàn việc, xin trích sáu trăm tên lính tỉnh giao cho
y chi cấp lương tiền và huấn luyện! Lănh tổng đốc Hà Văn Quan tâu về
kinh.
“Viện thần [Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật]
tâu [lên vua Kiến Phúc], nói: “Quân ta mà chịu quân Pháp trả lương th́
rồi sau đây sai phái, họ chịu để cho ta dùng chăng? Nên bàn nói lại. Nếu
[Pháp] có ư tốt, th́ sai quan đến hội đồng [với quan ta] rèn tập, lương
tháng do ta chiểu cấp là hơn”. [Vua] chuẩn như lời tâu dể để bàn [với
Pháp]”
(109)
.
Rơ ràng, ngoài việc chấn chỉnh lực lượng quân binh, tăng cường vũ
trang, xây dựng Tân Sở và mở thượng đạo xuyên Trường Sơn ra đến Việt Bắc
với hệ thống sơn pḥng, triều đ́nh bị t́nh thế đặt vào t́nh huống là
phải một mặt, ủng hộ lực lượng khởi nghĩa chống Pháp, cho dù dưới ngọn
cờ quân Thanh, một mặt khác, vẫn phải vừa “thoả hiệp” vừa đấu tranh với
thực dân Pháp! Một t́nh huống lịch sử rất khó khăn, phức tạp! Thực dân
Pháp không phải không biết điều đó. Chúng nh́n nhận theo quan điểm địch
– ta rất rơ ràng của chúng:
“Những
toán địch [(nghĩa quân)] tới hoạt động ngay ở các xă dưới họng đại bác
của thành quách chúng ta [Pháp], và các đồn binh phải luôn luôn xuất
trận với sự cộng tác của pháo thuyền” (110)
.
“Chúng ta [Pháp] sẽ không nói đến những cuộc hành quân phụ
thuộc ở các vùng của miền trung châu chống những toán thổ phỉ [(nghĩa
quân)] và dư đảng của Cờ đen, những toán này được sự ủng hộ bí mật của
triều đ́nh Huế, làm cho chúng ta [Pháp] phải luôn luôn lo lắng.
Các cuộc hành quân này rất là mệt nhọc cho quân đội của ta [Pháp]”
(110)
.
Thật ra, tiếc thay, yêu nước, chống Pháp, nhưng chiến đấu dưới
ngọn cờ quân Thanh, vẫn không phải không tổn hại đến quốc thể và tất
nhiên không được quần chúng ủng hộ, hưởng ứng nhiều! Trong thời buổi khó
khăn, phức tạp và có thể nói là vàng thau lẫn lộn ấy, để hưởng ứng, ủng
hộ hay phê phán, tuần dẹp, người dân và triều đ́nh sáng suốt phải căn cứ
vào hành tung (quá tŕnh hoạt động với tính chất, ư nghĩa, mục đích của
quá tŕnh hoạt động đó) để xác định lực lượng, cá nhân nào là thật sự
yêu nước, chống Pháp, đánh Pháp với lực lượng, cá nhân đích thực nào là
thổ phỉ (giặc Cờ vàng, Cờ trắng, một ít Cờ đen không hướng thiện; Hán
gian; giặc trốn nước Thanh vốn là bọn đầu trộm đuôi cướp; “tả đạo”(vô
lại); “phù Lê” vốn được vỗ yên, lâu nay cho làm ăn sinh sống, đă
ngóc đầu dậy; và bọn thừa cơ nước đục thả câu để giết người, cướp bóc,
vơ vét tiền bạc, tài sản của nhân dân và của các công sở thuộc triều
đ́nh…). Ngay tại Hà Nội, ở Mỹ Đức chẳng hạn, một tháng sau, vào tháng
bảy nguyệt lịch, Cao Xuân Dục và Hoàng Cao Khải phối hợp với Pháp để
tiễu trừ các đám “giặc cướp” loại đích thực là cướp (111). Pháp cũng
muốn ổn định trật tự, trị an; triều đ́nh tất nhiên cũng muốn “trừ
dứt mầm ác, cho yên địa phương” (111)
. Đối với bọn giặc cướp đích thực là cướp, thực dân Pháp lúc này
cũng muốn tiêu diệt!
Đầu tháng sáu nguyệt lịch, bản dụ với sách lược vừa “thoả hiệp”
vừa đấu tranh với bọn xâm lược Pháp được ban bố:
“Dụ sai các tỉnh Bắc Ḱ: Tự nay phàm các công sứ [Pháp] đóng ở
tỉnh như có tư báo khoản ǵ quan trọng ấy, th́ do tỉnh ấy giữ theo điều
ước (khoản thứ sáu [VI] nói: “chánh, phó công sứ nước Pháp đều theo lệnh
khâm sứ ở kinh”). [Theo đó, các quan ta ở các tỉnh phải] bàn bạc [với
công sứ Pháp] rồi tư về quan khâm sứ [ở Huế], cùng Viện – Bạc phúc y,
rồi mới tuân làm. Đến như việc do ở tỉnh khác, khoản khác mà tư vắn tắt
ấy [:tư tắt, không theo hệ thống, quy tŕnh như thế], tức th́ bác [bỏ],
khước [từ], không được suất nhận, [kẻo] tự mắc lỗi” (112)
.
Trong khi đó cuộc chiến tranh Trung – Pháp bên ngoài lănh thổ nước
ta đă bùng nổ! Thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu”
đang
khiến Pháp phải đổ máu không ít trên sông biển Trung Hoa! Và dẫu sao,
máu quân Thanh đánh Pháp cũng sáng tươi sông biển Phúc Châu, Đài Loan
nước họ! Phải chăng là thế?
Sau khi trận chiến tại cầu Quan Âm và Bắc Lệ (thuộc Lạng Sơn) diễn
ra, tại Paris, tên tổng thống Pháp Ferry đă điện cho Lư Hồng Chương một
điện văn thách thức:
“Chúng tôi đă kí một hiệp ước nghiêm túc. Mực mới ráo th́ hiệp
ước bị vi phạm. Chính phủ Thiên triều [nhà Thanh Trung Hoa] phải chịu
trách nhiệm [một cách] kinh khủng. Đô đốc Courbet [đang] dẫn hai sư đoàn
chiến hạm lên phía bắc” (113)
.
Courbet, với quân hàm trung tướng hải quân Pháp, thật sự đă chỉ
huy tàu chiến sang biển Trung Hoa, neo lại gần thành Phúc Châu, tỉnh lị
của Phúc Kiến (113). Chính phủ Pháp gồm những tên thực dân ở vị trí chóp
bu, do Ferry làm đầu nậu, cũng đă ra lệnh cho Patenôtre (tên công sứ
Pháp tại Bắc Kinh vừa từ kinh đô Huế nước ta trở lại nhiệm sở), phải
nhận lănh nhiệm vụ yêu sách Trung Hoa phải bồi thường hai trăm rưỡi
triệu (250.000.000 franÇ) tiền binh phí, chiến phí do chiến tranh Pháp –
Hoa tại Bắc Ḱ của Đại Nam (113). Vụ mặc cả bẩn thỉu này do Mỹ Lợi Kiên
(USA.) làm trung gian v́ quyền lợi buôn bán của các đế quốc thực dân da
trắng (113)! Tất nhiên Lư Hồng Chương không chịu cái gọi là tiền “bồi
thường”. Mức đ̣i tiền “bồi thường” một cách ngược ngạo được Pháp hạ
xuống vào ngày đưa tối hậu thư, hai mươi chín tháng sáu Giáp thân
(1884): Tám mươi triệu (80.000.000 franÇ), trả trong mười năm (113)! Tất
nhiên, không ai lại chấp nhận một cách nhục nhă như thế. Vả lại, triều
đ́nh Đại Nam và quan phụ chính Nguyễn Văn Tường cũng không chịu giao ấn
“An Nam quốc vương”
cho
Pháp với câu nói của ông: “bảo [bọn Pháp] không thôi, th́ phá đi, để
[ta] lại đúc cái khác mà thôi” (96)
. Quan hệ Trung Hoa – Đại Nam trong trường hợp này c̣n là sỉ diện
của nhà Thanh “thiên triều”! Do đó, nhà Thanh và Lư Hồng Chương chiến
tranh với Pháp cứ việc nổ ra (113).
Ngày rằm tháng sáu Giáp thân (05.08.1884), hải quân Pháp bắn phá
pháo đài Cơ Long (thuộc Đài Loan) (113). Quân đánh bộ từ hạm đội tràn
vào đảo, bị phản công mạnh mẽ bởi quân của Lưu Minh Truyền. Quân Pháp
phải rút xuống tàu. Tên Ferry tuyên bố thắng trận hoá ra lại thất bại
nhục nhă (113)!
Ngày mùng ba tháng bảy Giáp thân (1884), Courbet được lệnh tấn
công Phúc Châu (113). Các pháo đài, cơ xưởng đóng tàu đúc súng của Trung
Hoa ở Phúc Châu, tàu thuyền Trung Hoa trên sông Mân Giang (Min) đều bị
hạm đội hải quân Pháp bắn phá. Bắn phá xong, Courbet cho hạm đội rút
ngay, khiến quân Thanh trên đất Thanh không kịp tổ chức phản công và
phục kích hai bên bờ sông Mân (Min) (113).
Courbet liền cho hạm đội hải quân thuộc quyền chạy ra vây đảo Đài
Loan. Lần này, sau ba ngày chạm súng, Pháp chiếm được ngoại vi Cơ Long (tại
Đài Loan) vào ngày mười ba tháng tám Giáp thân (01.10.1884), nhưng lại
thua trận ở phía tây đảo (vùng Tam Thuỷ). Cuộc phong toả ngoài khơi Đài
Loan của hải quân Pháp dài đến ba tháng (113)!
Sau đó, quân Pháp vây bủa cả cửa sông Trường Giang thuộc nước
Thanh (113).
Vào lúc ấy, Pháp – Trung Hoa vẫn đang mặc cả với nhau qua môi giới
Mỹ về nhiều điều khoản, trong đó có một khoản là nếu Pháp cứ chiếm giữ
Cơ Long, Tam Thuỷ thuộc Đài Loan, th́ Trung Hoa vẫn chiếm giữ Lạng Sơn,
Lao Kay của Đại Nam ta, hoặc hạ đường biên giới Việt – Hoa xuống tận
phía dưới Lạng Sơn (113), theo một đường gạch từ Diến Điện (Myanmar) đến
biển Đông, và triều đ́nh Đại Nam vẫn tiếp tục triều cống Trung Hoa theo
tôn ti trật tự bất b́nh đẳng về dân tộc lớn, dân tộc bé, nước lớn, nước
bé thời cổ – trung đại
(113)!
Hải quân xâm lược Pháp cứ vây bủa Đài Loan và các cửa bể Trung Hoa
nhà Thanh cho đến tháng sáu Ất dậu (07.1885)
(113), tức vào
khoảng gần hai tháng sau khi thêm một lần nữa
Pháp – Hoa lại kí kết hiệp ước tại Thiên Tân, ngày hai mươi bảy tháng tư
Ất dậu (09.06.1885). Ngày kí hiệp ước ấy cũng là ngày tên trung tướng
thực dân Courbet bị bệnh hoạn làm chấm dứt cuộc đời của y, tại một nơi
gần đảo Đài Loan (114).
Thật ra, sau sự kiện ngoại giao tại Huế, tạm gọi là sự
kiện “chiếc ấn bạc “An Nam quốc vương””
,
và sau sự kiện “cầu Quan Âm, Bắc Lệ”
, chiến tranh Pháp – Hoa không chỉ nổ ra ở Phúc Châu, Đài Loan, kể
cả việc Pháp phong toả sông Trường Giang thuộc Trung Hoa. Cuộc chiến
Pháp – Hoa ấy c̣n tiếp tục diễn ra, từ tháng bảy Giáp thân (1884) đến
thời điểm ít ra là tháng hai Ất dậu (1885), trên lănh thổ nước ta, ở Chu,
Kép thuộc xứ Bắc Giang tỉnh Bắc Ninh và tại Lạng Sơn, Tuyên Quang…
Trên nhiều nguyên nhân, nguyên cớ xa và gần, của Pháp lẫn của nhà
Thanh Trung Hoa, có một sự kiện đă tác động mạnh đến cuộc chiến Pháp –
Hoa suốt gần một năm trời trên đất, trên biển Trung Hoa, và trên lănh
thổ Đại Nam, đó chính là việc quan phụ chính Nguyễn Văn Tường và triều
đ́nh Huế không chịu giao chiếc ấn bạc “An Nam quốc vương” cho phía phái
đoàn Pháp (để chúng chuyển về chính phủ thực dân Pháp), với câu nói của
ông: “bảo [bọn Pháp] không thôi, th́ phá đi, để [ta] lại đúc cái
khác mà thôi” (96)
.
Nhưng đó là chuyện về sau…
Lúc này, đang là tháng sáu Giáp thân (1884)…
14
Tháng sáu Giáp thân, năm Kiến Phúc thứ nhất (1884), theo nguyên
tắc, không cách nào khác, để giữ kỉ cương và quân luật, triều đ́nh phải
nghị xử “các quan thất thủ ở quân thứ các tỉnh Sơn, Bắc, Hưng, Tuyên,
Thái, Đông [Hải Dương] [phải bị] giáng chức, cách chức [hoặc] được miễn
nghị có sai [biệt], [phân] bậc” (115):
“Trước đây, đ́nh thần tâu lên, đă qua phụ chính [Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết] duyệt y, [vua Kiến Phúc] chuẩn như lời phúc đáp
[để] thi hành” (115)
.
Trong đó, năm viên quan lớn Hoàng Tá Viêm, Lương Huy Ư (Lương Tư
Thứ), Ngô Tất Ninh, Nguyễn Đ́nh Nhuận, Trương Quang Đản tuy đă bị kết án
đúng mức, nhưng được gia ân giảm án:
“Duy năm viên ấy, hoặc tuổi cao, làm việc lâu, t́nh [trạng]
cũng đáng thương, hoặc tuổi hơi mạnh khoẻ, có thể mưu đồ ở sau [cho đại
cục]…” (115).
“Đó là những ơn đặc biệt, chưa có thể vin đấy mà làm lệ được”
(115)
.
Hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vẫn phải chấp
hành luật pháp, nhất là quân luật, nhưng trong thực tế, vẫn gia ân giảm
nhẹ mức án để bảo tồn lực lượng, nhất là những viên tướng, viên quan có
năng lực thao lược và có chiến công chống Pháp.
Triều đ́nh c̣n b́nh công, cấp tiền tuất và tâu xin chuẩn cho việc
di táng trọng thể di hài cố thự tuần phủ Hưng Yên Nguyễn Văn Thận. Ông
vốn bị giặc Pháp bắt, bắn chết. Ông đă chết với một cái chết lẫm liệt,
bi tráng, đạt tới mức dũng khí của thánh nhân: “hay hăng hái không
chịu khuất, thung dung tới chết”
(116).
Một vài việc thuộc h́nh sự thường phạm cũng được xét xử: vụ thái
giám Trần Đạt với tội “trước đây [Trần] Đạt ngầm lấy đồ dùng ở trong
nội đ́nh (nồi hộp các thứ), thái hoá các hạng (dầu, lụa, vân vân) đem về
nhà dùng riêng” (117)
; vụ Hữu quân kiêm quản thái giám Hồ Văn Hiển: “(nguyên xử cách li)”
[hẳn là bị liên đới trách nhiệm?] (117)
…
Cả hai vụ đều được quan phụ chính phúc duyệt, gia ân (117). Trần Đạt
phải ra sơn pḥng Quảng Trị để hiệu lực, chịu sai phái; Hồ Văn Hiển được
giảm ở mức cách chức nhưng cho lưu dụng (117).
Tháng sáu nguyệt lịch, một bản dụ nữa được ban hành: “Chuẩn
cho bớt quan lại, tăng lương bổng” (118).
“… Đặt quan, cốt được người giỏi; hậu lương lộc, cốt để khuyến
khích người làm quan… […]… Ôi! Quan lại đặt nhiều, khó bề cầu [mong] trị
yên được; bổng lộc ít ỏi, chửa có thể bắt giữ được thanh liêm. Người xưa
nói thế, thực đă sâu rơ mối tệ…”
(118)
.
Trong bối
cảnh khó khăn đến mức gay go, và rất phức tạp, đầy thách thức ấy, mọi
việc đang được các quan phụ chính, triều thần ra sức giải quyết, bất ngờ
thay, một cái đại tang nữa ập xuống triều đ́nh nước ta: Vua Kiến Phúc
băng hà (119)!
“Vua không khỏe, tháng tư trước, ngọc thể vi hoà, đ́nh thần đă
xin vua tĩnh dưỡng, và chia nhau đi cầu đảo các linh từ. Sau đó đă khỏe,
nhưng chưa được b́nh phục như cũ. Đến ngày mồng bảy tháng này, ngày kỉ
măo, [vua] mới ngự Điện Văn minh, chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa
cho các bầy tôi có sai bậc. Rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến
thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng mười, nhâm ngọ [31.07.1884], bệnh
[trở nên nguy] kịch. Giờ ngọ [11 – 12 giờ] hôm ấy, vua mất ở chính tẩm
Điện Kiền thành.
Hoàng thái phi bèn vời bọn Tôn nhân phủ Miên Định, phụ chính phủ
thân, đại thần Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Hộ bộ
thượng thư Phạm Thận Duật, truyền bảo hoàng đế di chúc rằng:
“Hoàng đế đức mỏng, có em là Ưng Lịch có học, có hạnh. Hoàng đế
như có mất đi, [hăy] truyền bảo tôn nhân, phụ chính nên lấy Ưng Lịch vào
nối ngôi lớn, để phụng tôn miếu. Lại đại lễ tiên hoàng đế chưa xong, và
lấy của dùng chưa sẵn, vậy hợp thành tang lễ, châm chước làm được bốn,
năm phần mà thôi, chớ cầu thể lệ” (119).
Bấy giờ, Miên Định công và phụ chính thân, đại thần [Hồng Hưu,
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] truyền lệnh cho biết. Tôn nhân phủ,
văn vơ đ́nh thần bèn hợp từ tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu. Hoàng
thái hậu [Vũ thị] rước công tử Ưng Lịch (là con thứ năm Kiên Thái vương
Hồng Hợi, biện phụng vương ấy), vào nhà tang xưng là tự quân, phàm việc
tâu xin tuân hành; chọn ngày lành làm lễ tấn tôn (đó là vua Hàm Nghi)…”
(119)
.
Vua Kiến Phúc mất lúc mười lăm tuổi rưỡi. Tang lễ được cử hành
trọng thể theo nghi thức hoàng đế, nhưng vẫn giản dị như di chúc truyền
lại.
Hai tháng sau, vào vài ngày đầu tháng tám nguyệt lịch Giáp thân
(1884), triều đ́nh và Phủ Tôn nhân làm lễ tấn tôn tên thụy và tên hiệu:
Giản tông Nghị hoàng đế (120).
Sắc mệnh viết:
“Kính
nghĩ:
Đại hành hoàng đế [cách gọi vua mới mất] anh minh chất tốt, hiếu hữu
tinh kiêm. Ngày chửa lên ngôi, người đều mong đợi. Kịp khi kính nối
nghiệp lớn, ngửa theo chí xưa, tấc dạ tiếng lo, dựng làm trăm việc. Kính
sợ trời trong khi biến chuyển, bắt phép tổ, đốc chí nối noi… […]… Kinh
diên ngày ngự, nghiên cầu học thuật đế vương. Sử yếu sửa sang, xem xét
việc làm sau trước… […]… Vả lại thời sự đương nhiều gian nan, ngày cùng
với phụ chính thân thần và đại thần [viết rút gọn là: phụ chính thân,
đại thần], đo đắn cơ nghi, tính kĩ công việc, làm cho ngoại t́nh thiếp
phục [:t́nh h́nh bên ngoài ổn định, thuận theo], chuyển nguy làm yên.
Chưa kịp một năm mà thiện chính không sao xiết kể! Đương cho là mặt trời
mới mọc, thị thính duy tân, không ngờ đám mây che khắp mặt hồ [:vua chết],
mọi người gào không kịp nữa! Than ôi, đau thương thay!”…
“Kính nhớ đại hành hoàng đế, ḷng chuộng cao xa, đạo theo khiêm
tốn. Khi chưa tức vị, tiếng nhân hiếu đồn khắp mọi nơi. Lúc đă lên ngôi,
lời ca ngợi hầu vang khắp chốn. Buổi mặt trời mọc, gặp biên [thuỳ, triều]
đ́nh đa gian, lo lắng một niềm, sửa sang trăm việc. Đem ḷng kính để thờ
trời, th́ đặt đàn giao tế lễ… […]… Mở kinh duyên [:diên; kinh diên: nơi
vua học tập], để t́m xem chính trị dở hay. Chép sử yếu, để xét việc xưa
nay suy thịnh…” (120)
.
Theo lệ cổ truyền, triều đ́nh định hạn mặc áo tang cho cả trong
ngoài kinh thành (121).
15
Công tử Ưng Lịch là anh em cùng cha khác mẹ của vua Kiến Phúc
(122). Mẹ là bà Phan Thị Nhàn (122). Ưng Lịch được chào đời vào ngày
bính tí, mười bảy tháng sáu năm Tự Đức thứ hai mươi bốn (1871) (122).
Chỉ bảy hôm nữa, kể từ ngày vua Kiến Phúc mất, mới đến sinh nhật thứ
mười ba của Ưng Lịch. Nhưng tính thêm một tuổi trong ḷng mẹ, Ưng Lịch
sắp tṛn mười bốn.
Ưng Lịch được các triều thần rước vào Điện Cần Chính vào ngày quư
mùi, mười một tháng sáu Giáp thân (1884), và lên ngôi hoàng đế tại Điện
Thái Hoà vào ngày hôm sau (122).
Cũng như định lệ xưa trước, “sắc phiến tấu ở Các, Nha, sáu Bộ
và chương sớ ở bốn phương, trước hết phải do phụ chính Cơ mật viện đại
thần [Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] duyệt biện, rồi sau tấu lên cho
vua nghe” (122)
.
Tiếp đến, “Thương bạc thần ở Cơ mật viện cho rằng lễ tấn quang
đă thành, [nên] đưa thư cho khâm sứ Pháp là Lê Na [Rheinart], chuyển tư
[báo] cho tướng Pháp là Mi Lô [Millot] và gửi về quốc trưởng Pháp” (123)
.
Sự việc bỗng trở nên rắc rối, phức tạp đến mức trầm trọng!
Triều đ́nh và kinh thành Huế cũng như cả nước phải trải qua một
t́nh huống gay gắt đáng ra không có, nếu tên khâm sứ Rheinart không căm
tức, thủ tướng thực dân Pháp Jules Ferry không ra lệnh cho tên thống
tướng Millot, và trực tiếp là tên đại tá Guerrier, y đừng hùng hổ kéo
tàu chiến và quân viễn chinh đến Huế làm sức ép (124)!
Tại sao lại hùng hổ, gay gắt đến thế?
Bản văn thư thông báo của Viện – Bạc về việc vua Kiến Phúc mất,
vua Hàm Nghi đă được triều đ́nh, hoàng tộc làm lễ đăng quang, được trao
đến Sứ quán Pháp tại Huế bởi viên tham biện Ti Hành nhân (thông ngôn)
Nguyễn Hữu Cư, vẫn là linh mục, chứ không phải là “một thầy ḍng đă
bỏ đạo”. “Rheinart phản đối và báo cho ông phụ chính [Nguyễn Văn Tường]
biết là nếu không có sự tấn phong của chính quyền “bảo hộ” th́ hoàng đế
mới đừng mong trị v́” (124)
. Thật là xấc láo! Về Jules Ferry? “… Ferry xét thấy t́nh trạng
khẩn cấp, nhất là sợ Nguyễn Văn Tường đưa ông vua mới cùng với triều
đ́nh vào sâu trong núi non, đă ra lệnh cho tướng Millot gửi gấp một
trung đoàn đến Huế để mà chiếm lĩnh thành phố và tấn phong vua mới”
(124)
.
Chính Millot đă viết văn thư phúc tŕnh cho bộ trưởng Hải quân và
Thuộc địa tại Paris:
“Mệnh lệnh của ngài đă đến Hà Nội ngày 07 [08.1884], đă được
vâng lời ngay: Một đoàn đặc phái quân tám trăm (800) người, kể cả bộ
binh và pháo binh đă được đưa tới Hải Pḥng cùng với tham mưu trưởng
dưới quyền tôi là đại tá Guerrier. Tất cả sẽ xuống thuyền vận tải Tarn
mà tôi đă trưng dụng để hướng về Thuận An. Và tại đây, đại tá sẽ làm
công việc chỉ huy tối cao đoàn quân lính để hỗ trợ tích cực cho ông khâm
sứ Pháp” (124)
.
Thật sự là số lượng tàu binh và quân lính sau khi phối hợp với số
túc trực sẵn tại Thuận An là gần gấp đôi. Không chỉ tàu Tarn, c̣n có
thuyền chiến cận duyên La Javeline (chạy được ven bờ biển). Các tên dẫn
đầu lực lượng Pháp: đại tá Guerrier, thuyền trưởng Mallarme (chỉ huy tàu
hạng trung), khâm sứ Rheinart, hai thiếu tá Chopuis và Martr. Quân lính
Pháp: một ngàn năm trăm (1.500) tên (124).
Chiều ngày 11.08.1884, Guerrier đă có mặt tại Sứ quán Pháp tại Huế,
và đă gặp tên khâm sứ Rheinart. Bọn quan quân thực dân Pháp ở cấp thấp
hơn đến Huế muộn hơn, do phải đi bộ từ cửa Thuận An lên, vào ngày
13.08.1884 (124).
Văn thư phúc tŕnh của Rheinart gửi về Pháp, y viết:
“Huế, 13.08.1884,
Thưa ông thứ trưởng,
[…] Ngày 12 [08.1884], trong khi lính đổ bộ lên Thuận An, th́
chúng tôi cũng gửi cho quan phụ chính [Nguyễn Văn Tường] một tối hậu thư,
mà bản sao được gửi theo [thư này về Pháp].
Cuộc nói chuyện [giữa đại diện Pháp và phái đoàn Đại Nam] rất lịch
sự và ngắn gọn. Chúng tôi rút lui để cắt đứt ngay mọi ư đồ bàn luận, sau
khi đọc tối hậu thư. Tối hậu thư không định rơ ngày giờ, và chúng tôi đă
nói miệng với quan phụ chính [Nguyễn Văn Tường] là nếu không được thoả
măn, th́ chúng tôi sẽ tấn công kinh thành buổi sáng ngày mười bốn
[14.08.1884]. Chúng tôi có ư định thực hiện một sự thúc bách sau cùng, [vào]
chiều ngày mười ba [13.08.1884] để chỉ ngày giờ nhất định.
Chúng tôi đă báo là quân Pháp lên Huế ngày mười ba [13.08.1884],
và mọi sự bố trí sẽ được thực hiện nhằm vào cuộc tấn công như đă được dự
tính.
Có một điểm mà chúng tôi đă sắp xếp tuỳ nghi nhượng bộ, nếu cần
thiết, bởi v́ chúng tôi rất muốn đi đến một thoả hiệp mà không cần dùng
sức mạnh. Và điểm đó là sự hiện diện của chúng tôi, cùng với một đoàn
người Pháp hộ tống vào ngày tấn phong… […]…
Chúng tôi [được thoả thuận để] chiếm lĩnh nhượng địa bên trong
thành nội [:Mang Cá, tức Trấn B́nh đài] vào buổi chiều và hôm sau
[14.08.1884 (?)]. Lễ tấn phong vua mới [Hàm Nghi] tiến hành ngày mười
bảy [17.08.1884]… […]…
Chúng tôi có ư định đi vào cái cửa vốn dành riêng cho vua. Măi cho
đến lúc này triều đ́nh đă nhượng bộ mọi đ̣i hỏi của chúng tôi, mặc dầu
chẳng ưa ư chút nào, và nhất là bởi chúng tôi có đủ sức mạnh (1.500 binh
sĩ)…
Khâm sứ tạm thời: Rheinart (kí tên)” (124)
.
Với giọng
điệu thực dân lớn lối của y, Rheinart viết về việc chúng gửi tối hậu thư
đe doạ tấn công kinh thành Huế và về sự nhượng bộ của triều đ́nh Đại Nam
ta như thế đó! Thật ra, yêu sách của thực dân Pháp, cụ thể là của
Rheinart, c̣n ghê gớm hơn, nhưng không được hai đại thần Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết và đ́nh thần, hoàng thân đồng ư. Đó là yêu sách
đưa phụ chính thân thần Hồng Hưu, một kẻ thân Pháp đồng thời là một kẻ
phạm tội về đạo đức, luân lí chưa kịp xét xử, lên ngôi hoàng đế thay v́
Hàm Nghi (125)! Thực dân Pháp cũng phải hậm hực nhượng bộ sau khi triều
đ́nh đă thoả măn cho chúng một yêu sách về “nhượng thổ trong kinh
thành”
, lâu nay
hai phụ chính chưa chịu cho Pháp thực hiện, mặc dù vốn đă ghi vào điều
khoản thứ năm (V) “hoà” ước Giáp thân (1884), và về việc làm lễ tấn
phong cho vua Hàm Nghi như sứ Tàu ngày trước, kể cả việc đi cửa giữa hay
cửa bên Ngọ môn, theo nghi thức đă cố định, nay phải châm chước!
H. Cosserat
trần thuật lại lời Lucien Huard một cách thực dân xấc xược trước khi phê
phán theo quan điểm của y:
“… Đúng
pháp luật mà nói, th́ ông Tường ra khỏi kinh thành là để tŕnh diện
trước ṭa án binh [v́ “vi phạm “ḥa” ước”!!!] […]; nếu khôn ngoan hơn,
th́ ta không nên để một con người [:Nguyễn Văn Tường] rơ ràng là kẻ thù
của chúng ta cầm Triều đ́nh, một con người luôn đă và sẽ chống phá nền
đô hộ của chúng ta theo cách này hay cách khác, không chịu chấp nhận nó.
Nhưng chúng
ta đă tin, đă làm bộ tin sự thành thật trong những lời phản đối của ông
ta [về các biến động trong triều đ́nh], và đă chấp thuận những lời khôn
khéo của ông ta như là bằng chứng của ư nghĩ tốt. […]” (124).
“Mặc dầu có
bài tuyên bố của tướng Millot với dân An Nam mà đại tá Guerrier đă thủ
sẵn trong túi, và tiếp đó th́ tung ra để loan truyền, nhưng cũng chẳng
có ǵ thay đổi ở Huế, ngọai trừ cái tên hoàng đế.
“Thay v́
Kiến Phúc th́ nay là Mệ Tríu [:Hàm Nghi]”, và luôn vẫn là Nguyễn Văn
Tường trị v́.
Thật sự, th́
nay lá cờ Pháp phất phơ trên kinh thành, bên cạnh cờ nước Nam [v́ Pháp
đă đóng quân ở Mang Cá], và quan phụ chính [Nguyễn Văn Tường] không thể
tha hồ bày mưu tính kế để chống lại chúng ta […]” (124)
.
Và Rheinart
viết phúc tŕnh vào ngày 21.08.1884:
“… Khi
đi ra, th́ người ta bảo chúng tôi theo con đường và cổng bên phải (đường
của quan văn). Cửa giữa không được mở ra nữa. Điều này trước đây cũng
như vậy đối với sứ thần Trung Hoa phụ trách chuyển đệ tấn phong. Những
người này chỉ xuyên qua cửa giữa lúc vào. Tôi thoạt có ư muốn đi ra cũng
vẫn theo cửa giữa, nhưng nghĩ lại là trước đây đă không yêu sách, th́
bây giờ cũng nên bằng ḷng với kết quả đă đạt được…” (124)
.
Sử gia của
nước ta ghi nhận về sự kiện đó:
“Trước đây đem việc làm lễ tấn quang, [triều đ́nh] gửi thư sang
giám quốc [tổng thống] Đại Pháp. Đến đây, [tổng thống Pháp] gửi thư trả
lời nói: Chính thể ở nước ta, nước ấy đă chẳng biết ǵ, duy việc đại lễ
tấn quang và việc đặt phụ chính thần, nước ấy cùng tri phương [:danh
thơm được biết đến] đă hợp biết sự thể.
Viện thần [:Cơ mật viện đại thần] đă chuẩn y rồi, cho nên [vua]
chuẩn cho [Guerrier, Rheinart và quân lính của chúng] tiến yết [:được
vào yết kiến vua].
Sứ [Rheinart] ấy lại yêu cầu xin cho quan quân nước ấy vào đóng ở
Trấn B́nh đài. Vua [Hàm Nghi] cũng y cho.
(Trấn B́nh đài [được] làm ở ngoài cửa [thành, có tên là cửa] Trấn
B́nh. Thành cao một tầng, chu vi 246 trượng 07 thước 04 tấc [ta], tục
gọi là thành Mang Cá).
Nay cho quan quân ấy vào đóng. Đó là nơi nhượng thổ” (126)
.
Đến trung tuần tháng chín Giáp thân (1884), cách thời điểm tên
Guerrier kéo quân vào Huế khoảng ba tháng, vụ việc càng được làm sáng rơ.
Không ai khác, chính quan đệ nhị phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết,
trong tháng chín về sau đó, đă viết bản tấu, đọc giữa triều đ́nh, tŕnh
bày rơ và chi tiết hơn về sự kiện Guerrier kéo tàu chiến, đại binh vào
hăm doạ tấn công kinh thành Huế ấy (125):
“PHỤ CHÍNH THÂN THẦN GIA HƯNG VƯƠNG KIÊM SUNG TÔN NHÂN PHỦ HỮU
TÔN CHÍNH HỒNG HƯU BỊ TỘI, CÁCH CHỨC TƯỚC, PHẢI AN TRÍ Ở PHỦ CAM LỘ”
(125):
“Trước đây, Chấn Tĩnh quận công là Miên Trí tâu hặc vương ấy v́
nhân việc tư bỏ việc công, tiết lộ quân quốc trọng sự, gia dĩ thêm thói
dâm dục (cùng với công chúa Đồng Xuân can tội tước tịch, đổi theo họ mẹ
là Hồ Thị Đốc, thông gian sinh con). Mọi khoản giao cho Tôn nhân phủ hội
đồng, phụ chính đại thần xét nghĩ; bèn giao Sở Túc vệ giam xét. Nguyễn
Văn Tường, Tôn Thất Thuyết lại đem đủ t́nh trạng vua ấy [:Gia Hưng vương
(127)] tâu bày, xin cùng xét nghĩ một thể.
(Tâu nói:
“Ngày tháng sáu, Giản tông Nghị hoàng đế [Kiến Phúc] mất, bọn
chúng tôi vâng tuân lời di chúc, chọn lấy ngày mười ba (13) làm lễ tấn
quang. Trước một ngày đó, sứ cũ Pháp là Lê Na [Rheinart] uỷ cho kư lục
Hinh tới dinh bọn tôi nói: Nếu tôn Gia
Hưng vương lên làm vua th́ y thuận nghe, bằng không thế th́ y gây chuyện,
đem hết gia quyến bọn tôi bắt tội.
Bọn tôi trộm nghĩ v́ việc lớn của Nhà nước, không dám đoái riêng, một
mặt cứ y ngày làm lễ tấn quang, một mặt nói với vương ấy, bằng không
t́nh ǵ [:nếu không có tham vọng cướp ngôi vua], th́ nên uỷ cho báo với
sứ ấy đ́nh chỉ [cho] bớt việc, đừng nên ngăn trở [việc tấn quang], sinh
ngờ.
Nhưng vương ấy để ḷng đă lâu, không chịu uỷ báo cho sứ ấy. Chước đó
không thành, [Rheinart] mới đưa thư cho quan binh ấy đóng ở miền Bắc [Millot].
Ngày 22 tháng ấy, quan tham tán đóng ở miền Bắc [Guerrier] xuất đem hơn
mười (10) chiếc thuyền quân, đến Sứ quán đó. [Chúng] đe dọa, toan muốn
sinh chuyện [với triều đ́nh ta], và vào thành đóng giữ [tại Mang Cá].
Bọn tôi bất đắc dĩ phải nhấn nhún để định ngôi lớn, xin chuẩn cho quan
ấy vào làm lễ tiến yết và cho quan binh ấy vào thành.
Từ đó đi, Hồng Hưu lấy bịnh nằm rền trong phủ đệ, không để ư ǵ
đến việc công. Trong các hàng thân phiên đă có nhiều người cùng biết.
Chấn Tĩnh quận công thửa nói thế cũng do ḷng công phẫn. Nay [vụ
Hồng Hưu] phát ra việc này, tội án thật là sâu nặng, thế mà c̣n dám kéo
dằng dai gần được một ngày. Lê Na
[Rheinart đă có lệnh tạm thôi chức vụ khâm sứ, Lemaire thay thế, nhưng
Rheinart c̣n chờ tàu] hiện đóng ở cửa đồn Thuận An, liền về [lại] Sứ
quán, uỷ người tới dinh chúng tôi, bảo phải khoan tha cho Hồng Hưu về
phủ, không th́ y gửi điện về nước ấy, không khỏi lại sinh chuyện lôi
thôi. Hôm qua tôi (128) và Nguyễn Văn Tường đi đến Sứ quán ấy (Lê Na [Rheinart]
về rồi), sứ mới [Lư Mai (Lemaire)] bảo rằng: “Trước đây về khoản làm lễ
tấn tôn và việc Hồng Hưu, có người không bằng ḷng (ám chỉ vào Lê Na [Rheinart]),
đưa tin gièm pha đă nhiều. Nước ấy [:Pháp] hẳn cũng sinh ḷng thiên lệch.
Nay nên xử trí cho khéo. Vả, nước ấy bảo hộ quư quốc [:Đại
Nam], việc triều đă chẳng hề can dự. Duy có việc lớn là lễ tấn tôn cùng
với phụ chính đại thần đều là việc quan trọng, nên cho viên ấy [khâm sứ
đương chức] dự biết, thế mới hợp thể, rồi về sẽ báo tin về nước ấy, hẳn
sẽ bằng ḷng. C̣n tội án của Hồng Hưu, mặc dầu quư quốc xử đoán, viên ấy
không dám nói các lẽ. Vả, Hồng Hưu hệ thuộc là người ư thân của nhà vua,
chung ḷng nghĩa vui lo”.
Xem như sứ Pháp thửa nói thửa làm, th́ mối t́nh thông quan [loạn
luân của Hồng Hưu, câu kết với Pháp], thực đă không thể che được, duy
đương lúc Nhà nước có tang, ḷng người chưa định, Cung [thái hoàng thái
hậu Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị, hoàng thái phi Nguyễn Văn thị] đương
lúc đau thương, bọn tôi không dám vào tâu, sợ phiền ḷng thánh lo nghĩ,
mà làm cho dân chúng ngờ hoặc, [chỉ] nín náu lựa theo để nên việc lớn.
Nay [Hồng Hưu] can khoản ấy, vốn không dung giết, mà c̣n dám như thế,
thực đáng khá sợ. Bọn tôi cùng bàn, nghĩ theo lời xin của sứ mới, do
Viện tôi nghĩ soạn tờ tư, đệ giao cho sứ ấy, và đem cái án của Hồng Hưu
để tuân làm”).
Bèn chuẩn như lời tâu. Đến đây án thành, [Hồng Hưu phải bị] cách
bỏ chức tước, phát đi an trí ở phủ Cam Lộ, Quảng Trị. Pḥng (nhà) vương
ấy [Gia Hưng vương Hồng Hưu] có bảy công tử, [bị] giáng làm tôn thất,
chia giao cho các tỉnh quản thúc. (Tôn Thất Huy, Tôn Thất Diễn an trí ở
Cam Lộ; Tôn Thất Chuân, Tôn Thất Dũng, giao về Nghệ An; Tôn Thất Linh,
Tôn Thất Tân, Tôn Thất Vệ, giao về Hà Tĩnh)” (125)
.
Lời tâu hặc của Chấn Tĩnh quận công Miên Trí, quá tŕnh điều tra,
nghị xử của Sở Túc vệ, Tôn nhân phủ, bản tấu của đại thần Tôn Thất
Thuyết (ghi rơ sự câu kết của Hồng Hưu với Rheinart, lời bàn thảo của
Lemaire có tŕnh bày rơ về mưu đồ, hành vi đen tối của Rheinart), và
những tang chứng, nhân chứng, tất cả đă làm sáng tỏ vụ việc.
Sau Hồng Bảo, Dục Đức, Hiệp Hoà, đây là vụ thứ tư thực dân Pháp
thực hiện âm mưu lũng đoạn ngai vàng triều Nguyễn để nắm lấy quyền lực,
nhằm khuynh loát, đẩy dân tộc ta vào vực thẳm nô lệ.
Người ta đă đặt vấn đề, căn cứ vào lô-gích (logic, logique) của
chuỗi vụ việc trong sự kiện này:
+++
1. Tại sao Kiến Phúc chết? Phải chăng Hồng Hưu giết Kiến Phúc một cách
mờ ám theo sự câu kết với thực dân Pháp?
+++
2. Phải chăng không thể không nghi ngờ Pháp muốn đưa Dục Đức trở lại
ngai vàng, sau khi Dục Đức sai người giết Kiến Phúc một cách ám muội? (Lúc
này Dục Đức và gia đ́nh riêng vẫn c̣n sinh sống và học tập tại Giảng
đường Viện Thái y).
+++
3. Tại sao thực dân Pháp muốn đưa Hồng Hưu, vốn là một tội phạm loạn
luân lên ngôi hoàng đế? Phải chăng do phong tục của người Pháp là người
ruột thịt trong họ tộc (anh chị em họ chẳng hạn) có quyền kết hôn, mà
theo phong tục nước ta như thế là loạn luân? Đây cũng là một mắc mứu của
“tả đạo”?
Sự thật, vua Kiến Phúc chết v́ bệnh (tái phát trầm trọng sau khi
đă khỏi). Nếu nghi vấn, th́ chỉ có thể đặt một giả thuyết duy nhất, ấy
là do một chất độc nào đó của Pháp, Pháp đă trao cho Hồng Hưu hoặc người
thân tín của Dục Đức, mà các quan ngự y (vốn giỏi nhất nước) trong Thái
y viện không giám định pháp y được. C̣n những câu hỏi khác đă được làm
sáng tỏ bằng chính văn bản, trong đó quan trọng nhất, có tính chất đúc
kết là bản tấu của Tôn Thất Thuyết, bản án của Tôn nhân phủ (mà về sau,
chính triều thần và Đồng Khánh khi đă lên ngôi, cũng vô h́nh trung [đúng
hơn là đă tảng lờ về chính trị] và khá minh nhiên [về đạo đức] xác định
lại bản án đó là hoàn toàn đúng sự thật).
Thực dân Pháp không thể không tức giận khi vua Hàm Nghi, chứ không
phải Hồng Hưu hoặc Dục Đức được đưa lên ngai vàng.
Sau khi đưa Hồng Hưu đi an trí, vào tháng chín nguyệt lịch, Miên
Lâm và Miên Trữ đă được cử thay vào chức trách bị trống:
“Lấy người tả tôn nhân Phủ Tôn nhân Hoài Đức quận công là Miên
Lâm đổi quyền hữu tôn nhân Phủ ấy; sung phụ chính thân thần Tuân quốc
công là Miên Trữ kiêm tả tôn nhân Phủ ấy” (129)
.
Hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và triều đ́nh,
hoàng tộc, Tam cung (thái hoàng thái hậu Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị,
hoàng thái phi Nguyễn Văn thị) đă có giải pháp đúng đắn, b́nh tĩnh, khi
đứng trước thủ đoạn xâm lược (lũng đoạn nội bộ triều đ́nh, hăm doạ tấn
công kinh thành) với chiêu bài “bảo hộ” của thực dân Pháp.
“Đă yên rồi nỗi Tây kia
Bây giờ mấy kẻ hiềm nghi lo trừ” (130)
Ai là những kẻ đáng bị “hiềm nghi”
?
Câu trả lời cũng đă rơ: Hồng Hưu và Dục Đức! Hồng Hưu đă bị xử lí, c̣n
Dục Đức? Sự thật dẫu vẫn thế, nhưng dưới lăng kính chủ “hoà”, bảo hoàng
ngu trung, cố nhiên đă mang màu sắc khác!
C̣n “nỗi Tây kia”
chỉ
mới tạm yên sau khi Rheinart bị triệt hồi về Pháp, để Lemaire, một viên
quan văn Pháp có cá tính ôn hoà hơn, thay y làm khâm sứ tại Huế. Trong
khi đó, cuộc chiến Pháp – Hoa vẫn rất dữ dội ở Phúc Châu (tỉnh Phúc Kiến)
và ở Đài Loan, hai nơi ấy đều thuộc lănh thổ Trung Hoa. T́nh h́nh ở Bắc
Ḱ vẫn rất căng thẳng.
Rơ ràng là thực dân Pháp vừa tấn công Trung Hoa bằng súng đạn, vừa
tấn công vào nội bộ triều đ́nh nước ta bằng sự lũng đoạn, áp lực.
16
Tháng sáu nguyệt lịch Giáp thân (1884) vẫn tiếp tục trôi qua trong
t́nh h́nh đó. Bấy giờ, Pháp vẫn tiếp tục phong toả, cấm vận kinh thành
Huế. Nguồn lương thực vốn được vận tải bằng tàu thuyền cũng bị chúng
ngăn cản. Các tàu thuyền ta, Pháp đă tháo dỡ máy móc và các vũ khí bảo
vệ. Do đó, “phụ chính đại thần [phải] bàn với quan khâm sứ [Pháp]
đóng ở kinh, xin cho thuê người nước ấy quản coi ba chiếc tàu thuỷ là
Thuận Tiếp, Thuận Ổn và Lợi Đạt để chạy đi Hải Dương, Hải Pḥng, chở gạo
về kinh” (131)
!
Mặt khác, tên “quan thượng thư Pháp” Sinh Bích (Silvestre) ở Bắc
Ḱ c̣n yêu sách triều đ́nh phải rút quân ở tỉnh, chỉ để lại lính tuần
thành, lính lệ, phu trạm (132). Nhưng ngay cả các loại lính này cũng
phải làm thay những việc lẽ ra theo b́nh thường triều đ́nh chỉ mướn thuê
dân làm. Như thế, hầu như không c̣n lính chính quy chuyên nghiệp! Pháp
đă vin vào “hoà” ước để cưỡng buộc!
Hai quan phụ chính đại thần từ lâu nhận thấy Nguyễn Hữu Độ ngày
càng đốn mạt, dựa vào bọn thực dân cướp nước để tạo thế thần, quyền lực.
Trước đây, mặc dù vẫn để cho y làm quyền tổng đốc Hà – Ninh, nhưng phải
bị giáng xuống hàm cửu phẩm (một hàm thấp nhất trong ngạch quan). Cửu
phẩm, lại giữ quyền tổng đốc là cả một sự mỉa mai, và rất bấp bênh, bấp
bênh một cách khôi hài trên quan trường (133)! V́ vậy, thay v́ với mức
hàm bị giáng là cửu phẩm, Nguyễn Hữu Độ được khai phục hàm hồng lô tự
khanh (chánh tam phẩm), nhưng phải về kinh đô làm biện lí Bộ Lại (134).
Thay vào chức vụ quyền lí tổng đốc Hà – Ninh là Nguyễn Trọng Hợp, kẻ
đang làm quyền tổng đốc Sơn Tây. Chính Nguyễn Trọng Hợp cũng chỉ được
khai phục không lâu trước đây với mức hàm là hồng lô tự thiếu khanh (chánh
ngũ phẩm) (134)! Nhưng tên tướng Pháp Millot hai lần thương thuyết với
triều đ́nh, do đó, phải cho cả Nguyễn Hữu Độ lẫn Nguyễn Trọng Hợp lưu
lại chức cũ (134). Chả là Millot cần tay sai đắc lực! Hai quan phụ chính
đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết rất ghét thói xu thời của Hợp
và Độ, tồi tệ nhất là Độ, nhưng đành nhân nhượng Millot. Tuy thế, hai
phụ chính vẫn phải “đặc biệt đem câu “xem gió chuyển buồm” trách Hữu
Độ” (134)
, cũng là để nhắc nhở y và các quan khác, như Hoàng Cao Khải, Nguyễn
Huy Lân, kể cả Cao Xuân Dục, những kẻ đang có khuynh hướng cộng tác với
Pháp (ban đầu c̣n dè dặt, chỉ tự giới hạn trong việc giữ an ninh, trật
tự xă hội ở Bắc Ḱ…).
Vẫn tháng sáu nguyệt lịch này, Ê Mô Ni Ê (Aymonier) (135), một tên
người Pháp thực dân, nhưng là thực dân về văn hoá, xin giấy phép thông
hành đi du khảo trong nước, trừ những vùng đất cấm. Y là nhà nghiên cứu
thuộc Sở Bác vật Pháp. “Sở Bác vật ấy học [:nghiên cứu] những môn về
truyện cổ tích lưu truyền ở dân gian và những vật kiến tạo của bản quốc”
(135)
.
Thực sự đến khoảng mấy tháng sau (có lẽ đầu năm mới theo lịch Chăm),
Aymonier mới bắt đầu chuyến du khảo từ B́nh Thuận ra Bắc Ḱ, thực chất
là cướp đoạt các bức tượng, phù điêu, bia kí, trống đồng (136)… Trong đó,
mưu đồ truyên truyền về chính trị, quân sự thực dân không phải không là
mục đích chính…
Cuối tháng sáu, việc chấn chỉnh quân binh vẫn được tiến hành tại
hai vệ Thượng Tứ, Khinh Phi với mục đích yêu cầu “đặt trường diễn vơ,
diễn tập vơ nghệ, và cách bắn súng mở bụng; cấp thêm cho mỗi tháng một
quan tiền, được miễn việc công dịch, khiến cho chuyên [việc luyện] tập,
để pḥng bị lúc cần dùng” (137)
. Và khoá thi hương vơ khoa tháng bảy, tháng mười tại B́nh Định,
Thừa Thiên, Thanh Hoá được vạch kế hoạch tổ chức (138).
Đến tháng bảy nguyệt lịch, kinh diên lại được khai giảng để vua
Hàm Nghi học tập, trau dồi, bổ sung kiến thức, và luôn có quan giảng tập
để giảng kinh sử cho vua và túc trực bên vua để vua hỏi han kiến thức
khi cần. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường cũng là một trong các quan
giảng tập ấy (139).
Tháng bảy với những công việc trong triều ngoài tỉnh như thế,
trong t́nh h́nh như thế, lại được tin Ông Ích Khiêm đă chết trong ngục
tại B́nh Thuận (140)!
Không phải nhầm lẫn, chính là Ông Ích Khiêm, thần đồng văn chương,
danh tướng trận mạc và cũng là một quái kiệt “tâm hoả”
.
Ông đă trở thành phạm viên (người vi phạm luật pháp)
,
bị xử án lưu đày vào B́nh Thuận để sung quân (140). Mức lưu đày nhưng
được sung quân là tương đối tự do, thoải mái, như một viên lính mới nhập
ngũ, và đến khi măn hạn chấp hành án sẽ được khai phục (như Nguyễn Công
Trứ trước kia chẳng hạn, với câu nói nổi tiếng: “Khi làm quan ta
không lấy làm vinh, khi làm lính ta không lấy làm nhục”
). Nhưng v́ Ông Ích Khiêm chống đối các quan thi hành pháp luật, nên
bị giam vào ngục. Tại ngục B́nh Thuận, ông đă chết!
Việc các quan chức vi phạm luật pháp, bị án, không có ǵ đáng ngạc
nhiên. Ông Ích Khiêm cũng đă nhiều lần bị trói, khoá tay, giải về kinh
nghị xử, nhưng đều được miễn nghị. Lần này, Ông Ích Khiêm mới thực sự bị
án. Việc Ông Ích Khiêm bị án chẳng có ǵ là lạ! Điều gây sửng sốt cho
các quan tại triều, là Ông Ích Khiêm đă chết như thể là tự sát!
“PHẠM VIÊN LÀ ÔNG ÍCH KHIÊM CHẾT Ở NHÀ NGỤC B̀NH THUẬN”
(140):
“Ông Ích Khiêm, [vào tháng năm nguyệt lịch] mùa hạ năm ấy, vâng
mệnh phải đi khám Sơn pḥng Quảng Nam, bị bọn chưởng ấn là Đào Hữu Ích,
Nguyễn Doăn Tựu đem việc chỉ hặc (tự tiện bắt lính kinh hơn năm mươi
(50) tên hộ tống, và lấy công nữ, đuổi dân cư, xây nhà riêng), giao cho
đ́nh nghị. Sau thành án: cách bỏ chức tước (nguyên Binh bộ thị lang,
phong tước nam), phát đi B́nh Thuận sung quân (theo về khoản tự tiện bắt
người hỏi tội), thu hết ấn quan pḥng cấp cho cũ [:trước đó], khóa tay
giải đến chỗ đi đày. Khi đi đường đến Quảng Ngăi, bị bệnh, nghỉ.
([Ông Ích Khiêm] nói: “Đi theo việc bắt giặc, trải một trăm năm
mươi (150) trận, ḿnh bị trọng thương; nay đi đường bị nóng, nhức đau,
xin nghỉ lưu lại”).
Tỉnh thần là Trần Nhượng y cho hạn xin ở lại. Bộ H́nh cho rằng, v́
t́nh riêng, khinh thường pháp luật, [nên] tâu hặc, phạt Nhượng bị giáng
hai cấp, lưu lại làm việc; sai [Ông Ích Khiêm] mỗi ngày phải đi hai trạm,
hạn cho đi tới các tỉnh (B́nh Định, Phú An [:Yên], Khánh Ḥa), không
được hạn lưu lại một khắc. Kịp khi tới chỗ đày, phủ thần là Lê Liêm an
trí xuống ngục. [Ông] Ích Khiêm tháng ấy chết ở trong ngục.
[Ông Ích Khiêm được] gia ơn miễn tội sung quân, khai phục Hàn lâm
viện thị độc, chiếu hàm cấp tiền tử tuất” (140)
.
Người ta c̣n kể một giai thoại về Ông Ích Khiêm, không biết có xác
thực hay không. Giai thoại thường do người sáng tác, truyền khẩu thêm
thắt, thậm chí hư cấu, nên dẫn đến t́nh trạng có nhiều dị bản. Có truyện
thuộc loại này xem ra cũng phần nào phù hợp với tính cách riêng của nhân
vật lịch sử.
Giai thoại ấy được kể rằng (141): Có một lần, Ông Ích Khiêm mời
một số đường quan đến nhà riêng dự tiệc. Trong bữa tiệc ấy, những món ăn
đều có vị lạ nhưng rất ngon miệng. Các quan đa số đều là nhà nho, chỉ
một ít có thiện cảm với Phật giáo, Lăo giáo hoặc số ít ấy vừa là nhà nho,
vừa sùng tín một trong hai tôn giáo kia. Với các món ăn Ông Ích Khiêm
thiết đăi, nhiều quan biết ngay và tất nhiên rất thích. Họ gọi đó là món
“ngu trung”. Ngu trung là trung thành một cách mù quáng, không
phân biệt kẻ được ḿnh trung thành là ác hay thiện. Nhà nho vốn duy lí,
vốn xem câu nói của Mạnh Tử là kinh điển: “Dân vi quư, xă tắc thứ
chi, quân vi khinh” (dân là quư, Đất nước thứ nh́, vua chúa chỉ đáng xem
nhẹ)
. Kẻ sĩ nho giáo luôn luôn xem “dân vi bản”, lấy dân làm gốc. Nhưng
món “ngu trung” ấy, một vài quan không từng được nếm, và tất nhiên các
món ăn trên bàn đều được tŕnh bày khác với món “ngu trung” b́nh thường,
cho nên không nh́n ra. Nếu tŕnh bày theo cách b́nh thường, dẫu chưa
từng nếm nhưng cũng có thể biết đó là món ǵ. Do đó, các vị quan vốn
kiêng ăn món “ngu trung” thành thật không biết món ăn có vị lạ và cách
tŕnh bày cũng lạ mắt đó.
Một người hỏi:
- Các món ăn nấu bằng thịt ǵ ngon đáo để! Quan gia chủ có thể cho
tôi biết được không?
Ông Ích Khiêm đáp tỉnh bơ:
- Đều là chó cả! Đâu cũng chó cả!
Các quan hơi tái mặt hoặc hơi đỏ mặt, tuỳ theo phản ứng bẩm sinh
của từng người. Nhưng tại sao Ông Ích Khiêm lại vô ư đến thế! Vả lại
chừng như qua ngữ điệu, ông ta muốn nói xỏ xiên ǵ đây. Sỉ nhục nhau
chăng? Cá tính Ông Ích Khiêm vốn thế, cho nên, chấp trách làm ǵ! Thôi,
bỏ qua. Đến vua Tự Đức cũng bỏ qua cho Ông Ích Khiêm cơ mà! Hẳn mọi
người đều nghĩ thế, cho dẫu họ hiểu Ông Ích Khiêm chửi họ “ngu trung”
như chó! Được trung thành với ông chủ có đạo đức, có tri thức, được mọi
người kính trọng, ngưỡng mộ mà không cần tô son vẽ phấn, đó là con chó
may mắn. Cái may mắn ấy con chó không tự chọn lựa, v́ nó vô tri, chỉ có
mỗi một bản năng trung thành. Con chó trung thành với bất ḱ ông chủ nào
đă nuôi nó từ nhỏ, kể cả loại ông chủ là kẻ cướp của giết người, đầu
trộm đuôi cướp. Loại thứ hai này đúng là không may mắn tí nào! Kẻ sĩ,
những trí thức luôn luôn tự nhắc nhở “dĩ dân vi bản”, phải tâm niệm chữ
trung (trung quân một cách sáng suốt), lẽ nào không biết chọn vua để
phụng sự? Ông thừa hiểu, hiểu một cách sâu sắc, hai phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và các quan chủ chiến không ngu trung
một chút nào, mà trung thành với triều Nguyễn, với Đất nước, với nhân
dân bằng tất cả sự sáng suốt đă được minh chứng bằng hành động! Ông Ích
Khiêm cũng tự chửi ḿnh đấy sao?
Dẫu bữa
tiệc mất ngon v́ sự vô ư, vô tứ của Ông Ích Khiêm, nhưng các quan vẫn cố
vui vẻ với nhau và với Ông Ích Khiêm.
Bỗng có một vài viên quan khác đến trễ, được gia nhân mời vào. Tất
nhiên người đến trễ lại là quan không phải nhỏ, cũng biện lí, chủ sự,
tham biện tại kinh đô. Ông Ích Khiêm đă dành sẵn một mâm ở bàn riêng.
Bàn liền được gia nhân bưng vào, đặt ở vị trí cao nhất, có thể gọi là
bàn thượng. Các quan vừa mới được đón vào thấy thế, đâm ngại. Một người
nói, sau khi đảo mắt nh́n quanh:
- Chúng tôi có lỗi thất lễ đă đi trễ giờ, vả lại… Thật không dám
vô phép ngồi ở bàn trên đó!
Ông Ích Khiêm liền nói như chửi:
- Tất cả đều là chó! Ngồi trên bàn thượng cũng chó, ngồi dưới bàn
hạ cũng chó!
Lần này, Ông Ích Khiêm cố ư nói sai hai chữ “trên”, “dưới”. Các
lần trước th́ thôi, bỏ qua, hơi đâu chấp trách Ông Ích Khiêm, nhưng lần
này rơ là Ông Ích Khiêm phạm thượng, khi quân (khinh vua)! Tội
khi quân là tội chết, với mức án lăng tŕ xử tử!
Các quan
dứt khoát đứng dậy, kẻ trước người sau nói lời cáo từ. Ông Ích Khiêm cản
tay lại, không để các quan về. Ông nói:
- Tôi xin các quan vui ḷng ngồi lại để uống nước đă chứ!
Ông Ích
Khiêm gọi gia nhân:
- Nước đâu? Thật là bọn vô tích sự! Ăn rồi chỉ lo mỗi việc nước
cũng không xong, cứ vục đầu mà ăn rồi chơi nhởi thôi!
Các quan không thể nói Ông Ích Khiêm không có ư xỏ xiên, chơi khăm,
sỉ nhục đồng sự. Rơ ràng Ông Ích Khiêm mắng nhiếc các quan đều là chó,
vua cũng chó, tôi cũng chó, không chăm lo việc nước, chỉ vục mặt lo ăn!
Tất nhiên với ngữ cảnh đó, ngữ điệu đó, cộng với tính hệ thống, ai
cũng có thể kết án Ông Ích Khiêm, đều có thể bắt trói ông giao cho Bộ
H́nh xử án đúng luật. Mọi tội có thể châm chước, khoan tha, nhưng tội
lần này, nhất là tội phạm thượng, khi quân, làm sao khoan tha,
châm chước được!
Nhưng rồi mọi người vẫn khoan tha, châm chước cho Ông Ích Khiêm.
Không ai dâng sớ đàn hặc con người rất tài năng, văn vơ kiêm toàn nhưng
“tâm hoả” ấy (141).
Dẫu sao, đó cũng là giai thoại, không rơ có xác thực hay không!
Không chỉ giai thoại, người ta con truyền tụng nhau một vài bài
thơ, câu đối “động thời văn” của Ông Ích Khiêm. Đây là bài thơ phê phán
các quan thời vua Tự Đức c̣n sống, v́ bấy giờ quan ta phải phối hợp với
quân Thanh do tướng Phùng Tử Tài thống lănh để tiễu phỉ, và sử dụng cả
quân Cờ đen đă quy thuận, đánh Pháp:
“Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu
Đến
khi có giặc phải thuê Tàu
Từng phen vơng giá mau chân nhảy
Đến
bước chông gai thấy mặt đâu?
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu dê hiến măi đứa văng bầu (*)
Ai
ơi hăy chống trời Nam lại
Kẻo
nữa dân ta phải cạo đầu!” (141).
Ông Ích
Khiêm lo âu dân tộc ta phải bị đồng hoá thành người Thanh cạo nửa đầu
trước, đánh tóc nửa đầu sau thành h́nh con rết!
Trong nhiều
giai đoạn lịch sử, có khi người ta cần có một nhân vật nào đó, thường là
đă chết, để gán vào những điều người ta không dám nói, dám viết, hoặc
chỉ để hả ḷng ghét, khoái miệng chửi, thoả măn thói đời thích công kích,
châm biếm, trào lộng, có khi nhắm đến chính nhân vật ấy… Ai đi bắt tội
người đă chết! Mặt khác, đó chỉ là truyền khẩu, mà “khẩu thiệt vô
bằng” (miệng lưỡi không có bằng cứ)
,
đâu phải giấy trắng mực đen, ai bắt tội được người truyền khẩu!
Chuyện văn
chương truyền miệng, khẩu thiệt vô bằng với nội dung như thế, dẫu sao,
cũng độ lượng cho Ông Ích Khiêm. T́nh cảm thơ ca, ngôn từ thi sĩ nhiều
khi rất cảm tính! Nhưng c̣n những tội khác như các quan Khoa đạo Đào Hữu
Ích, Nguyễn Doăn Tựu đă tâu hặc th́ đâu phải là chuyện văn chương khẩu
thiệt! “Luật pháp bất vị thân” (luật pháp không thiên vị người thân),
kể cả đồng chí chủ chiến!
Hai quan
phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết làm sao bênh vực cho Ông Ích
Khiêm được!
Sự thật về
án phạm, về cái chết ở ngục B́nh Thuận của Ông Ích Khiêm là đúng như bản
án Bộ H́nh đă nghị xử, đă tuyên bố, cho thi hành án, và do chính bản
thân Ông Ích Khiêm.
Hết
tệp 3
(PHÂN
ĐOẠN 3)
TRUYỆN KÍ
THỨ 11
(c̣n tiếp)
Khởi viết từ 07
giờ 30 sáng ngày 06.01.2003
(04.12 Nh. ngọ
HB.3)
Viết
đến ḍng chữ này vào lúc 09 giờ kém 10 phút
ngày 16.01.2003
(14.12 Nh. ngọ HB.3)
tại thành phố Hồ
Chí Minh.
TRẦN
XUÂN AN
(95) Trong ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr.
113 – 120, nguyên văn “hoà” ước Giáp thân 1884 không chép phần mở đầu.
Tôi trích phần mở đầu “hoà” ước ấy, theo phần phụ lục trong “Phạm Thận
Duật, sự nghiệp văn hoá, sứ mệnh cần vương”, Hội KHLS.VN xb., 1997, tr.
361. (Cuốn sách tham khảo về Phạm Thận Duật kê trên, tôi đă có dịp phê
phán ở phần chú thích tập III của bộ truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu
lịch sử này).
(96) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 119.
(97) Nguyễn Văn Mại, Lô Giang tiểu sử (LGTS.),
Nguyễn Huy Xước dịch, bản in ronéo, 1961, tr. 28. Về cuốn LGTS. này,
chúng tôi đă tiếp thu và đă phê phán (một thao tác khoa học cần thiết
trong việc tham khảo bất ḱ tư liệu nào, cuốn sách nào); xin xem: Trần
Xuân An, Nguyễn Văn Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không
hơn được”, khảo luận và phê b́nh sử học, sắp xuất bản (2002).
(98) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr.
120.
(99) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr.
124.
(100) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 125.
(101) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 125.
(102) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 126.
(103) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 127
– 129.
(104) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 128
– 129.
(105) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd.,
tr. 543 – 544.
(106) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 130.
(107) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 129
– 130.
(108) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 131.
(109) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 130
– 131.
(110) CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd.,
2001, tr. 476; GS. Nguyễn Văn Kiệm, bài viết tham luận trong Kỉ yếu Hội
nghị Khoa học lịch sử với đề tài “Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và
Nguyễn Văn Tường", ĐHSP. Tp.HCM., 20.6.1996, tr. 7 - 17. Đây là một bài
nghiên cứu sử dụng rất nhiều tư liệu gốc của Hội Truyền giáo Bắc Ḱ (chủ
yếu do Mgr. Puginier viết và báo cáo mật), đă được in thạch bản từ những
năm cuối thế kỉ XIX tại xưởng in Kẻ Sở…
(111) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 159.
(112) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 139.
(113) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd.,
tr. 543 – 544; CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 470 – 476.
(114) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd.,
tr. 548.
(115) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 139
– 142.
(116) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 143.
(117) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 142
– 143.
(118) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 143
– 150.
(119) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 150
– 151.
(120) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 165
– 169.
(121) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 154
– 155.
(122) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 153
– 154.
(123) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 155.
(124) H. Cosserat, bài “Người ta viết sử như
thế nào: Đón tiếp đại tá Guerrier tại Triều đ́nh nước Nam ngày
17.8.1884”, Tập san Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du
vieux Huế, Cadière làm chủ bút.), [BAVH., 1924], tập XI, Phan Xưng dịch,
Nguyễn Vy hiệu đính, Nxb. Thuận Hoá, 2002, tr. sđd., tr. 373 – 397, đặc
biệt các tr. 379, 381, 384, 387 – 388, 393…
(125) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 176
– 178.
(126) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 156
– 158.
(127) Đúng ra vẫn để là “vương”, chứ không
phải dịch như chữ “đế [vua]”: Gia Hưng vương.
(128) Căn cứ vào câu này (với đại từ nhân
xưng chủ thể là “tôi”): “Hôm qua, tôi và Nguyễn Văn Tường đi đến Sứ quán
ấy…”, để xác định bản tấu do Tôn Thất Thuyết viết và đọc.
(129) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 178.
(130) Nguyễn Nhược Thị Bích, Hạnh Thục ca (HTC.),
(Trần Trọng Kim sưu tầm, phiên âm ra bằng chữ quốc ngữ, viết tựa, hiệu
đính, chú thích), Nxb. Tân Việt, 1950, tr. 33; xin xem: Trần Xuân An,
Nguyễn Văn Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”,
khảo luận và phê b́nh sử học, sắp xuất bản (2002).
(131) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 157.
(132) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 157.
(133) HTC., Nxb. Tân Việt, sđd., 1950, Trần
Trọng Kim chú thích ở tr. 47: Tờ sắc có câu: “Nguyễn Hữu Độ, tùng cửu
phẩm, lĩnh Hà – Ninh tổng đốc”.
(134) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 157
– 158.
(135) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 158.
(136) Inrasara (sưu tầm, phiên dịch, giới
thiệu), Văn học Chăm II – Trường ca (VHC.II. TC.), Nxb. Văn hóa dân tộc,
1996, tr. 161 – 193. Trong cuốn sách này, có trường ca Ariya Po Parơng (Trường
ca “Quan lớn Pháp”) do Hơp Ai viết. Đây là một trường ca được viết theo
dạng kí sự bằng thơ. Tác giả Hơp Ai là “một người Chăm ở Ninh Thuận, ghi
lại chuyến du khảo các di tích văn hóa Chăm với Po Parơng” (sđd., tr.
161). “Po Parơng” đó là E. Aymonier. Xem chú thích (135).
(137) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 158.
(138) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 158.
(139) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 140.
(140) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 163
– 164.
(141) Nguyễn Đắc Xuân, Hương giang cố sự (HGCS.),
giai thoại “Vạ miệng”, Tủ sách Sông Hương xb., 1886, tr. 31 – 33.
Chú thích xong vào lúc
10 giờ kém 15 phút,
ngày 19.02.2003 (19.01
Quư mùi HB.3).
TRẦN XUÂN AN
Hết
tệp 3
(PHÂN
ĐOẠN 3)
Trọn
TRUYỆN KÍ THỨ 11
Xin xem
tiếp tệp 4
(Phân
đoạn 4 truyện kí thứ 11)