Tệp
3
– Tập III
(PHÂN ĐOẠN 3 TRUYỆN KÍ THỨ 9)
TRẦN XUÂN AN
BẮC K̀,
TƯỞNG CHỪNG LẶP LẠI
Truyện thứ chín
(phân đoạn 3)
8
Bọn Pháp ngày
càng ngang ngược, tự tiện đi thăm ḍ các mỏ khoảng sản. Trong tháng giêng
Nhâm ngọ (1882), “tàu nước Pháp đến cửa biển Lục Hải tỉnh Quảng Yên,
t́m lấy than mỏ ở Hà Lầm” (75), “thuyền của hai phái viên nước Pháp đến
B́nh Định, Phú Yên khám đo cửa biển và vẽ đồ bản” (76) . Những tập tâu
từ các tỉnh đệ gửi về Viện Cơ mật – Thương bạc, khiến hiệp biện đại học sĩ
Nguyễn Văn Tường không khỏi bực bội. Bọn Pháp đang lộng hành, xem nước ta
như chỗ không người, không chỉ ở Nam Ḱ, đă đành đoạn bởi “hoà” ước, mà
c̣n ở Bắc Ḱ và cả Trung Ḱ!
Tháng hai
nguyệt lịch, ngày đinh tị, trời đất bỗng tối sầm.
Nhật thực
(77)!
Năm Tân tị
(1881) vừa rồi, sao chổi nhiều lần mọc rồi lặn. Năm nay lại nhật thực! Bao
người dân mê tín, không hiểu hiện tượng thiên nhiên, đâm ra hoang mang, lo
lắng, và có cả sự mê tín ngược lại, sao chổi sẽ quét sạch bọn Pháp khỏi
nước ta, và nhật thực là ư trời nhắc nhở ḷng người lo giữ thiên lương.
Tháng hai này,
ba linh mục Pháp lại sang “giảng đạo” ở một loạt tỉnh, từ nam tả ḱ
đến Bắc Ḱ: Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên, B́nh Thuận, Khánh Hoà, Quảng
B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên, Hà Nội, Ninh B́nh, Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên
Quang, Thanh Hoá, Nam Định (78)! Lại c̣n có cả “tàu thuỷ nước Xích Mao
[:Hồng Mao: Anh] đến cửa biển Cầu Mông [:Cù Mông, tỉnh Khánh Hoà] ḍ xét,
đo đạc, vẽ địa đồ” (79) !
Lănh sự Y Pha
Nho (Tây Ban Nha) tại Gia Định thuộc Pháp lại đệ thư tâu xin được tặng kim
tiền có dây buông xuống (80), trong khi thương ước đă kí kết vẫn không
tiến hành trong thực tế, khoản tiền “bồi thường chiến phí” ta đă điều đ́nh,
nhưng họ vẫn không trả lời. Phải chăng họ đề nghị được tặng kim tiền có
dây buông, vốn là một thứ kỉ niệm chương dùng để tưởng thưởng, nhằm đối
phó với ai đó? Nhưng lănh sự Y Pha Nho ấy đâu phải lănh sự quan hệ với
triều đ́nh Đại Nam! Bọn Pháp đang mua chuộc viên lănh sự Y Pha Nho, đang
giở tṛ ma mị ǵ đây?
Mối quan hệ
Đại Nam và Xiêm La (Thái Lan), sau chuyến đi sứ của Nguyễn Hiệp (Nguyễn
Trọng Biện) trước đây, vốn đă bị lănh sự Pháp tại Xiêm gây khó dễ một cách
vô lí. Ngay cả việc hoàng gia Xiêm muốn cử sứ sang nước ta đáp lễ, tướng
Pháp ở Gia Định cũng ngăn trở. Viện – Bạc đă phải vin vào điều khoản III
của “hoà” ước Giáp tuất, viết thư đấu tranh, biện thuyết với tên tướng
Pháp ấy. Đến nay, cuối tháng hai Nhâm ngọ (1881) này, Xiêm La mới phải
thuê chính tàu của Pháp chở phẩm vật sang đáp tạ (81)!
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường hơi yên tâm khi biết quan Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đang ra
sức chỉ đạo huấn luyện biền binh, rất nhiệt thành trong việc tổ chức pḥng
thủ ở cửa biển Thuận An và các đồn từ cửa biển ấy ngược lên theo ḍng sông
Hương: Trấn Hải, Hoà Duân, Hạp Châu, Hy Du, Hải Tŕnh, Lộ Châu, Thuỷ Tú,
Triều Sơn… Trong đó, có cả việc xây dựng hải đăng, “đặt đèn hiệu ở địa
phận hai xă Thuận Hoà, Quy Lai (thuộc Thừa Thiên) để cho thuyền quan
quân đi đêm nhận nhớ đường đi” (82) .
Đó là những
ǵ Tôn Thất Thuyết đang nỗ lực thực hiện trong khi Pháp đang mỗi lúc mỗi
tăng thêm sự ngược ngạo!
Nhưng sự
ngược ngạo của Pháp gây rúng động, phẫn nộ nhất không phải chỉ thế! Chúng
đă quyết bộc lộ trắng trợn ư đồ xé bỏ “hoà” ước và thương ước Giáp tuất
1874!
Cũng thượng
tuần tháng hai Nhâm ngọ (1882) ấy, “tướng nước Pháp phái tàu binh đến
Bắc Ḱ, nói phao là để đuổi quân Lưu Vĩnh Phúc và bảo vệ việc thông thương.
[Lănh sự khâm phái nước ta tại Gia Định là] Nguyễn Lập, mật đem việc ấy
tâu lên vua. Vua cho là phái viên nước Pháp muốn lấy Bắc Ḱ, chỉ mượn
tiếng là để đuổi đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc, ư sâu xa thực không thể lường
trước được; về [phía] ta cũng nên pḥng bị trước. Vua sai mật sao tờ tư
của Nguyễn Lập phát giao cho các tỉnh ([…]) đều biết” (83) .
Chiến thuật
đối phó vẫn là pḥng thủ theo kiểu hư binh, nhưng nếu cần, phải nổ súng:
“Phàm việc cần phải làm cho khéo, chớ nên làm có thanh tích [thanh:
tiếng tăm; tích: dấu vết]. Nếu có thể ngầm tiêu, lặng đổi được, cố nhiên
là tốt. Nếu chúng dám ngang trái, việc đến nơi, bất đắc dĩ, cho đều
tuỳ việc nên làm, để hết trách nhiệm giữ đất đai” (83) .
Mấy hôm sau,
thượng thư Tôn Thất Thuyết với nét mặt rất căm giận, đến t́m gặp thượng
thư Nguyễn Văn Tường tại công đường. Ngồi xuống ghế trường kỉ, nhấp một
ngụm trà nóng, ông nói:
- Bọn Pháp
quyết đánh ta! – Ông cau mày, lắc đầu, tỏ vẻ bực bội, uất ức và có chút ǵ
ngán ngẩm –. Nhưng đức vua vẫn nhân nhượng việc chúng đ̣i hỏi là đuổi Lưu
Vĩnh Phúc, nhằm “khỏi để cho chúng vin cớ để nói” (83) !
Một thoáng im
lặng khá lâu, thượng thư Nguyễn Văn Tường cố giữ vẻ thật điềm tĩnh, chậm
răi đến án thư, lấy bản sao sắc dụ, trở về ngồi ở trường kỉ. Ông chỉ tay
vào những ḍng chữ và đọc:
- Chắc quan
Bộ Binh đă đọc kĩ hơn tôi. Đây, ư nhà vua thế này: “Vả lại làm như thế,
thông thuyết cho nước ấy rút lui yên ổn th́ thôi. Nếu vượt qua [giới
hạn], cố ư sinh sự, th́ cho hai bên đều tự làm việc” (83) . Tôi
biết, ư nhà vua muốn để bọn Pháp và quân Lưu Vĩnh Phúc đương đầu với
nhau. Thật ra, đây là thế trận tôi rất tâm đắc, nhưng vận dụng thế này,
rất áy náy cho Lưu Vĩnh Phúc… Nhưng từ rất lâu rồi, Lưu Vĩnh Phúc là “hiệp
sĩ phi chính phủ, hành đạo trừ tà”, triều đ́nh chỉ luôn luôn ngầm ủng hộ
Lưu Vĩnh Phúc, nhất là khi cần thiết. Nhà vua cũng đă tham khảo ư Viện Cơ
mật – Thương bạc, tôi cũng đành phải đồng ư như những ḍng chữ này: “Về [phía]
ta, chiểu địa phận tự giữ, không nên can thiệp, đợi khi việc đến nơi, sự
thể thế nào, có nên làm th́ sẽ làm. Nhưng đó cũng là việc bất đắc dĩ. Nếu
làm cho hai bên đều bằng ḷng ít việc th́ hơn” (83) . Bởi lẽ, nhà
vua vẫn muốn “dĩ hoà vi quư”, mặc dù “hoà” trong thế phải nhân nhượng!
- Nhưng “cây
muốn lặng gió chẳng ngừng”!
- Tôi nghiên
cứu hết Bắc sử (sử Trung Hoa), Nam sử (sử Đại Nam từ cổ đến kim)… Trong
lịch sử nước Nam ta và lịch sử các nước lân bang quanh ta, đây là giai
đoạn suy trầm đau xót nhất. Không phải nước ta phải đối phó với một nước,
cho dù đó là nước đông dân, rộng đất nhất mà ta phải thường xuyên đối đầu
là Trung Hoa. Mấy mươi năm nay, thật ra hàng trăm năm nay, các nước da
trắng Âu Mỹ liên minh, cấu kết với nhau đi hiếp đáp, cướp bóc các lục địa
Á, Phi, Mỹ và cả châu Úc (châu Đại Dương)… Chúng ganh ghét nhau, nhưng
chia chác với nhau như một bầy chó sói trước bầy nai… Ta đánh được Pháp
là khó, nhưng nếu Pháp bại, sẽ có thằng giặc khác nhảy vào, như Đức, Nga,
Mỹ, chẳng hạn. Trong t́nh thế chung như vậy, chỉ có cách các nước Á,
Phi, Nam Mỹ, các nước châu Úc liên minh lại để cùng giúp nhau canh tân,
chế ra súng ống tối tân như bọn da trắng, luyện tập kĩ thuật quân sự hiện
đại… Nhưng mọi cố gắng liên minh của ta, Pháp đều ngáng trở, phá tan, li
gián! Canh tân lại cũng bị chúng ngăn chận. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường
nói –. Nhưng theo tôi, phải làm hết sức ḿnh với nỗ lực cuối cùng, về
ngoại giao, về canh tân, về quân binh, cho đến khi sức cùng lực kiệt, để
hết trách nhiệm ǵn giữ đất đai bờ cơi.
- Tôi cũng
đang làm hết sức ḿnh như quan Bộ Hộ vậy. Nhưng quả thật, đúng như quan Bộ
Hộ nói hôm nọ, đường lối của đức vua, “hoà” hay chiến vẫn chưa xác định
rơ! Và thật ra, thượng thư Trần Tiễn Thành vẫn đang giữ chức quản lí
sự vụ Bộ Binh. Mặc dù tôi đă là thự thượng thư Bộ Binh, tôi vẫn phải xin ư
kiến ông lăo ấy. Hoá ra, bao năm nay, công việc Bộ Binh, về mọi mặt, rất
đỗi tŕ đọng, lạc hậu, chỉ có một vài quân thứ ở Bắc Ḱ là khá!
Thượng thư
Tôn Thất Thuyết cố dằn lại nỗi uất hận. Thật ḷng, hơn lúc nào hết, ông
thấy Trần Tiễn Thành đúng là một kẻ buông xuôi, đầu hàng từ lâu và đến nay
vẫn tham quyền cố vị. Nhưng ông tự hiểu, chính ông cũng như thượng thư
Nguyễn Văn Tường, đều phải nhẫn nại. Trần Tiễn Thành vẫn đang được nhà vua
sủng ái, trọng dụng. Trần Tiễn Thành vẫn đang khuynh loát tất cả. Không
nhẫn nại, cả ông lẫn thượng thư Nguyễn Văn Tường, kể cả thượng thư
Phạm Thận Duật đều phải rời khỏi triều đ́nh. Tâu hặc Trần Tiễn Thành là
chuyện phải làm, nhưng đến lúc này thượng thư Tôn Thất Thuyết đang thu
thập các bằng chứng, các bằng chứng cũng đă gần đủ. Hiện vẫn có nhiều
người trong triều thần chống lại Trần Tiễn Thành, thậm chí nói ngay vào
mặt, nhưng y vẫn ĺ lợm.
Thượng thư
Tôn Thất Thuyết lại nghe thượng thư Nguyễn Văn Tường nói.
- Chúng ta
hăy làm hết tâm sức ḿnh trong giới hạn nhà vua ban cho. – Thượng thư
Nguyễn Văn Tường rắn giọng –. Quan điểm của tôi từ bao năm nay vẫn là
“Phải chiến đă, mới có thể hoà, hoà để thủ, thủ để mưu chiến. Như thế
mới hợp cơ nghi” (84) . Không chiến đấu th́ hoà có nghĩa là đầu
hàng hoàn toàn. Phải chiến đấu để dẫu có hoà cũng không đến nỗi bị
giặc ức hiếp quá đáng. Hoà như vậy là cầm cự để tăng cường pḥng
thủ. Canh tân công nghệ cũng là tạo lực lượng để pḥng thủ. Pḥng
thủ với lực lượng quân binh ngày càng hùng hậu để rồi chờ thời cơ. Khi
đủ thế lực và tạo được thời cơ, thời cơ xuất hiện, bấy giờ sẽ
chiến đấu để giành lại hoàn toàn độc lập và trọn vẹn non sông Đất nước.
Không chiến đấu th́ bọn giặc Pháp không đời nào nhả ra miếng mồi ngon
chúng đă ít nhiều ngoạm được. Ngay việc đàm cũng phải chiến. Không kháng
chiến th́ không thành công trong việc đàm phán.– Thượng thư Nguyễn Văn
Tường vẫn từ tốn, điềm đạm nói –. Nhưng, lúc này, chúng ta hăy làm hết
sức ḿnh trong giới hạn nhà vua ban cho.
Nhấp thêm một
ngụm nước, thượng thư Tôn Thất Thuyết gật đầu:
- Không c̣n
cách nào khác, nếu không nỗ lực tối đa như vậy.
Lần trao đổi
về t́nh h́nh cả nước, các lân bang và về nội bộ như thế vẫn thỉnh thoảng
được diễn ra giữa hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết.
9
“Lúc bấy giờ, nước Pháp phái tàu binh đến Hà
Nội, ḷng người kinh hăi, náo động. Thống đốc Hoàng Tá Viêm xin chọn một
viên đại thần có uy vọng đem [theo] lính kinh [đô, quân chủ lực], sung làm
kinh lược đến đóng ở Sơn Tây, đốc sức quân Tĩnh biên khẩn cấp đánh giặc
Khách để trấn áp”
(85)
.
Phải vừa đối phó với Pháp đang thực sự xâm lược, lại phải vừa đối
phó với bọn giặc Tàu (giặc Khách) lâu nay được vỗ yên, nhưng rất có khả
năng chúng lại thừa cơ ngóc đầu dậy!
Vua Tự Đức liền ra sắc dụ cho thái tử thái bảo, thượng thư Bộ Lại,
sung đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc Nguyễn Chính (Chánh) làm kinh lược
sứ Bắc Ḱ, cùng kinh lược phó sứ là hữu tham tri Bộ Hộ, kiêm quản Viện Đô
sát Bùi Ân Niên (Bùi Văn Dị, người Hà Nội). Hai vị ngay tức khắc nhận lệnh
lên đường (85). Đó là ngày 20 tháng 02 năm Tự Đức thứ ba mươi lăm (1882)
(86). Bản mật dụ gửi cho thống đốc Hoàng Tá Viêm cũng tương tự như lần mới
đây nhất: “Vạn bất
đắc dĩ phải điều quân vận lương [nghênh chiến], th́ đều phải làm ngay, chớ
để lỡ việc chút nào” (85) .
Về phía thực dân Pháp, cầm đầu bọn viễn chinh là Henry Rivière, một
tên nhà văn khá nổi tiếng ở nước Pháp và cũng là một tên thực dân khét
tiếng, với quân hàm đại tá. Vừa qua, y đă đàn áp một cuộc khởi nghĩa lớn
của nhân dân đảo Tân Ca Lê Đô Ni (Tân Đảo). Henry Rivière lại có tài bẻm
mép, vận động, thuyết phục được vua Norodom ở Cao Mên (Campuchia) giao cho
y được độc quyền lập công ti nha phiến! Cuộc xâm lược Bắc Ḱ do Henry
Rivière cầm đầu đă được chuẩn bị từ cuối năm ngoái, 1881. Ngày 03 tháng
04, năm 1882 này, y cùng tàu binh, quân viễn chinh ra đến Hà Nội. Henry
Rivière muốn
“qua đường Bắc Ḱ để vào Viện
Hàn lâm Pháp” (87)
, muốn thăng
đến chức vụ thuỷ sư đô đốc.
Hoá ra, lúc này, các nhà văn tại Pháp lại có kiểu tiến thân trên con đường
văn chương một cách phi nhân văn, đầy tính chất thực dân tồi tệ đến vậy!
Hoặc, đó chỉ là ư nghĩ, thủ đoạn của một thiểu số nhà văn thân chính quyền
thực dân đang cầm quyền tại Pháp. Bọn cầm quyền này đang ra sức lũng đoạn
Viện Hàn lâm, bằng cách dùng áp lực để đưa vào Viện Hàn lâm văn chương
Pháp những tên bồi bút mạt hạng như Henry Rivière!
Henry Rivière đến Hà Nội với một đoàn quân Pháp viễn chinh, khiến
con số từ một trăm (100), vốn đóng quanh Nha lănh sự trước đó, đă vọt lên
gấp năm lần (500).
Tên thực dân thống đốc Nam Ḱ Le Myre de Vilers, từ ngày 17.01.1882,
đă gửi thư cho Henry Rivière:
“Anh bắt quan triều đ́nh phải nhượng đất để đóng
thêm đồn, kiểm soát cả Hồng Hà. Nếu họ không cho th́ lấy càn, không phải
đếm xỉa tới họ, khi anh thấy là cần thiết. Và tôi tin rằng họ không kháng
nghị ǵ lắm đâu” (88).
“Đối với
chúng ta, th́ Cờ Đen là cướp. Anh phải đối phó với họ như đối phó với
cướp, nếu họ ngăn trở anh. [Hăy] bắt chúng, gửi về Sài G̣n, tôi sẽ đày
chúng đi [đảo] Côn Lôn”
(88) .
Tên bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp, Jauréguiberry, viết văn
thư đệ gửi tên cầm đầu chính phủ Pháp, Freycinet, vào một tháng sau ngày
Henry Rivière cùng tàu binh cập bến Hà Nội, mùng 04 tháng 03.1882:
“Để đạt mục đích, không cần phải chiến tranh, v́ lẽ
rằng, trước mặt chúng ta, không có một lực lượng nào có sức kháng cự lại”
(89)!
Nguyên khâm phái lănh sự Nguyễn Thành Ư, không thể cùng Nguyễn
Trọng Hợp sang Pháp như kế hoạch Viện – Bạc vạch ra. Ông liền được chỉ dụ
vào lại Gia Định với nhiệm vụ thương thuyết với tướng Pháp, Le Myre de
Vilers. Ông đang nhận trách nhiệm trong t́nh huống sống mái này, khác nào
đang thực hiện “nghĩa [vụ] giao làm con tin, hiến thân cho
triều đ́nh” (90) !
Ở Hà Nội, tổng đốc Hoàng Diệu, tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, bố chính sứ
Sơn Tây Nguyễn Đ́nh Nhuận mật bày kế sách pḥng thủ: “Cho thượng du mạnh
mẽ để giữ trung
châu. Chúng [:Pháp] tiện ở đường sông, không tiện ở đường núi, th́ chúng
cũng biết là khó [thắng nổi ta] mà không dám động”
(91) . Và Sơn Tây đă được xác định là địa điểm trọng yếu nhất. Kinh lược
sứ Nguyễn Chính sẽ đến đóng tại đấy (91).
Thực dân Pháp không bỏ lỡ việc lợi dụng giáo dân Thiên Chúa giáo
trong cuộc xâm lược Bắc Ḱ lần thứ hai này. Các tên thực dân cố đạo “tả
đạo” cũng đă chuẩn bị phối hợp với Pháp:
“Tàu thuỷ nước Pháp (03 chiếc) bỏ neo ở phận biển Ni
Sơn (thuộc tỉnh Ninh B́nh). Lại có tàu thuỷ nhỏ đi đến nhà thờ [Thiên Chúa
giáo], mượn thuyền của dân san chở đồ vật. Nhân dân sợ hăi” (92).
“Tháng ba, […] nước Pháp phái tàu binh đến thêm [ở]
Hà Nội, và liền đến bỏ neo ở phận sông tỉnh Hải Dương, Nam Định, Ninh
B́nh. Ḷng người sợ hăi xôn xao” (93) .
Các quan tỉnh lấy “hoà” ước, cứ xem như tín ước, để trách cứ quan
binh Pháp. Nha Thương bạc ở Huế cũng trách cứ khâm sứ thực dân Rheinart. Y
bảo: “Phải thản nhiên, mới
khỏi hiềm khích” (93). Rheinart vờ vịt để bọn viễn chinh Pháp
ở Bắc Ḱ dàn xong thế trận! Sau đó, y c̣n bảo: “Việc ở Hà Nội,
sợ không thôi” (93), “lại muốn từ chức, về nước” (93)
!
“Vua [Tự Đức] biết ḷng độc ác của nước ấy đă lộ ra, thở
dài nói rằng: “Việc ấy hai mặt đều khó. Không dự [tính] trước th́ mắc mưu
họ; dự [tính] trước mà không thích đáng cũng vô ích. Chỉ [trông] ở người
hào kiệt, dự bị mà không lộ h́nh tích, [khi] động có việc, cũng đối phó
được. Thế là tốt. Không nên lấy lời nói truyền đi [phao tin đồn, gây hoang
mang]””
(93) .
Thật ra, ḷng dân và cả quan đều đă rất hoang mang, xao động, và
cũng không phải không có sự b́nh tĩnh đối phó. Hoàng Tá Viêm muốn đưa quân
về Hà Nội (94). Trương Quang Đản muốn điều quân biên giới về Bắc Ninh
(94). Phỉ Tàu rất có khả năng lại ngóc đầu dậy. Đến lúc này, quân Nguyễn
Chính vẫn chưa kịp đến Sơn Tây (94)!
Các đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn
Tường và Phạm Thận Duật, được vua Tự Đức triệu đến Điện Cần chính.
“Vua bảo các quan Viện Cơ mật và Thương bạc rằng:
“Bọn ngươi
[đích] thân đảm đương việc ấy sẽ làm thế nào?”.
Tâu rằng:
“Vừa rồi, sai
hai tỉnh Hà Nội, Hải Dương [ngoài việc quan quân đóng trong thành, lại đă
chia ra,] uỷ quan đóng ở ngoài thành, cùng là một việc cần pḥng giữ. Nay
xin ở trong th́ sửa sẵn binh đinh, súng đạn, khí giới; ở ngoài th́ mật kết
thân hào, đoàn kết con em. Lâm thời th́ trong, ngoài giúp nhau, làm nhiều
cách đánh lừa giặc. C̣n như các việc ngăn lấp sông nên thôi, cho giặc khỏi
ngờ mà ḿnh chịu lỗi”.
Vua bảo rằng:
“Chúng cậy tàu thuỷ làm tính mạng. Các tỉnh nếu đều mật dự ổn thoả cả, nếu
chúng có làm bậy ở một tỉnh, th́ ở đường sông tàu của chúng thường đến,
[nên phải] chọn chỗ nông hẹp đem lấp ngay, th́ trong, ngoài không thông
được với nhau, chúng chẳng bị khốn [là ǵ], c̣n đợi ǵ! Duy làm việc ấy
cốt ở người [kín đáo, biết giữ bí mật], cốt hợp thời nghi mà thôi, không
nên vội vàng lầm lỡ”.
Nhân sai lục
sức [:truyền thông] cho các tỉnh biết”
(95) .
Viện – Bạc lại bàn cách lấp sông theo h́nh ngũ điểm,
“h́nh nanh sấu”
(96)
:
ª ª ª ª ª ª ª ª ª
+ ª ª ª ª ª ª ª ª +
ª ª ª ª ª ª ª ª ª
Đá vốn lâu nay chứa sẵn ở thuyền, nay đục thuyền, cho thuyền ch́m
xuống theo h́nh ngũ điểm ấy, để khỏi gây úng lụt và không trở ngại cho
thuyền ghe vận tải, đi lại cỡ nhỏ của dân.
Lập tức, tăng
cường ngựa trạm ở các cung đường (97).
Thượng thư Bộ
Hộ tâu xin cho lính kinh đô (chủ lực) được lănh trước nửa tháng lương
(98). Đó cũng là một cách động viên, chuẩn bị tinh thần chiến đấu. Thượng
thư Tôn Thất Thuyết tâu xin rút hai ngàn bốn trăm bộ binh (2.400 lính đánh
trên đất liền), vốn đang làm việc ở các nơi về Huế, tuyển chọn quan vơ để
huấn luyện họ thêm, trên các vùng đất phía tây nam kinh thành vốn được sử
dụng làm thao trường (99)… Thượng thư Bộ Lại tuân chỉ bổ nhiệm mười người
Nam Ḱ ra vùng tị địa tại B́nh Thuận theo lời tâu của điển nông sứ Khánh
Hoà Phan Trung (100)…
10
Bọn Pháp viễn chinh cùng tàu chiến của chúng lại tiếp tục đến thêm,
cập bến ở Cơ Xá (Hà Nội) (101). Chúng hằng ngày ra sức khiêu khích quân và
dân ta. Những tên sĩ quan phái viên Pháp cũng hằng ngày dẫn quân của
chúng, có trang bị khí giới, diễu qua diễu về, đi lại ở ngoài thành luỹ,
nói phao lên là hẹn ngày vào đóng trong thành một cách ngạo mạn (101).
Tổng đốc Hoàng Diệu, người Quảng Nam. Ông nỗ lực tổ chức, bố trí
pḥng bị nghiêm ngặt. Những tên phái viên Pháp nằng nặc đ̣i triệt bỏ các
điểm đặt súng pḥng thủ. Tất nhiên, tổng đốc Hoàng Diệu không đời nào nghe
theo yêu cầu của bọn chúng. Ông cứ điềm tĩnh động viên quan quân chuẩn bị
chiến đấu.
Mùng tám tháng ba nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi lăm, Nhâm ngọ
(25.04.1882), Henry Rivière gửi tối hậu thư đến tổng đốc Hoàng Diệu với
những lời lẽ, điều kiện xấc xược:
“Tôi đề nghị ông giao thành, theo những điều kiện
mà tôi nói ngay đây. Ngay ngày hôm nay, ngay sau khi tiếp được thư này th́
ông phải ra lệnh cho quân đội ông rời khỏi thành, sau khi đă hạ hết khí
giới và mở cửa thành. Để làm cho bản chức [là tôi] tin rằng ông thi hành
những điều tôi đ̣i hỏi, th́ ông phải nạp ḿnh cho tôi. Cả các ông tuần
phủ, quan bố [chính], quan án [sát], đề đốc, chánh lănh binh và phó lănh
binh đều phải đến nạp ḿnh ở dinh bản chức đúng 08 giờ sáng” (102) .
Tổng đốc Hoàng Diệu liền uỷ nhiệm án sát sứ Tôn Thất Bá ra ngoài
thành thương thuyết, nhằm hoăn binh. Tôn Thất Bá vừa ra khỏi thành, quân
Pháp liền nổ súng tấn công ngay (101).
Tổng đốc Hoàng Diệu cùng tuần phủ Hoàng Hữu Xứng (người Quảng Trị)
chia đường đốc thúc quân sĩ chống lại những đợt tấn công với hoả lực rất
mạnh, có sức công phá dữ dội của thực dân Pháp. Ba chiếc chiến hạm của
Pháp nă súng đại bác liên tục. Quân ta vẫn kiên cường chiến đấu. Cuộc
chiến đấu diễn ra rất lâu. Phía Pháp, có nhiều tên bị bắn chết hoặc bị
thương. Phía quân ta, cũng ngă xuống một số quân. Những người lính Đại Nam
yêu nước ấy đă dũng cảm hi sinh, bị tử trận hoặc bị thương tích (101).
Bỗng dưng, kho thuốc súng bị công phá, bùng nổ, cháy rực một góc
thành (101). Quân ta không khỏi bị rối loạn hàng ngũ chiến đấu. Bấy giờ,
Henry Rivière mới trực tiếp ra trận. Y chỉ ra trận khi đă nắm chắc phần
thắng và ít c̣n khả năng bị trúng đạn! Henry Rivière dương quân ở cửa đông
nhưng thực ra y đánh mạnh vào cửa bắc. Bọn viễn chinh Pháp đă chuẩn bị sẵn
bốn mươi chiếc thang, bắc vào thành, leo lên, vượt thành vào bên trong.
“Trong thành, quân ta [vẫn] bắn trả.
Nhân dân tự thiêu huỷ các phố nhà lá, nhà gỗ thành một bức tường lửa, ngăn
cản sự tiến binh của địch và buộc địch mấy lần phải dời ổ đại bác. Nhưng
lửa cháy không được lâu. Tường lửa hạ xuống. Quân địch băng qua chiến hào
đầy nước và bùn”
(103) .
Thành bị mất, sau khoảng tám tiếng đồng hồ quyết tử (từ giờ măo [05
– 07 giờ] đến giờ mùi [13 – 15 giờ]).
Tổng đốc Hoàng Diệu đi lẫn vào đám quân hỗn loạn, đến tại hành cung,
nơi nhà vua khi tuần du ra Bắc thường ngự giá tại đấy, xem đó như biểu
trưng của hoàng đế. Ông rơi nước mắt, bái tạ, và nói: “Sức thần đă hết
rồi” (104)
. Sau đó ông đi thẳng đến Đền Quan Công, biểu tượng của ḷng
trung nghĩa, ở góc tây bắc, phía trong thành, tự thắt cổ dưới gốc cây to
để biểu lộ khí tiết và theo đúng quân luật nhà Nguyễn. Tổng đốc Hoàng Diệu
tuẫn tiết lúc đang tuổi năm mươi tư!
Trong khi đó, đề đốc Lê Văn Trinh, bố chính Phan Văn Tuyển, lănh
binh quan Lê Trực, hai phó lănh binh quan Hồ Văn Phong và Nguyễn Đ́nh
Đường đều chạy thoát ra khỏi thành (101).
Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng vẫn đi t́m hỏi tổng đốc Hoàng Diệu. Không ai
biết tổng đốc ở đâu. Ông vào thềm bên phía trái hành cung, bỗng tên sĩ
quan Pháp xuất hiện với quân lính của y. Y ra lệnh bắt Hoàng Hữu Xứng.
“Phái viên nước Pháp muốn lấy lễ độ dụ [Hoàng Hữu]
Xứng. [Hoàng Hữu] Xứng không chịu khuất phục, chửi mắng hắn. [Ông] cũng
không bị giết. Rồi [hắn] sai đem [Hoàng Hữu] Xứng về Dinh Tuần phủ cũ giam
lại.
Sau rồi phái
viên nước Pháp đón [Tôn Thất] Bá về, giao tỉnh thành cho. [Trước đó,] [Tôn
Thất] Bá chạy đến xă Nhân Mục [ngoài thành cổ Hà Nội]. [Lúc này, Tôn Thất]
Bá vào thành cùng [bàn] với [Hoàng Hữu] Xứng. [Hoàng Hữu] Xứng có bàn tạm
nhận” (101).
Đó là kể vắn
tắt. Sự thể nhận thành vốn diễn ra thế
này:
“Lúc ấy,
[Hoàng Hữu] Xứng đă nhịn ăn [:tuyệt thực] thành ốm. [Tôn Thất] Bá mời
[ông] vào [thành], [Hoàng Hữu] Xứng lại [từ] chối ngay. [Tôn Thất] Bá hai
lần khóc, nói sự lợi, hại. [Hoàng Hữu] Xứng lại nghĩ, không tạm nhận
[thành], sợ [t́nh h́nh] thêm khó [ra], nhân [thế] cũng gượng dậy, nghe
theo. Nhưng [ông lại] bàn [chỉ] do [Tôn Thất] Bá nhận một ḿnh, mà [ông
cũng] cùng kí tên, [thông] tư cho Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính [:Chánh]
cùng các tỉnh láng giềng: Xem [t́nh] thế có thể thừa cơ được, nên làm
[:đánh] ngay th́ làm [:đánh], chớ lấy [việc] nhận thành làm ngại. Và [hai
quan tuần vũ, án sát Hà Nội] đem việc [nhận thành] ấy nhận tội, tâu lên
[:tâu vào kinh đô].
Nhưng quân
Pháp [mặc dù nói là trả thành, chúng] vẫn đóng giữ ở hành cung [trong
thành]” (101).
Chúng
“lại phá cửa thành, vận tải súng đạn, khí
giới…” (105)
.
Henry Rivière hí hửng khi biết tổng đốc Hoàng Diệu đă tuẫn tiết. Y
liền phúc tŕnh vào cho Le Myre de Vilers:
“Sáng 20.04 [1882, chính xác là 25.04.1882], chúng
tôi được tin ông tổng đốc thắt cổ. Ông ấy là người b́nh tĩnh và kiên
quyết. Nay ông chết là lợi cho ta lắm. Cái can đảm và cái ảnh hưởng của
ông, nếu ông sống, chắc hẳn là gây nhiều rắc rối cho ta, nhất là nếu ông
liên kết với Hoàng Tá Viêm ở Sơn Tây” (106) .
Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, lúc đă cam đành phải nhận lại thành, ông
không thể không nghĩ ngợi. Bằng bao nhiêu nếm trải thực tiễn và học tập từ
sách vở, huấn dụ, ông biết, triều Nguyễn vốn có một khoản quân luật rất
nghiêm là phạt rất nặng những quan, những tướng để mất thành, bị thất
trận, và khen thưởng rất trọng cho những ai tử tiết. Do đó, hầu như phải
tự sát, nếu tướng, quan nào rơi vào trường hợp ấy. Điều đó buộc tướng và
quan phải có tinh thần trách nhiệm cao độ, phải thể hiện khí tiết. Tuy
nhiên, mặt hạn chế cần nhận ra: Nhiều tướng cũng như quan có tài năng lớn,
trong thế yếu, thất cơ, hoặc bị nội ứng, là phải tự sát. Các tướng và quan
cỡ ấy lại khó t́m được người để thay thế! Do đó, trong điều kiện vũ khí
quân đội triều đ́nh nhà Nguyễn quá lạc hậu, tướng tài, quan giỏi lắm khi
phải tử tiết một cách khá oan uổng. Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng lại nghĩ: Bản
triều nhà Nguyễn đă nhiều lần từng nghị xử những trường hợp thất trận, mất
thành, và đều nghị xử thật cẩn trọng từng trường hợp một, không phải
trường hợp tự sát v́ thất trận, để mất thành nào cũng được đề cao, thậm
chí lại c̣n kết án, truy đoạt chức hàm. Tuy nhiên, v́ mặt tích cực kia
(trách nhiệm cao, khí tiết lớn), nên bản triều nhà Nguyễn hẳn vẫn tôn vinh
những tấm gương tuẫn tiết như Hoàng Diệu.
Ông cảm thấy tự ḿnh đă đủ dũng khí để chửi vào mặt giặc, đă chấp
nhận cái chết tuyệt thực để giữ khí tiết như quan Vũ hiển điện đại học sĩ
Nguyễn Tri Phương, cũng tại thành Hà Nội này, chín năm về trước. Nhưng chỉ
một phút yếu ḷng trước lời bàn bạc của án sát Tôn Thất Bá, ông đă viết
thông tư cho thống đốc Hoàng Tá viêm cùng các quan tỉnh khác, đồng thời
viết tập tâu nhận tội, đệ gửi vào triều đ́nh. Mặc dù trong các bức thư,
ông đều có viết, “xem [t́nh] thế có thể thừa
cơ được, nên làm [:đánh] ngay th́ làm [:đánh], chớ lấy [việc] nhận thành
làm ngại” (101)
, các bức
thư và tập tâu ấy
ít nhiều cũng tạo nên ảo tưởng Pháp sẽ lại tiến hành như hồi năm Quư dậu
(1873)?!? Do đó, sĩ khí và việc pḥng thủ, phản công có phần vơi bớt
chăng?!? Phải chăng, như người ta nói, Tôn Thất Bá đă bị thuyết phục bởi
những tên phái viên Pháp, lúc Tôn Thất Bá chạy đến trú tại xă Nhân Mục?
Ông không rơ, không có bằng cớ nào để buộc tội như vậy. Phải chăng
Tôn Thất Bá sợ chết, nên bị Pháp dụ dỗ, và y đă thông
đồng với
Pháp, chạy ra ngoài thành trước khi Pháp tấn
công? Và
phải chăng quả thực Pháp đă đợi đến lúc Tôn
Thất Bá ra khỏi thành rồi, chúng mới nổ súng? Đúng là xưa nay, những kẻ
thông đồng với giặc khi giặc tấn công thành tŕ, đều cố t́m cách chạy ra
khỏi thành trước phút chúng tấn công, v́ tên bay đạn lạc, lúc giặc tấn
công, làm sao tránh được! Hay Tôn Thất Bá đă tự nguyện xin tổng đốc Hoàng
Diệu ra khỏi thành để thương thuyết với giặc, rồi thoát thân trước khi bọn
Pháp nă đại bác tấn công? Không rơ. Hoàn toàn không rơ. Hoàn toàn không có
bằng chứng nào ngoài việc ấy. “[Tổng
đốc Hoàng] Diệu uỷ án sát Tôn Thất Bá ra ngoài thành để thương thuyết”
(101) kia mà! Nhưng ông tự hỏi, tại sao
ông xiêu ḷng, khi Tôn Thất Bá hết lời năn nỉ? Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng cảm
thấy vô cùng hối hận trong những ngày nhận lại thành Hà Nội từ tay giặc
Pháp.
Khoảng gần hai tháng sau, vào đầu tháng năm Nam lịch, tuần vũ Hoàng
Hữu Xứng cùng các quan tỉnh Hà Nội nhận được sắc dụ của vua Tự Đức trong
nỗi chua xót xen lẫn niềm ăn năn, xấu hổ. Tuy nhiên, trong số quan văn, vơ
Hà Nội ấy, tuần vũ Hoàng Hữu Xứng vẫn chói sáng lên trong chừng mức nhất
định một nhân cách kẻ sĩ, một vị quan yêu nước và đủ dũng cảm để bày tỏ
khí tiết. C̣n sự thật về Tôn Thất Bá và các quan khác trong sự biến thất
thủ thành Hà Nội lần thứ hai này?
“Dụ rằng: Vừa rồi Hà Thành có việc, Hoàng Diệu
quyết chí cố giữ, thà chết không hai ḷng. Các quan chính nên cố sức làm
việc đến chết, mới hợp nghĩa hiến thân cho nước. Thế mà hết ḷng trung
chết v́ tiết nghĩa, chỉ có một ḿnh Hoàng Diệu. Bọn [quan vơ] Lê Văn Trinh
[, Hồ Như Phong, Nguyễn Đ́nh Đường, Lê Trực] đều là quan to một tỉnh, sợ
chết, tham sống, bỏ thành chạy trốn. Phan Văn Tuyển lại trốn trước, đến
Sơn Tây, th́ hèn nhát, không tài quá lắm. Hoàng Hữu Xứng tuy không ra khỏi
thành nhưng không biết sống thác với thành. Tôn Thất Bá ra ngoài thành
thương thuyết lại cùng
với chúng dần dà trốn khéo. Quan giữ đất đai, gặp khi
hoạn nạn, há nên như thế! [Tất cả] đều phải [bị] cách chức trước, trói
giải ngay về kinh, [để được] xét rơ, tâu lên” (107) .
Đến tháng tư nguyệt lịch năm Quư mùi (1883), triều đ́nh
“truy tặng hàm phó
quản cơ cho suất đội Hà Nội là Đỗ Đăng Lân (ấm thụ cho con hoặc em hay
cháu một người làm chánh cửu phẩm bách hộ). V́ khi Hà Thành thất thủ, [Đỗ
Đăng] Lân bị người Pháp giết chết, cho nên truy tặng hàm ấy” (108)
.
Hà Nội thất thủ lần thứ hai! Nỗi đau và niềm bi tráng!
Rút kinh nghiệm “tự lật tẩy” của một vạn hai (12.000)
“lính bản xứ”
phản quốc
lần trước, lần này, chỉ có năm mươi
(50) khẩu súng Henry Rivière trao cho cố đạo giám mục Puginier, một tên
thực dân cáo già khoác áo tu sĩ (109)! Người ta không hiểu v́ sao tên cố
đạo cáo già thực dân này không bị nhân dân chấp nhận “mạng đổi mạng” hoặc
ám sát, nếu không biết rằng y được giáo dân và thực dân Pháp bảo vệ như
thế nào!
Hà Nội, nỗi đau thất thủ lần thứ hai, đau đớn nhưng không nhục nhă
và đốn mạt như lần trước, bởi lần này hầu như vắng bóng những tên nhục nhă
và đốn mạt như 12.000 tên vô lại phản quốc, hầu hết đă bán linh hồn cho
“tả đạo”, mang chiêu bài “phù Lê” dạo ấy!
11
Thự thượng thư Bộ Binh kiêm hải pḥng sứ kinh ḱ Tôn Thất Thuyết tuy
không được dự chính thức các cuộc họp của Viện Cơ mật – Thương bạc, nhưng
với chức trách nắm giữ toàn bộ binh quyền trong tay, ông vẫn tham dự các
cuộc họp Viện – Bạc những khi cần thiết, được triệu mời. Trong các buổi
thiết triều, cứ ngày cách ngày, ông có dịp tấu tŕnh trước đ́nh thần và
nhà vua. Trong các cuộc đ́nh nghị, tiếng nói của thượng thư Bộ Binh Tôn
Thất Thuyết vẫn thường cất lên.
Thượng thư Tôn Thất Thuyết đă có hai người đồng chí chủ chiến trong
Viện Cơ mật – Thương bạc, đó là Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật.
Tôn Thất Thuyết thường đến gặp hai vị thượng thư kiêm sung đại thần
Viện – Bạc ấy để bàn bạc việc quân cơ và các vấn đề khác trong thời điểm
dầu sôi lửa bỏng này.
Ở công đường Bộ Hộ, vẫn ngồi đối diện trước bàn nước, trên hai chiếc
trường kỉ, ba đại thần có chung một thời trận mạc tiễu phỉ ở phía bắc
thường đàm luận với nhau. Những ư kiến chỉ đạo cũng thường nảy sinh ở đó.
Vẫn là nước trà thơm bốc khói trong ba chiếc chén màu lam Huế, đặt
trước mặt ba người, nhưng lúc này là ban đêm, tiếng trống canh một đă điểm
từ lâu, bóng tối đêm đầu hạ đă khoả kín, tiếng ve sầu đă thôi trỗi lên,
lan toả trong gió.
- T́nh h́nh Bắc Ḱ, nhất là Hà Nội, thật chua xót quá sức! Súng đạn
của bọn Pháp chiến thắng Hà Nội, chứ thật ra, làm sao lần nào cũng thất
thủ nhanh đến thế! – Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói –.
- Kinh lược sứ Nguyễn Chính đă được sắc dụ điều động về Mỹ Đức hoặc
Nho Quan rồi (110). Và sắc dụ pḥng thủ bí mật đă ban ra khắp cả nước
(111). Quan hiệp biện hưu trí Trần Đ́nh Túc cũng đă ra Hà Nội làm khâm sai
đại thần, phối hợp với tĩnh biên phó sứ Nguyễn Hữu Độ, vừa được chỉ sung
làm kinh lược phó sứ, để nhận lại thành Hà Nội (112). Tiếp đến, Hoàng Hữu
Thường, Vũ Nhự cũng đă ra Bắc để giúp sức (112). Ta đang chờ diễn biến mới
đoán định rơ… Có phải như thế? – Thượng thư Phạm Thận Duật nói –.
Thượng thư Tôn Thất Thuyết đăm chiêu. Ông nói:
- Hôm đ́nh nghị vừa rồi, ai cũng bảo chính tên Rheinart và bọn Suư
phủ Pháp giảo quyệt, vờ nói trả thành, nhưng chúng vẫn đóng giữ ở hành
cung trong thành một cách phạm thượng! Đoàn khâm sai lần này không khéo
mắc mưu bọn chúng! Chỉ là do chúng ta thực lực chưa chuẩn bị kịp!
-
“Thống đốc Hoàng Tá Viêm, kinh lược Nguyễn
Chính, Bùi Ân Niên dâng sớ xin đánh” (113)
. Đây là
những ḍng
chữ trong tập tâu của ba quan viên ấy. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường lấy
các bản sao từ ống đựng công văn ra –. “… Liền
đánh phá, liền giao trả lại” (113)
, bọn Pháp
“lại tuyên ngôn: Chỗ nào pḥng bị, chúng tất gây chuyện! Khinh nhờn đến
thế, ai không đau ḷng” (113)
! Bọn Pháp
“cứ mười năm đổi [“hoà”] ước một lần. Mỗi khi đến ḱ định ước th́ chúng
đem quân để doạ, phá thành trả thành; chẳng qua doạ bằng oai để thoả ḷng
mong muốn. Xem ư nước ấy [:Pháp] [yêu sách] đặt thêm thương cục ở Vị Giang
tỉnh Nam Định và Bạch Hạc ở Sơn Tây, khiến cho ta không thi thố ǵ được.
Các tỉnh hèn nhát thuận theo, th́ [chúng] lấy như giở bàn tay.
[Tỉnh nào] hơi có pḥng giữ nghiêm chỉnh th́ [chúng] cố sức đánh. [Bọn
Pháp] không lấy được cả toàn hạt
Bắc Ḱ không thôi, ư ấy [của chúng] đă lộ ra tất cả. Nếu dùng dằng ở chỗ
ấy, cũng được tạm thời yên; chỉ sợ dầm ngấm vào mưu chúng, lại để vua phải
lo nghĩ mà thôi. Bọn tôi
xét kĩ t́nh thế, nên đánh một trận rồi mới hoà, hoạ là có thể ngăn được
ḷng tham của chúng… […] … Nếu mọi
việc [chúng] chỉ giữ trịch thượng, bọn tôi nhờ uy đức của nhà vua, cổ động
quân dân, người giữ th́ hết sức giữ vững, người đánh th́ chia đường hợp
sức cùng đánh. Cốt giết hết tất cả để rửa thẹn trước” (113)
. – Thượng
thư Nguyễn Văn Tường
nói –. Và đây là châu phê của nhà vua: “Sao lúc mới
nghe Hà Thành có việc, [các ngươi] không vây ngay mà đánh, cho [chúng]
biết bó tay. Nay [chúng] đă giao trả, [ta] đánh, tất [chúng] đổ lỗi cho
ta, lại ngăn trở cơ hội không sớm được yên. Và đánh, tất phải dùng quân họ
Lưu [Vĩnh Phúc], càng thêm cho chúng giận, khó giảng giải. Huống chi chúng
vốn hay tức giận, chỉ mượn uy doạ nạt cầu cho được việc. Nay nếu bức bách,
sợ chúng phát làm
bậy, [th́ ta muốn] giữ, [cũng] không giữ được. Nay hăy
sửa sang thanh thế, xem chúng có cầu [:yêu sách] quá đáng hay không. Việc
[buộc chúng] bồi thường [thành Hà Nội] được vừa phải th́ thôi [:ngừng
chiến]. Không th́ đem quân mà đánh. Đến thế là chúng tự làm ra, khó nói
gượng để gỡ trách nhiệm được”
(113) . Trần Đ́nh Túc và gă Nguyễn Hữu Độ cũng đều tâu nói “hai mang”
[:nước đôi] như vậy! Tôi đă đọc nhiều tập tâu của quan tỉnh, quan quân
thứ và các châu phê của nhà vua, rốt lại là thế!
- Chiến hay “hoà” vẫn không dứt khoát, không xác định rơ ràng ǵ cả!
Đúng như chữ nhà vua dùng, đều là “hai
mang”
[:nước đôi]
. – Thượng
thư Tôn Thất Thuyết nói –. “Đ́nh thần xin theo [ư quyết đánh] chuẩn cho
làm ngay [:đánh ngay], Các thần xin cả nước đánh ồ ạt” (114)
. Đ́nh thần
là chúng ta
đây, Các thần là các quan Nội các, tất cả đều quyết tâm
đánh.
Nhưng quyết định cuối cùng không phải là ai khác… – Thượng thư Tôn Thất
Thuyết muốn nói đến vua Tự Đức, mà kẻ được vua tin cậy nhất, đó là Trần
Tiễn Thành, dù ông ta đă bị kèm chặt bởi hai thượng thư chủ chiến là
Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật –.
Ngẫm nghĩ, hết sức dè dặt, thượng thư Nguyễn Văn Tường nói:
- Thật ra, tôi hiểu ư nhà vua, nếu đánh hẳn sẽ khó giữ được toàn
vẹn. Nhà vua có thể đă có chủ định sẽ nhân nhượng thêm. Quan Thương bạc
Nguyễn Trọng Hợp đă được tên khâm sứ Rheinart đề nghị một phụ ước “bảo hộ”
(115), như ở Tunysie, cho “hoà” ước Giáp tuất 1874… Nhưng nhà vua không
chịu. Tôi và tất cả chúng ta đây không đời nào chịu. Ta càng nhân nhượng,
chúng càng lấn tới! Chiến đă, mới
có thể hoà. Nói như thống đốc Hoàng Tá Viêm mới đây,
phải đánh cho chúng nhụt bớt cuồng vọng, mới “hoà” được, nếu ở thế yếu,
buộc phải cắn răng chịu “hoà”! – Ngừng lại, thượng thư Nguyễn Văn Tường
nói tiếp –. Theo ư tôi, tôi đă và
đang ra sức vận động Trung Hoa, để họ đưa quân sang.
Khi quân
Trung Hoa nhà Thanh sang rồi, ta quyết chiến mới vững chắc thế trận hơn.
Hai vị nghĩ như thế nào?
- Sợ có muộn lắm không? – Thượng thư Phạm Thận Duật nói –.
- Tất nhiên ta phải tự lo là chính. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường
đáp –. Nhưng nếu có quân Thanh yểm trợ, sẽ vững hơn. Cực ḷng mới vậy!
Quân Thanh sang nước ta, cũng rắc rối và khổ dân lắm. Nhưng nói chung,
không có cái ǵ thật sự hoàn hảo, được cái này, mất cái kia. T́nh thế vậy,
tương quan lực lượng vậy, th́ được cái lớn, mất cái bé, cũng đành tạm thời
chịu vậy. Quân Thanh gây rắc rối và khổ dân, đó là cái bé phải đau ḷng
chấp nhận, nhưng ta được sự yểm trợ mạnh, cũng yên tâm. Bất đắc dĩ phải
nhờ cậy như thế… Tôi cũng đă nghĩ đến thế trận “đối trọng, trung lập”
sau đó. T́nh huống thế, th́ phải thế.
Ba vị đại thần suy nghĩ.
Một lát, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại hỏi:
- Nhà vua đă có chiếu chỉ triệu Ông Ích Khiêm ra kinh đô (116). Tôi
đă hứa với ông ấy, sẽ cùng ông ấy làm việc ở Bộ Hộ. Đó là một cách tăng
cường thêm những người tâm huyết. Không biết lần này ông ấy có phạm lỗi
nữa không… Tôi cũng rất mừng khi quan thượng thư Bộ Binh đây đă tăng cường
pḥng thủ, mặc cho tên Rheinart một, hai đ̣i ta phải buông xuôi…
- Ở Bộ Binh, phải đấu tranh với quan lớn Trần Tiễn Thành rất gay gắt
mới được thế. – Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói –. Pḥng thủ theo chiến
thuật hư binh cũng phải pḥng thủ, chứ đâu phải là buông xuôi, “xuôi tay
cho mệ [:cọp] nuốt”! Tôi vẫn rất tâm đắc tập tâu của Lâm Hoành, trong đó
có câu: “Vả
lại lo ở [:về nạn] nước ngoài đến nay, đă hơn hai mươi (20) năm, [nói theo
thành ngữ], “việc pḥng bị trước khi mưa [:giặc đến]”, vẫn c̣n sơ sài.
Chức vụ ở đâu? Không nghiêm trị bằng quân luật, sợ sau này không răn chừa,
việc quân việc nước c̣n ra sao?” (117) .
Trong những tháng ngày này, tên khâm sứ Rheinart cũng hết sức xấc
láo. “Khâm sứ đóng ở kinh là Rheinart đưa
thư nói việc pḥng bị cửa biển Thuận An, lời nói rất ngang ngược, khinh
nhờn” (118). “Vua bảo rằng: “Chúng nói và làm như thế, làm sao tin được!
Pḥng bị là việc thường của người có [Đất] nước. Đâu có thể bắt người chịu
bó tay, không làm ǵ mới thoả ḷng ư? Không trách phàm việc pḥng bị của
các tỉnh, chúng đều muốn triệt bỏ đi, th́ khiến cho người làm thế nào
được? Hầu đem một chữ “hoà” trước sau đánh lừa ta chăng?”
(118) . Tất cả đ́nh thần đều biết sự thể đó. Cuộc đ́nh nghị đă diễn ra rất
gay gắt. Nhưng Trần Tiễn Thành và một vài quan tham biện, tư vụ cùng quan
Nha Thương bạc vẫn tâu xin “băi bỏ việc đắp luỹ, thêm quân ở cửa biển
Thuận An” (119) để tránh lời de doạ chiến tranh từ ư đồ thâm độc của Pháp
và tên khâm sứ Rheinart. Tập tâu này chính Trần Tiễn Thành đứng tên (119),
chứ Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật không đồng ư đề hai chữ “Viện –
Bạc” như các tập tâu khác vốn đạt được sự nhất trí cao. Dẫu vậy, Trần Tiễn
Thành vẫn được nhà vua nghe theo. Sự rạn nứt nghiêm trọng trong Viện – Bạc
ngày càng rơ, nhưng hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật vẫn cố
ḱm giữ, vừa đấu tranh vừa phải nhẫn nại. Phạm Thận Duật bận công việc
biên tập “Việt
sử cương mục”
, giảng tập
ở Dục Đức đường, kiêm quản Quốc
tử giám (120), quá đỗi bận bịu, nhân đấy, ông đă viết tập tâu từ chức
khéo, bằng cách xin nhường chức cho Tôn Thất Thuyết, mặc dù Nguyễn Chính
đă ra Bắc Ḱ, cơ chế tạm gọi là tứ
trụ,
bốn đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc, đang khuyết một người. Cùng với
Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường
nhẫn nại nói nước đôi trong việc đề cử Tôn Thất Thuyết, v́ tránh trường
hợp sẽ bị chính nhà vua và Trần Tiễn Thành phản ứng. Thượng thư Nguyễn Văn
Tường tự xác định,
ông cần phải thật cẩn trọng, khôn khéo, mềm dẻo, nhưng vẫn cương quyết
theo đuổi chính kiến “chiến – hoà – thủ –
chiến”
từ lâu ông đă tâm niệm.
Với sự cẩn trọng như vậy, Bộ Hộ vẫn bị xới việc, những việc không ra
ǵ nhưng phiền ḷng!
Trong những ngày dầu sôi lửa bỏng này, Bộ Hộ do thượng thư Nguyễn
Văn Tường đảm trách lại bị xới lên một vài việc đă cũ. Vụ việc lại dính
líu đến Bùi Ân Niên. “Quyền hữu
tham tri Bộ Lại là Bùi Ân Niên được đổi bổ thự hữu tham tri Bộ Hộ, nhưng
vẫn làm quản Thương bạc sự vụ đại thần” (121),
hồi tháng ba nguyệt lịch năm Tân tị (1881). Và không những dính líu đến
Bùi Ân Niên, c̣n liên quan đến một hai vị quan khác ở Bộ Hộ. Nhưng dẫu
sao, thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn chịu trách nhiệm chính v́ những sai
sót của thuộc viên.
“Trước đây tuần
phủ Nam – Ngăi là Trần Nhượng đem việc Bộ Hộ làm không hợp tâu lên” (122),
“quan ở Bộ Lại đem việc Xuân Điền kêu xin, tâu xin giúp cho, trước sau bất
nhất, việc thuộc thiên tư [:thiên vị] và nhàm…”, cùng hai khoản khác vốn
không có ǵ nghiêm trọng nhưng lôi thôi, rắc rối.
“Quan
ở
Bộ [Hộ] dâng sớ biện bạch: Cho là Xuân Điền chở tiền, trước xin là ngăn
mầm gian, sau xin cho là v́ công khoá… […] … Số chi tiêu của tỉnh ấy không
nói rơ năm tháng, hoặc biên lẫn khó xét, cho nên [Bộ] bác đi… […] …”
(122). “Vua cho là một việc chở tiền, đă xin cấm, lại xin cho, trước sau
bất nhất, quan ở Bộ không đổ lỗi được. C̣n như tiền thuế, quan tỉnh không
[tuân] theo [mà] đem thu, cũng là đùn đẩy, đều phải giáng cấp, lưu dụng”
(122) .
Thật ra,
những phiền phức nhỏ ấy, trong
công tác, không thể không xảy ra. Người phạm lỗi đă được chỉ ra cụ thể,
nhưng vẫn thấy không khỏi phải chú tâm giải quyết thật minh bạch. Nay Bùi
Ân Niên lại đang làm phó kinh lược sứ ở Bắc Ḱ, ngày đêm lo đối đầu với
Pháp và phỉ Tàu…
Thượng thư Nguyễn Văn Tường mỉm cười, vẫn nụ cười điềm tĩnh. Ông trở
lại với mạch chuyện nghiêm trọng về t́nh h́nh Bắc Ḱ đang bỏ dở.
- Tôi cũng mừng là t́nh h́nh lương – giáo không nổi lên như hồi năm
Quư dậu (1873). – Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói –. Tuy vậy, nhà vua cũng
mới “mật dụ cho các quan
tỉnh, Quảng Trị, Quảng B́nh, Thanh Hoá và Nghệ An, hiểu bảo và cấm trấp
dân lương, dân giáo cho đều cùng yên” (123)
.
May là có “mười ba tên là dân hai xă Phú Thứ, Thôi Ngôi tỉnh
Nam Định bỏ đạo theo về nghiệp nho” (124) .
- Con số thật quá ít ỏi. Nhưng cũng đáng mừng. – Thượng thư Nguyễn
Văn Tường lại nói –.
- C̣n việc tổng đốc Hải – Yên Lê Điều, người thay Phạm Phú Thứ, vừa
xử chém gă người Hoa, vốn là khách buôn, tên Hùng Tài Lộc (125), quan Bộ
H́nh nghĩ thế nào? – Thượng thư Tôn Thất Thuyết hỏi –.
- Tôi thấy dạo này bọn Hán gian cũng lớn lối lắm. Nhưng bọn Pháp lại
thừa cơ lừa ta rằng Hùng Tài Lộc là người của nước Anh, chúng bắt bồi
thường, rồi lấy hai ngàn (2.000) tiền thuế thương chính bỏ túi! Thật đốn
mạt! (125)… Bọn Pháp c̣n chạy về Hưng Yên hành hung dân lành một cách tàn
ác. Bộ Hộ mới vừa “cấp tiền gạo cho dân hai xă (Đào Xá, An
Cần) tỉnh Hưng Yên, bị lính Pháp đốt nhà, giết người” (126) !
Tôn Thất Thuyết cười gằn, cáu giận. Cố trấn tĩnh, một lúc, ông lại
nói:
- Thật dă man hết nói nổi! – Quan Bộ Binh như thể đang nuốt hận, im
lặng một lúc, lại nói –. … Thật tôi không ngờ thống đốc Hoàng Tá Viêm,
tĩnh biên phó sứ Trương Quang Đản, “trước đă không biết dự pḥng, sau lại
không biết
đánh ngay, lại lần lữa trông ngóng, ngồi nh́n để lỡ sự cơ. Đến lúc nghe
bàn giả [:trả] lại tỉnh thành, mới dâng sớ xin đánh”
(127) . Cũng thế, thượng thư Bộ Lại Nguyễn Chính sung làm kinh lược sứ Bắc
Ḱ lần này thật đáng trách. Ông ta tránh giặc,
“khi đi đường,
nghe tin báo [thất thủ Hà Nội], lại t́m đường đi thẳng về Sơn Tây, xin
tướng, xin quân, chưa nghe có thực hành một việc ǵ. Xin đều giao nghị xử,
để răn về sau” (127). “Vua cho lời tâu ấy là phải” (127)
. Vừa rồi
quan khoa đạo Lê Doăn
Thành tâu hặc tôi mới càng rơ.
- Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản lần lữa là v́ triều đ́nh không
quyết đoán! Chính Hoàng Tá Viêm đă toan căi lại lệnh dụ, không chịu tuân
theo. Chính bản tâu của quan thống đốc c̣n đây: “Quan khâm sai giao nhận
chưa xong, mà
thương thuyết cũng không được việc ǵ. Xét về t́nh trạng, nước ấy [:Pháp]
trao trả tỉnh thành, vốn không phải ḷng thực. Nay đă giữ được các viên
khâm sai ở trong tay, [chúng] tha hồ muốn làm ǵ th́ làm. Nếu ta nghe nước
ấy đuổi quân đoàn [Lưu Vĩnh Phúc] ấy đi, các tỉnh không pḥng bị, [bấy giờ
bọn Pháp] có thể thừa cơ được, th́ [chúng] lấn áp làm càn. Nếu đoàn ấy làm
việc cho ta, pḥng bị hơi vững, thế [bọn Pháp] chưa làm ǵ được, th́
[chúng] yêu sách nhiều khoản…”
(128) . Ông ấy c̣n tâu: “Người Pháp đến lần này, ḷng dối
trá không thể lường được, mà thành Sơn Tây là nơi trọng yếu cho cả Bắc Ḱ.
Nếu thành Sơn Tây bị vấp, không những toàn ḱ dao động, mà chợt đến dụng
binh, [th́] không có chỗ đứng chân…” (129)
. Tất cả là
do t́nh huống này: Pháp đánh
thành Hà Nội, chiếm được liền trả ngay, để ta không động binh. Ta yếu về
lực lượng, chỉ mong hoà hoăn, cầm cự, hết sợ khích biến Pháp, đến sợ chúng
làm ẩu, đánh tràn lan như năm Quư dậu (1873), khó chống đỡ nổi. Pháp lại
buộc ta không được pḥng thủ, pḥng thủ chúng càng đánh. Do đó, nhà vua
lưỡng lự, sợ mất tất cả, nên cứ hoà hoăn, cầm cự, ngay việc pḥng thủ cũng
phải theo chiến thuật hư binh. Nguyên nhân, nói gọn là bọn thực dân Pháp
tham lam, ta lại bị rơi vào thế yếu. Nói gọn hơn: Pháp tham, ta yếu. Thực
chất của t́nh huống là vậy. Cho nên, tôi đă hướng về Trung Hoa từ lâu, t́m
cách liên minh với nhà Thanh, qua Đường Cảnh Tùng với danh nghĩa Chiêu
thương cục. Việc liên minh giữa hai nước mà cũng phải ngầm lén, cho qua
mắt bọn Pháp, th́ chỉ một việc đó cũng đủ thấy thực lực của ta và nhà
Thanh. Nhưng dẫu sao, tôi vẫn
quyết chiến đến cùng. Và tôi càng quyết tâm hơn, nếu quân Thanh sang nước
ta ngay lúc này. Tôi và cả chúng ta
đều chờ, phải không? Chờ, để có quyết định quyết liệt hơn. V́
Đất nước, nhân dân và v́ cơ đồ bản triều nhà Nguyễn, chúng ta không thể
liều lĩnh, không đắn đo, trong t́nh huống này. – Thượng thư Nguyễn Văn
Tường lại nói tiếp –.
Quan Bộ Binh Tôn Thất Thuyết xin cố nhẫn nại ít lâu nữa, bấy giờ sẽ quyết
liệt, nếu Trung Hoa không thất hứa và họ thật tâm liên minh. Tháng tư vừa
rồi, sứ bộ sang Trung Hoa do chánh sứ Nguyễn Thuật dẫn đầu đă về đến Lạng
Sơn (130). Họ phải đi đường ṿng để vào kinh, v́ Hà Nội bị giặc Pháp chiếm
cứ. Sứ bộ đang viết tập tâu (130). Một hai hôm nữa, xem Nguyễn Thuật tâu
báo t́nh h́nh thế nào. Tôi đang rất sốt ruột đây…
Cuộc bàn luận vẫn tiếp tục cho đến khuya, khi trống đă điểm canh ba.
Măi đến cuối tháng sáu, t́nh h́nh vẫn chưa sáng sủa hơn. Đúng như
tập tâu thống đốc Hoàng Tá Viêm viết hồi tháng ba nguyệt lịch: ư đồ của
Pháp là muốn đặt thêm đồn bót. Đến tháng này,
“phái viên nước Pháp xin đặt
đồn ở sông Bạch
Hạc (thuộc huyện Bạch Hạc), tỉnh Sơn Tây. Vua không nghe [theo yêu sách
của chúng]” (131)
! Và nhà vua
vẫn phải giữ thái
độ hoà hoăn trong chừng mức nào đó, để có thể cầm cự, chờ quân Thanh có
thực tâm sang yểm trợ hay không.
Việc Phạm Thận Duật xin từ chức để lo biên tập bản thảo
“Việt sử cương mục”
và để nhường chức cho Tôn Thất
Thuyết, đă bị nhà vua trách mắng khá nặng. Cả tham tri Bộ Công Lâm Hoành
(nguyên quán Quảng Trị), người cùng Phạm Thận Duật đứng chung tên ở tập
tâu, cũng thế. Thực tâm, vua Tự Đức vẫn muốn Tôn Thất Thuyết hàm dưỡng sâu
hơn, mới có thể vào Viện – Bạc.
“Dụ rằng:
Vừa đây, cứ
thượng thư Bộ H́nh Phạm Thận Duật xin giải Viện chức để nhường chức ấy cho
Tôn Thất Thuyết, trẫm đă phê giao cho Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường
cùng duyệt để thương xét, cùng các thư của Tôn Thất Thuyết điều trần tự
lượng để tham khảo ư kiến của cả mọi người. Nay cứ phúc tâu, th́ hai viên
đại thần ấy sợ rằng mang tiếng dị nghị, muốn được nhiều người cùng gánh
vác trách nhiệm, nên tâu lên những lời nước đôi. Tôn Thất Thuyết th́ từ
chối v́ bệnh, đều là chưa có ǵ xác thực.
Vả, Tôn Thất
Thuyết được hưởng trường hợp nghị thân [ưu tiên v́ người Tôn Thất], và
nghị hiền [ưu tiên v́ là người có tài năng] rơ rệt, phận nghị càng quan
hệ. Viên chức có khuyết, chẳng bổ cho Tôn Thất Thuyết th́ c̣n ai? Nếu như
nên được tức khắc sung bổ, th́ c̣n cần ǵ tâu lên để nhường cho nhau?
Nhưng trẫm xưa nay dùng người, bao giờ cũng giữ lẽ công bằng, tuỳ tài khí
lục dụng, để cho công việc đều được thích nghi. Tôn Thất Thuyết dẫu có trí
dũng, giỏi về việc binh, song sự lịch duyệt và hàm dưỡng đều chưa được
sâu, sợ rằng không khỏi xảy ra lầm lỡ. Huống y là người khó nhọc nhiều,
bệnh hoạn lắm, chữa trị chưa khỏi. Hiện nay giữ hai việc binh chính [Bộ
Binh] và pḥng bể [hải pḥng], đều là quan trọng. Nếu làm trọn được chức
vụ ấy tưởng cũng đă khó. V́ thế, hôm nọ chối từ việc kiêm thêm phủ vụ [Tôn
nhân phủ], tưởng cũng là y tự lượng ḷng ḿnh để xứng với tài ḿnh th́
không nỡ cưỡng ép quá. Vả lại, khiến cho ngày thêm đào luyện, hàm dưỡng ví
như vào chốn hoa thơm, uống li rượu tốt, tất biến hoá khí chất mà không tự
biết, rồi sau mới có thể gánh vách được việc lớn.
[…] Vậy sao
Phạm Thận Duật, Lâm Hoành không xét kĩ, đă vội ưng cho? Hoặc bảo các quan
ở trong triều không ai hơn được? Hay hoặc bảo binh chính đă đổi mới? Nếu
nói như thế th́ quả là công [chính] hay tư [vị], là phải hay trái, chắc
cũng có thể phân biệt được.
[…] Vậy sự
tiến mau, lui gấp, cũng không phải tài khí cao xa, sao Tôn Thất Thuyết,
Lâm Hoành lại tâng bốc cho nhau quá đáng. Như thế ít khi khỏi mang tiếng
là a dua bè đảng.
Khoảng năm
Minh Mạng có một kẻ sĩ khen tốt cho Nguyễn Hữu Thận, bảo là nên đặt vào
địa vị sư phó, chứ không nên để cho làm quan ở ngoài. Vậy mà c̣n bị thánh
chỉ quở răn là xưng tụng công đức của Vương Măng [kẻ cướp ngôi vua, nhà
Hán, Bắc sử], rồi theo công nghị triều đ́nh nghĩ xử người [kẻ sĩ đề cử] ấy
vào trọng h́nh. Các ngươi lại không trông đấy để tu tỉnh mà nghĩ kĩ hay
sao?
[…] Nay trẫm
thấy các ngươi che giấu điều lầm, vu nịnh điều trái quá lắm, nên không thể
không vạch rơ những sự u ám bế tắc, ngăn ngừa ngay lúc đầu, để có thể bỏ
hoạ thành tài, dự trù cho quốc gia sau này. Bởi vậy trẫm không ngần ngại
nói quá nhiều lời, không kể ǵ nữa, chỉ mong phân tích rơ ràng để các
ngươi dễ tỉnh ngộ mà thôi.
Đến như ngày
nay là lúc đang cần gấp dùng người, được có người tài, há chẳng vui mừng,
nhưng cũng không thể vội được. Sự thử thách các gian hiểm, bậc thượng
thánh cũng c̣n thận trọng, huống nữa là người thường.
Đến như Phạm
Thận Duật là người cũng có học thức, vả lại đă lịch luyện; nếu ngươi tự
cam ăn ghé nói ṃ, phụ ḷng uỷ thác, th́ sẽ có pháp luật đó.
Hiện nay việc
nhiều người ít, ai ai cũng nên cố gắng. Người làm mười ta làm trăm, người
làm trăm ta làm ngh́n, th́ việc ǵ mà chẳng xong xuôi, chức vụ nào mà
không đầy đủ.
C̣n như cứ
vin vào cái danh [biên tập “Việt sử”?] để chọn việc th́ chức vụ nào mới
kham nổi, lúc nào mới báo đáp. Vậy quyết nhiên không thể để cho tránh nặng
t́m nhẹ.
[…] Khâm thử.
Ngày 30 tháng
06, Tự Đức năm thứ 35 (13.8.1882)”
(132) .
Vua Tự Đức rất quư trọng tài thao lược của Tôn Thất Thuyết, nhưng
vẫn hết sức cẩn trọng, v́ những lẽ đó. Vả lại, t́nh huống trong thời điểm
hết sức gay gắt, có thể nói là gay gắt nhất, chính là lúc này, khiến nhà
vua càng phải cẩn trọng, dè dặt. Sự cẩn trọng của vua Tự Đức c̣n bởi nhà
vua phải hết sức lo ngại, đắn đo, một khi quân Thanh yểm trợ chưa hành
quân sang nước ta để có thể phối hợp đương đầu với giặc Pháp.
Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết nhận bản sắc dụ sau khi đă được
tuyên đọc trong một buổi thiết triều. Ông cứ nghĩ ngợi, đọc đi đọc lại
măi. Tôn Thất Thuyết thấy rằng không phải nhà vua nhận định sai lầm… Nhưng
thật ḷng ông không thể yên tâm, không thể không đau ḷng, nếu Trần Tiễn
Thành cứ tŕ trệ, lần lữa, cứ để việc quân binh măi hoài lạc hậu, yếu hèn…
Ông cũng hiểu nỗi khổ tâm của thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường. Vả lại,
trong t́nh huống đầy gay go, thách đố này, thượng thư Nguyễn Văn Tường
đang c̣n ra sức vận động nhà Thanh, một lực lượng yểm trợ Đại Nam và làm
đối trọng với bọn Pháp, mới có thể quyết chiến mà không bị chê trách là
liều lĩnh, thiếu muu trí, không trông xa nghĩ sâu.
Hết tệp
3
truyện kí 9
Viết đến ḍng chữ
này vào lúc 16 giờ 26 phút,
ngày 29.12.2002
(26.11 Nh. ngọ, HB.2),
tại thành phố Hồ
Chí Minh.
TRẦN XUÂN AN
(75) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 93.
(76) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 95.
(77) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 97.
(78) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 97.
(79) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 98.
(80) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 94.
(81) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 98.
(82) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 95.
(83) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 98
– 99.
(84) Châu bản, dẫn theo: Trần Viết Ngạc,
trong tập Các báo cáo khoa học (CBCKH.), Hội thảo khoa học về nhân vật
lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xă hội và nhân văn thuộc Đại
học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, 02.07.2002., tr. 56.
(85) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 99
– 100.
(86) TVTĐ., tập 2, Nxb. Thuận Hoá, sđd.,
1996, tr. 214 – 216.
(87) CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd.,
2001, tr. 369 – 371. Về bộ sách Chống xâm lăng của GS. Trần Văn Giàu, tôi
đă có dịp phê phán trong các chú thích trước thuộc bộ truyện – sử kí –
khảo cứu tư liệu này. Những các ư tưởng phê phán cụ thể hơn, xin xem: Trần
Xuân An, Nguyễn Văn Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không
hơn được” (NVT., NNTNTX., TKHĐ.), khảo luận và phê b́nh sử học, sắp xuất
bản (2002).
(88) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái
bản, sđd., 2001, tr. 371 – 372.
(89) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái
bản, sđd., 2001, tr. 370.
(90) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
100.
(91) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 100
– 101.
(92) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
101.
(93) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 104
– 105.
(94) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
106.
(95) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
106.
(96) Nguyễn Đắc Xuân, Phụ chính đại thần
Trần Tiễn Thành (PCĐT. TrTTh.), [trong đó có in lại bài viết của Đào Duy
Anh trong Tập san Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du vieux
Huế [BAVH.], Cadière làm chủ bút, số 4 – 6/ 1944), bản dịch Bùi Trần
Phượng], Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 35, 83.
(97) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 106
– 107.
(98) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
107.
(99) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
107.
(100) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
108.
(101) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
108 – 109.
(102) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái
bản, sđd., 2001, tr. 376.
(103) Trích nguyên văn: CXL., Nxb. Tp.
HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 376.
(104) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam
liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993,
tr. 315.
(105) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
110.
(106) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái
bản, sđd., 2001, tr. 377.
(107) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
128.
(108) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
192.
(109) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 81 (Tsuboi
trích thư Henry Rivière gửi Puginier, ngày 14.11.1882).
(110) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
109.
(111) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
109.
(112) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
109 – 110.
(113) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
110 – 112.
(114) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
112.
(115) CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd.,
2001, tr. 386, 388, 532. “C̣n tại Huế, sứ Pháp là Rheinart thuyết khách
cho đến đỗi triều đ́nh đă nhận về nguyên tắc là cần làm thêm một bản phụ
lục cho ḥa ước 1874, trong phụ lục này sẽ ghi chữ “bảo hộ”” (TVG., trong
CXL., sđd., tr. 386).
(116) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
116.
(117) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
118.
(118) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
118 – 119.
(119) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
119 – 120.
(120) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
134, 145 – 146.
(121) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
22.
(122) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
113 – 114.
(123) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
116.
(124) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
118.
(125) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
126.
(126) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
132.
(127) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
122.
(128) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
126 – 128.
(129) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
128 – 130.
(130) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
121 – 122.
(131) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr.
136.
(132) TVTĐ., tập 2, Nxb. Thuận Hoá, sđd.,
1996, tr. 218 – 223.
Chú thích xong lúc
08 giờ ngày 14.02.2002
(13.01 Quư mùi, năm
thứ hai công nguyên Ḥa B́nh [:HB.2]).
TRẦN XUÂN AN
Hết tệp 3
(phân đoạn
3,
truyện kí 9)
Xin xem tiếp
tệp 4
(phân đoạn
4,
truyện kí 9)