Tệp
3
PHÂN
ĐOẠN 3
TRUYÊN KÍ THỨ
7
thuộc tập 2
bộ sách “PCĐT. NVT.”
(từ tr. 45 đến tr. 68)
TRẦN
XUÂN AN
CƯỠNG ƯỚC “HỮU
NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC
THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874
Truyện kí thứ
bảy
(phân
đoạn
3)
7
Hồi cuối tháng tám nguyệt
lịch (15.10.1873), lúc Françis Garnier đến Đà Nẵng, vua Tự Đức cho Nguyễn
Khoa Luận, Trần Văn Quỳnh, Nguyễn Văn Thi vào đón tiếp (74), sau đó theo
tàu của y để ra Hà Nội, ngỡ là để cùng giải quyết vụ gây hấn của Jean
Dupuis. Ngay chính Jean Dupuis trước đó cũng đă gửi thư từ Hà Nội vào Huế
báo tin này! Không ai dám quả quyết chúng đồng ḷng che giấu âm mưu không
đơn giản là chỉ gây rối, mặc dù trong bức thư Dupré gửi cho triều đ́nh Huế
đă bộc lộ với lời lẽ rất xẵng:
“Triều đ́nh nước
Nam không thể tŕ
hoăn việc mở rộng [cửa] Bắc Ḱ và sông Hồng cho đến Vân Nam. V́ lẽ đó, đại
uư Françis Garnier có lệnh ở lại Hà Nội cho đến lúc nào việc này được giải
quyết xong” (75)!
Không dám quả quyết là bởi vua Tự Đức, triều
đ́nh và hoàng thân nhận thức rơ: một là, thực lực vũ khí quân ta là quá
lạc hậu, quá yếu kém; hai là, ḷng dân Bắc Ḱ chưa thật trung thành, c̣n
bất trắc, lại lắm “tả đạo”; ba là, nạn phỉ giặc Cờ chưa dẹp xong. Do đó,
triều đ́nh Tự Đức vẫn c̣n mong giải quyết vụ việc bằng “hoà” nghị!
Khi đến cửa biển cuối sông
Hồng, chuyện tṛ trên đoạn sông lên Hà Nội, ḷng háo thắng của tên sĩ quan
ranh con Françis Garnier được bơm lên bởi tên lái buôn liều mạng cam tâm
làm bung xung là Jean Dupuis. Ngày mười bốn tháng chín ta (03.11.1873),
Françis Garnier viết trong một bức thư:
“Mọi
người đều coi như tôi sắp thống trị xứ này, nếu tôi muốn. Tôi c̣n đợi xem.
Trước khi lật đổ chính quyền tại đây, lẽ tất nhiên tôi đợi xem những dấu
hiệu do nhân dân biểu lộ và xác nhận lời của Dupuis” (75).
Chả là Dupuis đă nói với Garnier rằng “cả xứ Bắc Ḱ sắp nổi loạn… nếu ông [:Garnier] ra hiệu…” (75)!
Đến Hà Nội (05.11.1873), tại
quán trọ, Françis Garnier liền thông tin vào thành. Y đợi Nguyễn Tri
Phương, Vũ Đường, Nguyễn Đăng Nghiễm đến đón tiếp y, nhưng thật tâm, y chờ
t́nh huống có thể thừa cơ lúc bất ngờ để dẫn quân vào thành (76). Y ào vào
Dinh Khâm mạng lúc Nguyễn Tri Phương chưa kịp mặc áo ngoài, chỉ kịp lắp
bắp vài tiếng Pháp, che giấu nỗi uất hận dưới nụ cười và dăm lời mềm mỏng
(77). Thái độ mở đầu của Françis Garnier đă rất ngang ngược!
Quyền suất đội Nguyễn Đăng
Viên canh cửa thành nhỏ bên ngoài không báo. Các quan đầu tỉnh bảo lính
ngăn lại không kịp! Tất cả đều bị giáng, cách, lưu nhiệm, riêng Nguyễn
Đăng Viên bị lột hẳn chức, cho về quê (76).
Vua Tự Đức cũng vẫn cố nhẫn
nại, ra dụ cho Hà Nội: sắp xếp cho Françis Garnier và quân binh của y tạm
trú tại Trường thi, đồng thời vẫn khoản đăi tên thực dân ngang ngược, hỗn
láo ấy (76)!
Liền trong những ngày ấy,
tên quan năm Pháp (trung tá Senès) đem năm chiếc tàu đến Đồ Sơn, tỏ ư uy
hiếp. Quyền tổng đốc Hải Dương Đặng Xuân Bảng uỷ phái viên đến thăm hỏi xă
giao, và đồng thời tâu gấp vào kinh (78). Nhà vua sai đ́nh thần xét nghĩ.
“Bọn Trần
Tiễn Thành cho là phái viên nước ấy (quan ba An Nghiệp [Françis Garnier]) đến, đă có nói
phao lên rằng: “Không cùng với hắn định ngay điều ước thông thương, sợ có
[xảy ra] việc nguy hiểm”. Nay tiếp tục đến nhiều thuyền, chẳng qua cùng bè
lũ với chúng dùng cách ấy doạ nạt, cho điều ước chóng thành […]. Xin nên [để]
do bọn quan khâm mạng thiết trách An Nghiệp, bảo [với chúng rằng:] “Phái
viên quư quốc mới sang, chỉ v́ việc đuổi Đô Phối (tức Đồ Phổ Nghĩa [Jean
Dupuis]); nếu thuyền bọn chúng [bọn Pháp] muốn đến buôn, hăy đợi điều ước
làm xong, mới có phương tiện. Phái viên quư quốc nên bảo ngay cho thuyền
bọn ấy [bọn Pháp], phải theo thế mà làm. Nếu [Jean Dupuis] có dám trái [với]
điều cấm, ngang ngược làm càn, phải do [chính] phái viên [Pháp] đuổi hắn,
để tỏ phép công của các nước. [Như thế] hầu mới ổn thoả và được việc”. Vua
theo lời” (78).
Khác với những ngày c̣n ở
Gia Định, bấy giờ Françis Garnier c̣n khuyên Dupré nên xử sự một cách
ngoại giao mềm mỏng, lúc này, khi đă đặt chân lên Hà Nội, y ngang ngược
đến mức hỗn láo! Không những nằng nặc đ̣i quan khâm phái Phan Đ́nh B́nh
theo “lệnh” y, y c̣n ra mặt thúc bách cả quan khâm mạng bảy mươi bốn tuổi
phải lập tức theo yêu cầu của y về việc mở cửa thương mại và khai thông
tuyến sông Hồng (79), mặc dù Nguyễn Tri Phương chỉ nói đến việc đuổi
Dupuis (80)! Tên thực dân nhăi tép này c̣n bắt chước Jean Dupuis cho lính
xô ngă các tán lọng che sắc chỉ của vua Tự Đức, y c̣n sai lính xé bỏ các
tờ hiểu thị của quan khâm mạng (80). Nội dung các tờ hiểu thị ấy xác định
Françis Garnier không có chức trách ǵ ngoài việc dàn xếp vụ Dupuis và cấm
dân chúng, đặc biệt là giáo dân, tiếp xúc với y. Y xem đó là cách công
khai hạ nhục y (80)! Françis Garnier lại c̣n cho niêm yết khắp Hà Nội
những bích chương với các điều khoản đơn phương đặt ra một cách hỗn xược
(80)! Đúng là một tên thực dân nhăi tép cuồng bạo!
“Quan lớn Garnier,
người đă được quan đô đốc thống soái Nam Ḱ thuộc Pháp phái ra Bắc Ḱ để thoả hiệp với nhà cầm
quyền [Đại Nam] về việc khai thương xứ này, cho biết rằng:
1.
Bắt đầu từ ngày 15.11.1873, sông Hồng sẽ được mở
từ biển đến Vân
Nam
cho việc buôn bán;
2.
Sông này chỉ được dành cho sự buôn bán của các
tàu Pháp, Y Pha Nho và Trung Hoa, tức là những quốc gia có hiệp ước với
Việt Nam [Đại
Nam];
3.
Quan thuế phải trả được định là 9% tổng giá hàng
hoá chở trên tàu;
4.
Đối với các tàu từ Sài G̣n đến hay đi đến Sài
G̣n th́ giá thuế này được bớt phân nửa;
5.
Các tàu từ Vân
Nam đi ngang qua cũng
chỉ trả phân nửa thuế;
6.
Các thương gia Tàu [Trung Hoa] hay thuộc quốc
gia khác được đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp và không tuỳ thuộc thẩm quyền
quan chức người Đại
Nam
bất cứ phương diện nào;
7.
Các thương gia thuộc bất cứ quốc tịch nào, đều
có thể mua đất và nhà ở Hà Nội để đặt cơ sở của họ;
8.
Các sở quan thuế của người [Đại]
Nam hiện có đều được
băi bỏ từ hôm nay
9.
… v. v.…”
(81).
Thái độ ngang ngược ấy của
Françis Garnier vốn đă được bơm lên bởi Jean Dupuis, lại cũng do y nhận
thấy người Pháp có nhiều hậu thuẫn trên đất Bắc Ḱ! Quả thực, cũng đă có
nhiều người dân tự xưng là hậu duệ vua Lê đến gặp Françis Garnier (82),
nhưng số giáo dân vẫn nhiều hơn! Những kẻ nhân cách mạt hạng, phản quốc ấy
chỉ ước mong theo nỗi ước mong của Pierre Tạ Văn Phụng trước kia:
“xứ Bắc Ḱ bảo hộ
thuộc Pháp”!
Françis Garnier cũng đă liên
lạc với giám mục Puginier. Tên thực dân giám mục “tả đạo” này vẫn đóng vai
tṛ cố đạo, miệng bảo không dính đến chính trị, và sợ sẽ bị triều đ́nh Huế
lại trút hận lên bọn giáo dân đang sẵn sàng phản quốc, phục vụ theo lệnh
Françis Garnier (83)! Phải thừa nhận giám mục thực dân Puginier rất khôn
ngoan trong toan tính, biết nh́n trước ngó sau, mặc dù quyết tâm xâm lược
không hề bao giờ thay đổi trong tim đen sau lớp áo chùng thâm! Mặt nạ của
Puginier măi về sau mới công khai rơi xuống (83)!
Françis Garnier cùng những
tên đại diện các thế lực trong sự câu kết với nhau của chúng đă tổ chức
tiệc tùng để trông chờ ngày quyết định. Các buổi tiệc tùng ấy có mặt giám
mục Puginier, linh mục Dumoulin (?), chín (09) nhà buôn Hoa kiều, các tên
sĩ quan Pháp (84). Thế là Françis Garnier đă có thêm vây cánh để máu cuồng
bạo sôi réo lên trong tim đen của y!
Không thể nói khác được,
Françis Garnier rơ là lên cơn cuồng bạo! Y càng cuồng bạo hơn khi nghe tin
nếu chậm trễ, kéo dài ngày, sẽ bị đầu độc, thuốc độc sẽ được bỏ vào thức
ăn nước uống, một hôm nào đó (85)!
“Bơm lên” và hù dọa là hai
thủ thuật của bọn cáo già, đủ để đẩy Françis Garnier đi đến điểm đỉnh của
cơn cuồng bạo thực dân!
Đến ngày cuối tháng chín âm
(19.10.1873), Françis Garnier quyết định gửi tối hậu thư cho quan Vũ hiển
Nguyễn Tri Phương (86). Thời hạn cuối là phải trả lời trước mười tám (18)
giờ chiều cùng ngày. Không thể có thư trả lời trước một tối hậu thư b́nh
thường, chứ chưa nói là đối với một thứ tối hậu thư đầy lời lẽ xấc láo đến
thế! Danh tướng Nguyễn Tri Phương, trong những ngày trước, đă viết bản sớ
xin vua Tự Đức cho ông trừng trị Françis Garnier hoặc cho ông từ chức
(87). Không ngờ, đến giờ phút này, ông bị đặt trước tối hậu thư thách thức,
ngạo mạn, lớn lối của một tên ranh con!
Sáng sớm hôm sau, mùng một
tháng mười nguyệt lịch (88), năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quư dậu (1873),
Françis Garnier tấn công. Sau một giờ rưỡi chiến đấu, thành Hà Nội thất
thủ (88)!
Mười một ngày sau, Françis
Garnier huênh hoang phúc tŕnh vào cho Dupré (89):
“Hà Nội ngày
01.12.1873 [12.10 nguyệt lịch, Quư dậu]
Kính thưa thiếu tướng,
Tôi hân hạnh phúc tŕnh cùng thiếu tướng những
trận chiến đă đưa đến việc chiếm thành Hà Nội và những đồn luỹ trong tỉnh
mà Hà Nội là thủ phủ.
Một tối hậu thư đă được gởi chiều ngày mười
chín (19) cho quan tổng thống quân vụ thống lănh Bắc Ḱ [Nguyễn Tri Phương].
Tôi buộc ông ta làm một tuyên ngôn nói rằng sẽ không chống bằng vũ lực đối
với các nghị định thương măi của tôi, và ông sẽ chấm dứt mọi chuẩn bị
chiến tranh. Tôi không nhận được lời phúc đáp, tôi quyết định đánh thành
[vào] ngày mai [ấy], lúc tảng sáng.
Năm giờ rưỡi sáng, một đoàn quân thứ nhất do
ông Bain de la Coquerie, trung uư hải quân, chỉ huy, và gồm ba mươi (30)
thuỷ binh và một đại bác rời căn cứ để đến đóng trước cửa Tây
Nam thành.
Năm giờ bốn mươi lăm, đoàn thứ hai do ông
Trentinian [cháu của đại tá Trentinian] chỉ huy và gồm ba mươi (30) thuỷ
quân lục chiến, tiến về cửa Đông
Nam là cửa gần trại
ta nhất. Sau cùng, lúc năm giờ ba mươi (5g 30), ông Esmez cầm đầu ba mươi
(30) thuỷ binh và ba đại bác cũng tiến công lên cùng hướng, theo sau là
đoàn trừ bị của tàu Decrès do đại uư của tàu ấy cầm đầu. Trại quân do kĩ
sư Bouillet và mười lính trấn giữ.
Ở bên sông, tàu Scorpion và tàu Espingole đă
chuẩn bị pháo kích từ hôm qua và hướng cả về các cửa Tây, Bắc và Đông,
nghĩa là về phía mà chúng tôi sẽ không tấn công…
Đúng sáu giờ, lúc tôi cầm đầu đoàn quân của
Trentinian và đặt chân lên chiếc cầu của tiền luỹ cửa Đông Nam, th́ tiếng
súng của ông Bain nổ phía trái tôi và những quả đạn đầu tiên của bên tàu [Pháp]
tưới vào trong thành. Địch [tức là quân Đại
Nam]
hoàn toàn bất ngờ. Kinh hoàng trước cuộc tấn kích nhiều mặt, họ không biết
điểm bị đe dọa chính là điểm nào. Chúng tôi quét sạch những chướng ngại
vật trên cầu của tiền luỹ, mà không sợ súng bắn ra. Khi các pháo thủ [Đại
Nam] trên thành đến vị trí của họ, chúng tôi đă núp bên cạnh thành của cái
tiền luỹ. Quân pḥng thủ [Đại Nam] chỉ c̣n cách ném đá vào chúng tôi. Búa
không thể phá cửa, tôi cho đặt một đại bác trên cầu; ba quả đạn trái phá
đă mở đường cho chúng tôi. Ông Trentinian và các thuỷ quân lục chiến ùa
vào trong tiền luỹ, và quân pḥng thủ [Đại Nam] không c̣n chỗ núp, đành
chạy trốn về phía bờ thành hoặc chết trôi dưới hào nước. Pháo binh của ta
bắn rất gắt trên đầu tường làm quân địch [Đại Nam] cố đến quay đại bác bắn
vào ta mà không làm được.
Trong lúc ấy, ông Esmez đem đoàn đại pháo lên
trên cầu bắc qua hào và bắn vỡ cửa thành, dưới làn thưa đá từ trên đầu
thành ném xuống. Cái cửa chắc chắn này đă đứng vững khá lâu. Lúc phá được
một lối vào, tôi bèn xông vào dưới cửa ṭ ṿ, và tôi nhận thấy trước mặt
tôi bọn cầm lọng che cho tướng pḥng thủ [Đại
Nam]. Lúc ấy tôi
không ngờ đó chính là vị thống soái [Đại Nam], và do một ngẫu nhiên ḱ lạ,
ông ta lại chọn chính cái cửa tôi đánh để làm điểm chống cự. Một loạt súng
lục và súng trường quét sạch chỗ cửa thành và quân [Đại] Nam chạy tứ tán…
Cùng lúc ấy một loạt kèn thổi cho tôi hay là Bain đă làm chủ được phía cửa
gần đó. Anh ta không gặp sự chống cự nào phía trong tiền luỹ. Anh ta bị
một loạt pháo trong thành bắn ra, nhưng không trúng ai cả.
Lập tức tôi cho Trentinian vào trong thành để
bắt ông thống soái [Nguyễn Tri Phương]; và cho Hautefeuille và vài người
đi lấy cửa phía Đông. Tôi lại ra lệnh cho ông Bain qua cửa Tây mà nhiều
người đang chạy trốn về phía đó. Sau cùng, v́ thấy nhiều quân địch [:Đại
Nam] núp trong tháp cột cờ ở giữa hai cửa phía Nam, và hai tầng lầu của
tháp này đầy dẫy quân pḥng thủ [Đại Nam], tôi cho Esmez tấn công về phía
đó và chỉ giữ bên tôi số quân trừ bị. Hai quả đại pháo đă quét sạch quân
pḥng thủ [Đại
Nam ở] tháp cột cờ,
dấu hiệu cho pháo binh ở bờ sông thôi bắn. Lúc ấy đúng sáu giờ năm mươi
lăm phút (6g 55). Ông Esmez liền qua phía cửa Bắc. Phía cửa Đông,
Hautefeuille chỉ có năm người đành đứng lùi lại; tôi phái đại uư Decrès
với quân trừ bị qua với anh ta… Vài phút sau, cờ Pháp phấp phới trên khắp
cả năm cửa của thành Hà Nội. Chúng tôi không có ai bị thương cả”. [Kí
tên:] Françis Garnier.
Đúng ra, phía Pháp, một (01) tên bị chết, hai (02) tên bị thương; bên quân ta, tám mươi (80) người hi sinh, ba trăm
(300) người chiến thương, hai ngàn (2.000) lính bị giặc Pháp bắt sống.
Trong khi đó, lực lượng quân lính giặc Pháp chỉ vỏn vẹn hai trăm mười sáu
(216) tên thuộc quyền Françis Garnier và khoảng chín mươi (90) tên thuộc
quyền Jean Dupuis. Với quân số trên ba trăm (300), chúng mới tham chiến
chỉ một trăm tám mươi (180) tên (90)! Tất nhiên, ngoài tinh thần chiến đấu
vốn bao giờ cũng rất quan trọng, th́ vấn đề chính ở đây, trong trận giặc
Pháp tấn công thành luỹ và quân ta phản công pḥng thủ này, đó là hoả lực
vũ khí. Phía Pháp, hoả lực vũ khí gồm cả súng cá nhân, đại bác, đặc biệt
là pháo thuyền yểm trợ. Súng thép tàu đồng Pháp đều thuộc loại tối tân của
nửa sau thế kỉ mười chín (XIX). Phía ta, vũ khí vẫn c̣n quá lạc hậu!
Về sau, gia phả danh tướng
Nguyễn Tri Phương được hậu duệ chép (91):
“Cụ cùng con
là pḥ mă Nguyễn Lâm đốc suất quân ra phía
cửa Đông Nam, vượt lên thành chống giặc. Pḥ mă bị một phát đạn vào đầu
chết ngay. Cụ [Nguyễn Tri Phương] cũng bị thương. Binh sĩ khiêng vào dinh.
Người Pháp đem thuốc vào buộc, cụ đều rứt ra, đưa đồ ăn vào cụ đều phun
nhổ không nuốt. [Cụ] nói rằng: “Bây giờ ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao
bằng thung dung chết về việc nghĩa…””.
Để giữ trọn khí tiết, quan
Vũ hiển, tước hiệu Tráng Liệt bá, lănh Lại bộ thượng thư kiêm sung khâm
mạng tuyên sát đổng sức đại thần Nguyễn Tri Phương tuyệt thực, chỉ ngậm
sâm và uống nước trong. Mặc dù ông đă bị giáng xuống hàm hiệp biện đại học
sĩ, lại bị cách, quân binh vẫn một mực quư trọng vị danh tướng tài cao,
đức trọng, nhưng đă bị sự phát triển nhanh của kĩ thuật vũ khí Phương Tây
đánh bại. Sau một tháng tṛn, đến ngày mùng một tháng mười một nguyệt lịch
(20.12.1873), Nguyễn Tri Phương trút hơi thở cuối cùng.
Thự tổng đốc Hà – Ninh Bùi
Thức Kiên, án sát Hà Nội Tôn Thất Trắc (Thiệp) trốn thoát sau khi thành
mất. Hai viên quan này trú ẩn ở phía bắc thành, tại nhà tên thư lại Tô
Phái (xă Nhân Mục, huyện Thanh Tŕ). Nhưng tên cai tổng Đức phản bội, bắt
Bùi Thức Kiên đem nộp cho giặc Pháp để lănh một trăm quan tiền thưởng ô
nhục (92)!
Bọn Pháp c̣n bắt bốn viên
quan lớn, khâm phái và đầu tỉnh, chở vào Gia Định, toan đưa về Pháp để
dâng công (92)!
Từ Huế, nghe tin, vua Tự Đức
bảo: “Trước
đây, tướng Pháp
[Dupré] phái thuyền [ra Bắc], v́ t́nh giao hiếu [mà] đến, ta cũng không
tính chúng giả dối, [nên] cho đến đậu ở tỉnh thành Hà Nội, để tỏ [sự] đối
đăi khoan hậu; không ngờ phái viên [Pháp, Françis Garnier] ấy giảo quyệt
sinh sự, rất là quái ngạc. Trong [vụ việc] đó, không khỏi [do] tướng ấy có
ư bảo ban [:bàn mưu tính kế trước cho Françis Garnier]”. “[Nhà vua] liền
sai Thương bạc viết thư báo cho nước Pháp biết, và [thông] tư cho sứ thần
(hiện ở Gia Định) phải khéo giảng giải, cốt cho tướng [Dupré] ấy sức bảo
[:ra lệnh cho] An Nghiệp [:Françis Garnier] trao trả tỉnh thành Hà Nội,
mới tiện định điều ước” (93).
Mặt khác, vua Tự Đức liền
cách chức các quan thất thủ và đầu hàng, bổ nhiệm một loạt quan chức mới
cho Hà Nội: Trần Đ́nh Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Đặng Văn Huấn, Trương Gia
Hội, Phan Đề, Hoàng Đôn Điển, Nguyễn Đức Thực (94). Trương Gia Hội được
lệnh đưa cả hai viên cố đạo Pháp ở nhà thờ Kim Long (Huế), gồm giám mục
B́nh (Sohier) và linh mục Đăng (Dangelzer), đến Thanh Hoá, rồi cùng ra Hà
Nội (94). Triều đ́nh thừa biết giám mục thực dân B́nh (Sohier) vừa đi dự
Công đồng Vatican tại Toà thánh La Mă (Rome), trong hai năm Kỉ tị và Canh
ngọ (1869 – 1870) (95)!…
Về tổ chức guồng máy cai
trị, Françis Garnier, tai quái thay, y cũng thế! Tên thực dân nhăi nhép
này đă cất đặt hàng loạt tên “tả đạo”, Hán gian (Hoa kiều…), Việt gian, kể
cả bọn cơ hội làm quan chức tay sai cho y (96)! Françis Garnier rất xảo
trá, biết cách lợi dụng chủ trương “hoà” nghị của triều đ́nh Tự Đức. Y
viết thư cho các quan đầu tỉnh ở Nam Định, Ninh B́nh với nội dung “tâm lí
chiến”.
“Các tỉnh Nam Định, Ninh B́nh
tâu rằng: An Nghiệp đưa thư nói, tên ấy không phải có ḷng chiếm lấy thành
tŕ, [mà] vẫn muốn giữ hoà [!] ước trước; chỉ v́ các viên sai đi trước
[như Jean Dupuis, Senès…] làm việc không khéo, nên mới thế; xin chọn quan
đến làm việc; tên ấy tức [khắc] đem tỉnh thành trao trả, [rồi] cùng định
điều ước về việc buôn [thương mại]” (97).
“Vua bảo rằng:
“Chúng rất giảo trá. [Chúng] đă chiếm đất bên trong của ta, đă nói là nộp lại thành, bàn điều ước; [trẫm xét thấy
cũng] vẫn chưa đủ tin. Nhưng nay muốn bớt việc, yên dân, nhân cơ hội [ấy,
mà] châm chước đối phó, cũng không hại ǵ”. [Vua] chuẩn cho đ́nh thần chọn
cử viên nào có tài năng, đặt làm quan tỉnh để sung làm việc, nhưng đều cho
thăng trật để tỏ ư khuyến khích” (98).
Nhưng bọn Françis Garnier
đâu chỉ dừng lại đấy! Quân Pháp lại bức chiếm phủ Lư Nhân (26.11.1873),
huyện Hoài Đức, huyện Gia Lâm. Do đó, triều đ́nh điều động một loạt quân
thứ tiến ra và kéo về quanh Hà Nội để trấn áp, với các quan chỉ huy: Lê
Thập,
Chu
Đ́nh Kế, Hồ Uy (Oai), Nguyễn Chính (99)…
Sau khi Hà Nội thất thủ, vài
phủ huyện gần đấy bị bức chiếm, th́ một loạt thành lũy thủ phủ các tỉnh
lân cận cũng liên tiếp đầu hàng và bị đánh chiếm.
Trước hết là Hưng Yên
(23.11.1973) (100). Bọn Pháp đưa ra ba khoản, nếu bố chính sứ lănh tuần
phủ Nguyễn Đức Đạt, lănh án sát Tôn Thất Phiên [Phan] tuân theo, sẽ ổn:
một là, triệt bỏ trạm gác cửa quan (cửa vào tỉnh), bến đ̣; hai là, nhổ cọc
đóng rào ở cửa sông; ba là, niêm yết điều ước thương mại do chúng soạn
sẵn. Quan tỉnh Hưng Yên trả lời qua quưt như thể đồng thuận hoặc để hoăn
binh. Bọn Pháp bỏ đi (100).
Bắc Ninh, Thái Nguyên cũng
đầu hàng (101)…
Ngày mười bốn tháng mười nguyệt lịch (03.12.1873), quan tỉnh
Hải Dương (102) bảo bọn Pháp do Trentinian chỉ huy: Chờ lệnh triều đ́nh.
Chúng liền tấn công. Sau một hôm chiến đấu, thành mất (04.12.1873)! Lê Hữu
Thường, Đặng Xuân Bảng, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Đại trốn thoát ra đóng ở
các huyện Gia Lộc, Cẩm Giàng (102).
Ngày mười sáu
Nam
lịch (05.12.1873), tên giặc Pháp Hautefeuille chỉ huy tàu chiến đến Ninh
B́nh (103). Tuần phủ Nguyễn Thứ ra khỏi thành đón tiếp! Bọn Pháp dắt tay
tuần phủ vào thành (103)! Quân lính quỳ hai bên đường khi Pháp đi qua
(104). Chúng chỉ gồm vỏn vẹn một (01) thiếu uư và bảy (07) tên quân! Vào
thành, chúng nổ súng. Quân ta tan vỡ (103). Đây là một vụ đầu hàng nhục
nhă nhất, bi hài và thê thảm nhất! Tên linh mục Trần Lục, thường gọi là
cha Sáu, bộc lộ rơ bản chất tay sai, chỉ điểm đốn mạt. Đồng bọn với Trần
Lục c̣n có các tên cố đạo Tây dương khác (104).
Trong t́nh h́nh đó, các cung
đường trạm Nam – Bắc bị giặc Pháp và “tả đạo” chận phá, đón đường cướp ống
công văn, làm ách tắc liên lạc. Ngựa lính trạm đến Thanh Hoá là phải chạy
đường ṿng, nẻo tắt (105).
Chiếm xong Ninh B́nh, giặc Pháp chạy tàu chiến đến
Nam
Định (08.12.1873) (106). Hộ đốc Nguyễn Hiên phái lănh binh Nguyễn Văn Lợi,
thương biện Phạm Văn Nghị đón đánh ở đồn Độc Bộ. Nhưng rất tiếc, quân ta
thất bại, phải rút. Quan quân tạm đóng tại các huyện Phong Doanh, Ư Yên.
Đến sáng sớm ngày hai mươi mốt (10.12.1873), giặc Pháp chạy tàu chiến trên
sông Vị Hoàng, bắn dữ dội vào thành, cửa đông thành vỡ. Thành Nam Định
cũng thất thủ (106)! Giặc Pháp chiếm lấy thành ấy. Trong việc tên Harmand
đánh chiếm được
Nam
Định, có sự toa rập đắc lực của cố đạo Paulus Trịnh, một kẻ nuôi tham vọng
“phù Lê” (107)…
Như vậy, chỉ có ba tỉnh thành đă dũng cảm chiến đấu phản công, mặc
dù bị thất thủ: Hà Nội, Hải Dương, Nam Định. Riêng Ninh B́nh đầu hàng giặc
là một nỗi ô nhục lớn. Đó là chưa kể Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, ba
tỉnh này, chua xót thay, cũng ô nhục không kém ǵ!…
Vua Tự Đức liền mật sai Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết chọn một
ngàn (1.000) quân, kéo về Từ Sơn, một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, cùng với
tán lí Vũ Huy Thụy, tán tương Trương Quang Đản phối hợp canh giữ nghiêm
ngặt. Hoàng Tá Viêm được kiêm sung tiết chế Bắc Ḱ quân vụ, đổng suất các
tỉnh (108). Trần Đ́nh Túc được giao nhiệm vụ thương thuyết, phải làm thế
nào khiến bọn Françis Garnier rút quân (108). Vua Tự Đức mật dụ: “Cố
nhiên [chúng rút] là tốt; tất bất đắc dĩ phải dùng đến [việc] đánh, th́
cho [Hoàng] Tá Viêm điệu ngay quan quân các đạo cùng đánh” (108).
Quan quân đang hành quân ra, ở Ninh B́nh đường bị nghẽn! Ngẫu nhiên,
Trần Đ́nh Túc lại bị bệnh. Nguyễn Chính (Chánh), tả tham tri Bộ Lại, mới
được thực thụ thượng thư Bộ Binh, người B́nh Dương (Nam Ḱ), liền thay
Trần Đ́nh Túc, đổi làm thự tổng đốc Hà [Nội] – [Bắc] Ninh sung làm khâm
sai phỏng định thương ước toàn quyền đại thần. Trần Đ́nh Túc chỉ giữ chức
tuần phủ Hà Nội, Nguyễn Trọng Hợp cũng chỉ chuyển làm bố chính sứ Nam
Định.
“Vua lại bảo quan Cơ mật và Thương bạc rằng: “Thư của ta gửi đă
lâu, tướng nước [Pháp] ấy điềm nhiên, [mà] sứ thần [ta tại Gia Định] cũng
không báo [ra], [trẫm] rất là để ư mong. Nên viết thư ngay, phái quan mang
đi, hội đồng với sứ thần [Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doăn] đến
trách ngay trước mặt tướng [Dupré] ấy”. Quan Thương bạc đang nghĩ bản
thảo, tiến [dâng] lên [vua], đ́nh thần tâu rằng: “Tướng nước ấy từ khi
sang [Gia Định] đến giờ, thường đem chức toàn quyền [đại thần bàn định
điều ước] yêu cầu ta, [đó] là muốn chóng thành hoà ước, mà ta không chịu
theo như lời xin vội. (Nguyên ta cố yêu cầu [Pháp] trao trả ba tỉnh Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên, hoặc một, hai tỉnh mới chịu định hoà ước, cho nên
[ta] chưa phát giao [cho sứ bộ ta tại Gia Định] sắc và ấn toàn quyền). Cho
nên, [bọn Pháp] bề ngoài làm ra lời nói nhún để khoản tiếp ta, bề trong
sinh sự để quấy nhiễu ta. Nay [ta] muốn dẹp sự bạo động của An Nghiệp
[:Françis Garnier], giải [toả] việc cấp bách ở Bắc Ḱ, không ǵ bằng theo
ngay ẩn t́nh của tướng Du Bi Lê [:Dupré], thuận làm cho xong, ngơ hầu được
việc nhanh chóng.
Vua cho lời tâu là phải, bèn phát giao sắc, ấn toàn quyền đại thần,
chuẩn cho sứ thần Lê Tuấn làm toàn quyền, Nguyễn Văn Tường làm phó, cho
được cùng tướng [Dupré] ấy định hoà ước. Sau, sắc [và] ấn phát đến Gia
Định. Tướng nước [Pháp] ấy nghe tin, lập tức đến mừng [xă giao]. Sứ thần
[ta] nhân [dịp đó] cùng tướng [Dupré] ấy thương thuyết. [Sứ thần ta] bảo
rằng: “Hoà ước mới nay có thể định được, nhưng hiện nay việc ở Bắc Ḱ
quyết liệt, xin xử trí giúp cho xong sớm, [sau đó] định ước mới tốt”.
Tướng nước [Pháp] ấy chắc là [một khi] đă được [vua Tự Đức chấp nhận]
người toàn quyền, tất có thể định được hoà ước. [Y] bèn viết thư sức [:ra
lệnh] ngay cho An Nghiệp [:Françis Garnier] phải rút, để cho quan ta vào
thành làm việc. (Thư có hai bản, một bản phái tàu thuỷ đệ giao, một bản
phát đi đường bộ, hiện giao cho Nguyễn Văn Tường mang về tâu vua biết rồi
phát sau).
Lại bàn cho Nguyễn Văn Tường kèm dẫn thống sát là Hoắc Đạo Sinh (có
tên nữa là Phi Lặc [:Philastre]) [cùng] đi tàu thuỷ hộ tống bốn viên phải
[giặc Pháp] bắt ở Hà Nội [mươi hôm] trước mà nước Pháp phái chở về [Gia
Định], giao trả lại.
Thuyền đến Đà Nẵng, [phái đoàn hai bên] lên đi đường bộ về kinh [đô
Huế].
[Từ Đà Nẵng,] Phan Đ́nh B́nh về [kinh bằng ngựa trạm] trước, tâu
rằng: “Tôi theo sứ thần [Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doăn] đến
biện thuyết với tướng nước Pháp; tướng [Dupré] ấy đă thuận nghe, sức [:ra
lệnh] ngay cho An Nghiệp giao trả thành tỉnh Hà Nội. Đến khi xuống tàu,
lại được tin ba tỉnh [mất thêm], báo tiếp [vào], Nguyễn Văn Tường lại nói
với thống sát Hoắc Đạo Sinh [:Philastre], yêu cầu viên [Philastre] ấy viết
thư riêng bảo An Nghiệp phải theo lệnh tướng [Dupré] đem cả bốn (04) tỉnh
[Hà Nội, Hải Dương, Ninh B́nh, Nam Định] giao trả một thể. Thư của tướng
nước [Pháp] ấy và thư của viên thống sát [Philastre] ấy hiện mang về, đợi
phái.
Khi Hoắc Đạo Sinh [:Philastre] đến kinh [đô Huế], vua chuẩn cho yên
nghỉ ở Sứ quán. [Vua lại] sai bọn Lê Bá Thận, Nguyễn Hữu Lập khoản tiếp,
an ủi. Hoắc Đạo Sinh [:Philastre] vui mừng nói rằng:
“Được triều đ́nh
khoản đăi trọng thể như thế, cảm tạ không biết chừng nào!”” (110).
Như thế là phó sứ Nguyễn Văn Tường và thống sát Pháp Philastre đă về
đến Huế.
Lúc này, với chức năng khoản tiếp sứ giả Pháp, Lê Bá Thận và các
quan đă thuyết phục Philastre: Philastre nên cùng
Nguyễn Văn Tường ra Bắc Ḱ giải quyết tại chỗ việc trao trả bốn tỉnh vừa
bị Garnier đánh chiếm, sau đó mới có điều kiện thuận lợi để vào lại Gia
Định định “hoà” ước (111). Philastre nói, Philastre chỉ có lệnh ra đến Huế
rồi vào để định “hoà” ước, và Philastre sợ viên thuyền trưởng đang ở Đà
Nẵng không chịu ra Bắc, v́ viên thuyền trưởng ấy cũng không có lệnh ra Bắc
như thế. Nhưng các quan ta thuyết phục măi, Philastre bèn đồng thuận. Thư
của hai bên viết gửi vào Đà Nẵng cho viên thuyền trưởng, y nhận được, đọc
xong, cũng thuận theo như đề nghị (111).
Vua Tự Đức những muốn cho Phan Đ́nh B́nh cùng phái đoàn hai bên ra
Bắc Ḱ, v́ trước khi Hà Nội thất thủ và Phan Đ́nh B́nh bị bắt vào Gia
Định, ông vốn là khâm sai đại thần, trợ giúp cho khâm mạng đại thần Nguyễn
Tri Phương. Phó sứ Nguyễn Văn Tường thưa: Khi c̣n ở tại Gia Định, có nghe
bọn quan Pháp nói, Françis Garnier vốn ngờ Phan Đ́nh B́nh, lúc Phan Đ́nh
B́nh bị bắt vào ở Gia Định, Phan Đ́nh B́nh đă trách Françis Garnier, chỉ
rơ “chỗ kém [cỏi]” của hắn, ngay trước mặt Dupré, nên tướng Pháp Dupré bảo
Françis Garnier phải rút khỏi Bắc Ḱ. Dẫu sao, khi đă ngờ ghét nhau, rất
khó trao đổi. Đă thế, nếu lần này Phan Đ́nh B́nh cùng đi, th́ sợ rằng
Françis Garnier gây thêm trở ngại. Vua Tự Đức cho là phải (112).
Phan Đ́nh B́nh vốn rất biết ơn Nguyễn Văn Tường, lúc cùng các quan
Hà Nội khác bị bắt vào Gia Định, nhờ
“sứ thần Nguyễn Văn Tường hết sức cứu gỡ được khỏi” (113)
bị Pháp chở về nước Pháp. Nay một lần nữa, Phan Đ́nh B́nh thoát nạn, khỏi
bị khiển trách không làm trọn chức năng khâm sai, và trong thời gian bị
giặc bắt, vẫn giữ được khí tiết, dám tranh biện về bọn quan giặc với tướng
giặc… Mới cách đây mấy hôm, khi tàu thuỷ vừa cập bến Đà Nẵng, Phan Đ́nh
B́nh đă khôn ngoan tranh thủ phi ngựa trạm về kinh đô Huế, tâu trước với ư
báo công, nhằm tránh bớt sự giáng phạt, Nguyễn Văn Tường cũng thông cảm
cho ông ta…
Vua chuẩn cho phó sứ Nguyễn Văn Tường sung làm khâm sai đại thần
cùng với Philastre ra Hà Nội (112). Ngày mùng một tháng mười một nguyệt
lịch (20.12.1873), phái đoàn hai bên vào Đà Nẵng để lên tàu ra Bắc (112).
Phó sứ Nguyễn Văn Tường và mọi người vẫn chưa kịp hay Tráng Liệt bá Nguyễn
Tri Phương đă qua đời vào đúng ngày hôm ấy.
Vụ gây biến ở Bắc Ḱ, do Jean Dupuis và Françis Garnier cố t́nh tạo
ra, là vốn theo kế hoạch của bọn chóp bu tại nước Pháp và của nhiều đời
thống đốc Pháp tại Gia Định, từ De la Grandière đến Dupré. Nhưng vụ gây
biến ấy, nó không ngừng tại đó một cách êm xuôi, khoái trá đối với bọn
thực dân.
Chiến bại, ta làm sao đàm phán thắng lợi hoặc ít ra không đến nỗi
quá bị ép chế? Phải buộc bọn Pháp ngoa ngạnh sáng mắt ra, phải trả nợ với
giá chúng đă vay!
8
Cuối trung tuần tháng mười nguyệt lịch, ngay sau khi Hà Nội, Hải
Dương, Ninh B́nh, Nam Định lần lượt rơi vào tay giặc Pháp, Hoàng Tá Viêm
và Tôn Thất Thuyết đă được mật dụ kéo quân về trung châu Bắc Ḱ. Trong
t́nh huống hai bên, Pháp và Đại Nam, đều bị bó buộc bởi “hoà” ước Nhâm
tuất 1862, Pháp sử dụng tên lái súng phi chính phủ Jean Dupuis để gây hấn,
ta không thể không sử dụng Lưu Vĩnh Phúc, một tên người Hoa vốn là giặc Cờ
đen đă quy phục, nay chiến đấu như một hiệp sĩ cũng thuộc loại phi chính
phủ để đối trọng. Lưu Vĩnh Phúc cũng thực tâm quyết chiến đấu để trả ơn
chiêu phủ với triều đ́nh Đại Nam, mà người trực tiếp ban ơn cho ông ta là
Nguyễn Huy Kỷ, Trần Doăn Đạt và các tướng tá các quân thứ, Hoàng Tá Viêm,
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương… Tin Nguyễn Tri
Phương đang tuyệt thực để giữ khí tiết một danh tướng trong sự giam giữ
của giặc Pháp khiến quan binh đều xúc động, Lưu Vĩnh Phúc cũng rất đỗi cảm
phục. Và không thể nhẫn nhục, cam đành bại trận, thất thủ đến mức tổn hại
cho việc đàm phán “hoà” ước mới và thương ước đang h́nh thành. Do đó, phải
chiến, phải dằn mặt bọn Françis Garnier và Jean Dupuis!
Lưu Vĩnh Phúc, trước đây mươi hôm, được mật lệnh kéo quân về đóng
tại xă Hương Canh, thuộc huyện Từ Liêm. Đầu tháng mười một nguyệt lịch
này, ông tiến quân đến xă An Quyết, giáp cửa ô phía tây thành Hà Nội
(114).
Françis Garnier đang say sưa trong chiến thắng. Hôm qua, danh tướng
Đại Nam, người mới bị chính y đánh bại, vừa trút hơi thở cuối cùng, y càng
thấy đời sĩ quan thực dân của y thêm danh giá! Sáng chủ nhật này,
21.12.1873, Françis Garnier vừa đi dự thánh lễ mi-sa do giám mục Puginier
cử hành xong, ḷng khoan khoái lạ lùng.
Françis Garnier đi về phía dinh cơ của các quan Đại Nam mới được cử
tới thương thuyết với y. Y thấy ḿnh trở nên quan trọng hẳn lên, mặc dù
quân hàm y mang trên ve áo chỉ là quan ba (đại uư). Y thấy các đại thần
hàm tước rất cao và khá cao như Trần Đ́nh Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Trương
Gia Hội (115) trở nên bé nhỏ tội nghiệp hẳn đi. Françis Garnier mỉm cười,
thấm hiểu giá trị của sức mạnh vũ khí! Vũ Khí, ấy là tất cả! Mọi giá trị
tinh thần khác, với y, lúc này, đều vô nghĩa và láo toét!
Các quan Đại Nam đang miễn cưỡng phá lệ đứng dậy đón tiếp y.
Françis Garnier ngồi xuống, rút từ cặp xách tay bản thương ước do
chính tay y soạn thảo và đă niêm yết bản sao ở hầu hết các tỉnh Bắc Ḱ
này. Trong các bản niêm yết ấy, Françis Garnier không ngượng ngùng tự xưng
ḿnh là
Le grand mandarin Garnier! Quan lớn Garnier! Quan đại thần Garnier!
Rất hẳn hoi!
Đang cùng bàn luận vài điểm, mọi người đều ngạc nhiên khi có một tên
lính Pháp vội vă chạy vào thưa với Françis Garnier, giọng căm tức:
- Thưa đại uư, có một bọn người Hoa đến khiêu khích, nhục mạ chúng
ta và cả nước Đại Pháp quang vinh!
- Mày nói sao? Có điên không đấy? – Françis Garnier phẫn nộ trong
ngơ ngẩn, kinh ngạc –.
- Vâng, thật như vậy, bọn chúng nguyền rủa cả Tổ quốc Đại Pháp của
chúng ta là đất nước của bọn ăn cướp. Chúng kêu cả tên đại uư để chửi. –
Tên lính Pháp hơi ấp úng, không dám nhắc lại một điều phạm thượng đến mức
khủng khiếp nhất –. Vâng, chúng c̣n… chúng c̣n…
Françis Garnier đứng bật dậy, mặt vốn trắng bạch, bỗng rần đỏ như
tôm luộc. Quên cả phép lịch sự tối thiểu, y chụp ngay cổ áo tên lính:
- Nói ngay! Chúng c̣n làm ǵ?
Tên lính Pháp vốn xanh lè mắt lại càng xanh lè hơn:
- Chúng trói tên lính gác của ta,… kéo cờ Tổ quốc Pháp xuống, … giẫm
chân lên và khạc nhổ vào lá cờ tam tài ấy!
Bộc lộ rơ bản chất lưu manh của một tên sĩ quan trẻ không đến nỗi vô
học, Françis Garnier văng tục rất bẩn, lao ngay ra cửa, quên phắt cả một
câu chào những vị quan Đại Nam và đồng bọn y, trong đó có giám mục Sohier
(B́nh), linh mục Dangelzer (Đăng), đang hiện diện ở tiền sảnh.
Trần Đ́nh Túc liền nói với theo:
- Tất nhiên đó không phải là quân của chúng tôi, mà chỉ là bọn côn
đồ người Khách!
Sohier dịch nhanh ra tiếng Pháp, và tin chắc Françis Garnier đang
chạy vội cũng kịp nghe rơ.
Bỗng những quả đạn pháo rơi xuống trên sân! Thế là bọn này đánh
thành sao? - Françis Garnier chợt nghĩ –. Y lập tức nhảy lên thành quan
sát. Đằng xa, phía cửa Tây Nam, Françis Garnier thấy một toán quân lố nhố
đang vây quanh mấy khẩu thần công vác vai. Y nâng ống nḥm, thấy rơ đó là
những người Tàu dưới lá cờ màu đen tuyền.
Françis Garnier ra lệnh nả đại bác. Súng của y sử dụng khá chính
xác. Toán quân Cờ đen thối lui, vác súng t́m chỗ núp.
-
“Ta không thể nào để một địch quân như vậy ở cách thành chỉ một ngàn
thước” (115).
–
Françis Garnier nói –.
Françis Garnier ra lệnh cho mấy sĩ quan bên cạnh và một tiểu đội
theo y ra mở cửa thành. Toán giặc Pháp này quyết tâm truy kích quân Cờ
đen. Y chia quân thành bốn nhóm: 3 tên kéo súng nặng đi sau cùng, c̣n lại
chín (09) tên, chia làm ba (03) nhóm, nhóm Françis Garnier phóng ngựa
(114) đi giữa. Kéo quân đi khỏi thành khoảng một ngàn rưỡi (1.500) mét,
khi đến trước cái đập tại Ô Cầu Giấy, ngựa Françis Garnier vấp chân, y té
ngă. Quân Cờ đen đang mai phục, thấy dịp may đă đến, liền vượt bờ đập trèo
qua, chĩa súng bắn. Hai (02) tên lính Pháp chết ngay tại chỗ, hai (02) tên
khác bị thương, nằm lăn lộn trên đất. Garnier cũng đă kịp rút súng lục bắn
sạch sáu viên đạn. Nhưng chưa kịp thay băng đạn mới, những lưỡi đao sáng
quắc đă vung tới, chém lên ḿnh tên nhăi nhép thực dân những nhát đầy căm
uất (114) (116).
- Cắt lấy đầu, mang đi! Thế là đủ cho chúng biết lễ độ! Rút! – Lưu
Vĩnh Phúc nói –.
Không ai khác, chính Lưu Vĩnh Phúc đưa một nhát rất ngọt ngang chiếc
cổ đầy tàn nhang của Françis Garnier, và túm lấy mái tóc vàng hoe của hắn,
nhấc lên, nhảy phóc lên lưng ngựa, phóng đi. Toán quân vác súng, lên ngựa,
chạy theo.
Tên chuẩn uư Balny đang chạy tới với nhóm lính Pháp của hắn, ngơ
ngẩn nh́n cái xác không đầu của Françis Garnier và mấy cái xác đồng bọn
bên cạnh. Balny không ngờ Lưu Vĩnh Phúc vẫn c̣n cho quân mai phục, bởi ông
biết thế nào bọn Pháp cũng sẽ đến nhặt xác tên chủ tướng quan ba tép riu
Françis Garnier. Những phát súng của quân Cờ đen bắn thật chính xác ở cự
li gần, tiếp sau đó là những lưỡi đại đao ngời màu thép trắng. Trọn nhóm
Balny rụng xuống không sót một tên (116).
Năm chiếc đầu giặc bị chém: một (01) quan ba (Françis Garnier), hai
(02) quan một (Balny…), hai (02) tên khác không mang quân hàm (114).
Cả Hà Nội và các tỉnh lân cận bị quân của Françis Garnier đánh chiếm
đều truyền tin chiến thắng ấy đi, với sức mạnh ngầm. Đối với bọn Pháp và
“tả đạo”, nhất là những tên cơ hội mới ra mặt làm tay sai cho Pháp, tin ấy
như địa chấn, làm rúng động chúng đến tận tim đen. Bọn Hán gian (Hoa kiều)
mới hôm đầu tháng mười một nguyệt lịch, Quư dậu (1873), c̣n hănh tiến với
chức quan tay sai do Françis Garnier giao cho, bấy giờ đă toan gây biến
khi thấy Trần Đ́nh Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Gia Hội, Hoàng Đôn Điển,
Sohier, Dangelzer đến gặp Françis Garnier để thương thuyết (117), lúc này
lại run rẩy với mức độ không kém bọn dân “tả đạo”. Số lượng dân Bắc Ḱ, cả
lương lẫn giáo, cam tâm hoặc nhiệt t́nh làm tay sai cho Françis Garnier
lên đến con số kinh hoàng: một vạn hai (12.000) đến một vạn tư (14.000)
tên “lính bản xứ” (118)! Trong lực lượng Việt gian, phản quốc đó, tất
nhiên giáo dân
“tả đạo”
vẫn chiếm tuyệt đại đa số, và một số không ít khác vốn là những kẻ bất
măn, như Hồ Văn Vạn, sử dụng chiêu bài phù Lê (119)!
Françis Garnier bị hạ sát, sự thể ấy khiến bọn quan lính thực dân
Pháp mất khí phách, căm thẹn, nhưng vẫn cứ ngoan cố, chỉ một mực đ̣i định
ngay thương ước như cũ. Một tên quan hai được chúng tự bầu lên thay
Françis Garnier. Tên này mặc dù tim đập chân run, cũng cố trương gân cổ
khẳng định chúng vẫn không nao núng. Y bảo: định thương ước xong mới giao
trả các tỉnh (120).
Hay tin, vua Tự Đức cho rằng
“đoàn quân của họ Lưu nhử giết được An Nghiệp [Françis Garnier] chỉ do mưu
kế nhất thời. Nếu đường đường chính chính cùng nhau chọi được, tưởng cũng
khó giữ lâu. Hiện nay việc thương thuyết đă gần có đầu mối. Nói chung xử
trí toàn cục, tất không chỉ dựa vào đoàn quân ấy [mà] xong việc được. Nên
sai về chặn ở thượng du là ổn”
(121). “[Nhà vua] bèn xuống dụ bảo Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết rằng:
“Đương lúc có việc này, lại biết cổ động cho quân đội hăng hái, giương
thanh thế cho quân địch phải sợ, đại cục nhân đấy mà thoả thuận, thực rất
vui mừng…””
(121).
Nhưng lúc sắc dụ chưa ra đến, Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết cũng
chưa rút quân. Họ trả lời các quan trong nhóm Trần Đ́nh Túc: “Tướng
ở ngoài chỉ biết lo đánh giặc. Nếu quả có dụ chuẩn cho giảng giải [thương
thuyết], nên phái viên [quan] đi đến quân thứ bảo cho biết rơ, mới dám cậy
tin” (122).
Nhóm Trần Đ́nh Túc phải đến ngay, trực tiếp bàn bạc, Hoàng Tá Viêm và Tôn
Thất Thuyết mới ra lệnh đóng quân không động tĩnh, với hạn định chỉ bất
động tĩnh trong ba ngày.
Bọn Pháp tại Hà Nội vẫn khăng khăng mặc cả các khoản “hoà”
ước mới, trong đó có một điều:
“nước [Pháp] ấy đă đặt quan lại [do Pháp chọn], [triều đ́nh nước Đại Nam]
vẫn để cho làm việc, không được băi bỏ” (123)!
Tên thực dân cáo già Dupré tại Gia Định hay tin Françis Garnier chết,
liền cử Esmez ra thay (123).
Hai bên lại tiếp tục bàn định, ngay cả vào ngày lễ Giáng sinh của
Thiên Chúa giáo (25.12.1873 [06.11, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quư dậu]
(124)).
Trần Đ́nh Túc lại được chuẩn làm khâm sai phỏng định thương ước toàn
quyền đại thần (125). Quan họ Trần (người Quảng Trị) này với Nguyễn Trọng
Hợp (người Hà Nội) sẽ cùng với khâm sai đại thần Nguyễn Văn Tường định
điều ước thông thương. Nguyễn Chính (Chánh) lại được trả chức, và được
sung làm Bắc Ḱ kinh lược sứ, nhưng vẫn ở lại Thanh Hoá lo việc trấn áp
bọn xuẩn động (125).
Ngay sau vụ hạ sát Françis Garnier, t́nh h́nh vẫn chưa yên. Giặc
biển Tàu Ô lại chiếm đánh Hải Dương, nhưng bị quân ta đánh tan (126). Quân
gian theo “tả đạo” lại lấy cướp đồ thờ ở đền Sùng Sơn (thuộc núi Tam Điệp,
Thanh Hoá) để khiêu khích (127)!
Trong những ngày đó, phó sứ Nguyễn Văn Tường và thống sát Philastre
cùng hai đoàn tuỳ tùng đang từ Đà Nẵng đi tàu thuỷ ra Bắc Ḱ, trên chiếc
Đát Tờ Gi (D’Estrées) (128).
Hết
tệp 3 truyện kí thứ 7
Viết
đến ḍng chữ cuối của truyện kí thứ 7
vào lúc 11 giờ
kém 05,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(74)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 328.
(75)
Thư Françis Garnier, trong cuốn:
Françis Garnier l’assaut des Fleuves
của Roger Vercel,
dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 186 – 187.
(76)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 329.
(77)
Thư Françis Garnier, trong cuốn:
Françis Garnier l’assaut des Fleuves
của Roger Vercel, dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 187 – 188.
(78) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 330 – 331.
(79)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336.
(80) NTP., sđd., 1974, tr. 179.
(81)
NTP., sđd., 1974, tr. 192 – 193.
(82) Trần Trọng Kim,
Việt Nam sử lược
(VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 520 – 521.
(83)
NTP., sđd., 1974, tr. 190 – 191; L.E. Louvet,
Vie de mgr. Puginier,
dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993,
tr. 82.
(84)
CXL., sđd., 2001, tr. 302.
(85)
NTP., sđd., 1974, tr. 193.
(86)
NTP., sđd., 1974, tr. 194 – 195.
(87)
Thư Françis Garnier, trong cuốn:
Françis Garnier l’assaut des Fleuves
của Roger Vercel,
dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 87.
(88)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336.
(89)
NTP., sđd., 1974, tr. 210 – 212.
(90)
NTP., sđd., 1974, tr. 197, 201; CXL., sđd., 2001, tr. 304.
(91)
NTP., sđd., 1974, tr. 200; ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 349.
(92)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336.
(93)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336 – 337.
(94)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 337 – 338.
(95)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 480.
(96)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 337, 339.
(97)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 337.
(98)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 338.
(99)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 338 – 339.
(100)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 339. Trần Trọng Kim,
Việt Nam sử lược
(VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 515:
“Thành Hà Nội thất thủ rồi, quan ta th́ trốn tránh đi cả, giặc cướp lại
nổi lên. Đại uư Françis Garnier lại cho những người về theo với ḿnh đi
làm quan các nơi để chống với quan triều, rồi lại sai người đi đánh lấy
tỉnh Ninh B́nh, Nam Định, Hải Dương”.
(101)
NTP., sđd., 1974, tr. 203.
(102)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 339 – 340; CXL., sđd., 2001, tr. 311 –
312. Trần Trọng Kim,
Việt Nam sử lược
(VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 521:
“Ở mạn Hải Dương và Quảng Yên th́ vẫn có những người mạo xưng là con cháu
nhà Lê, cứ quấy rối măi. Khi Françis Garnier ra lấy Hà Nội, những người ấy
về xin theo đi đánh quan ta, nhưng v́ sau nước Pháp trả lại các tỉnh ở Bắc
Ḱ, họ lại tản đi. Vả từ khi nước ta và nước Pháp đă kí hoà ước rồi, quan
Pháp có đem binh thuyền đi đánh giúp, cho nên mới tiệt được đảng ấy”.
(103)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 340.
(104)
CXL., sđd., 2001, tr. 340.
(105)
NTP., sđd., 1974, tr. 203; CXL., sđd., 2001, tr. 340.
(106)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 340.
(107)
CXL., sđd., 2001, tr. 312.
(108)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 341.
(109)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 341 – 342.
(110)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 343.
(111)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 343 – 344.
(112)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 344.
(113)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336.
(114)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 349 – 350.
(115)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 348 – 349, 350.
(116)
NTP., sđd., 1974, tr. 217, 216 – 218.
(117)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 349.
(118)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359: một vạn hai (12.000) tên, hẳn chưa
kể số quan chức tay sai. Theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH.
TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 78: số “lính bản xứ”, tay sai ở Bắc Ḱ ấy là
một vạn tư (14.000) tên!
(119)
Jean Dupuis, xem chú thích (39).
(120)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 351.
(121)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 350.
(122)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 351.
(123)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 351.
(124)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 351.
(125)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 352.
(126)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 352 – 353.
(127)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 353 – 354.
(128)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 355.
Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 3
(PHÂN ĐOẠN 3 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
Xin xem tiếp TỆP 4
(phân đoạn 4 truyện kí
thứ 7)