Tệp 2
– Tập III
(PHÂN ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 9)
TRẦN XUÂN AN
BẮC K̀,
TƯỞNG CHỪNG LẶP LẠI
Truyện thứ chín
(phân đoạn 2)
6
Tháng bảy
nhuận, tổng thống thuỷ sư Pháp Đa Phù Cô (?) lại ngang nhiên du thám một
loạt tỉnh Bắc Ḱ, từ Hải Dương đến Hà Nội, Ninh B́nh, Nam Định, Sơn Tây,
Hưng Hoá và cả đạo Mỹ Đức (thuộc Hà Nội, mới đắp thành luỹ) (44). Y lại
phái viên thương biện Ô Mốt (?) đến Lạng Sơn khảo sát địa h́nh, địa thế
(44)! Thế là từ đầu năm đến nay, Pháp đă mấy lần vin vào danh nghĩa “y tế”,
“du học bác vật” để trắng trợn toan tính vận động người thượng du từ Nam
đến Bắc, để trắng trợn khảo sát thực địa, phục vụ cho âm mưu đánh chiếm
Bắc Ḱ, và chắc hẳn không chỉ Bắc Ḱ…
Trước t́nh h́nh căng thẳng ở Bắc Ḱ, Phạm Thận Duật mật tâu bốn kế
sách đối phó về quân sự (45). Có một điều là Phạm Thận Duật cho rằng quân
ta sử dụng súng không được giỏi, nên cần chú trọng đến các vũ khí thô sơ
và chiến thuật phục binh đột kích, đánh úp ban đêm. Các đại thần Viện –
Bạc, trong đó có cả Phạm Thận Duật, đă cùng nhau bàn luận, bổ cứu thêm.
Tất cả bốn đại thần đều xác định giặc Pháp mạnh về tàu thuỷ, về súng đạn
có sức công phá lớn, cho nên,
giữ mặt biển là rất
khó. Do đó, một là, phải lo trù tính
thêm việc củng cố hệ thống sơn pḥng (làm thành luỹ, kho chứa…). Hai là,
việc giữ đường sông rất cần thiết, phải khảo sát thước tấc ḷng sông, lưu
lượng nước sông, đồng thời lo đóng
thuyền chở sẵn đá, để ngăn sông. Điều thứ ba, phải tổ
chức, luyện tập việc cứu viện nhanh. Viện – Bạc cho rằng không thể không
dùng súng: “Việc binh có súng ống, có
thể mạnh thế quân mà đánh giặc tự đằng xa. Nếu câu nệ là không giỏi mà
muốn dùng thứ khác, sợ không phải là tốt cả”, “không phải xác định dùng
khiên, mộc, gươm ngắn, tay thước làm ǵ”
. Phải dùng súng Tây, và tất nhiên phải vận dụng chiến
thuật đánh úp, phục kích, phải xét đến thời điểm bọn giặc được
cấp phát
rượu (có chất kích động?) để kích thích sự hung hăng khi xuất trận, ấy là
điểm thứ tư. Kế hoạch này
cần tuyện đối bí mật, pḥng thủ theo chiến thuật hư binh
(tăng cường pḥng thủ nhưng không để lộ tiếng tăm, dấu vết),
chứ không phải
pḥng thủ theo lối thị uy lộ liễu, bởi
Pháp sẽ vin vào “hoà” ước để trách cứ ta. Thượng thư Bộ H́nh Phạm Thận
Duật thật ḷng thấy rơ là ông đă được sáng thêm nhiều lẽ trước sự bổ cứu
của tập thể tứ trụ triều đ́nh, trong đó có ông (45).
Sau cuộc họp Viện – Bạc hơn nửa tháng, vào khoảng gần cuối hạ tuần
tháng tám nguyệt lịch năm Tân tị (1881) này, sự khiêu khích của Pháp đă
trắng trợn, rơ rệt hơn. Trước đây, De Champeaux c̣n mượn miệng linh mục
hành nhân Nguyễn Hoằng để thách thức, hăm doạ triều đ́nh, rồi y lại chối
phắt. Nay, chính Rheinart nói thẳng với quan Thương bạc Nguyễn Trọng Hợp.
“Lúc bấy giờ,
sứ nước Pháp là Lê Na [Rheinart] đă sang thay, nói với quan Thương bạc [lúc
này là Nguyễn Trọng Hợp]:
“Trong hoà
ước có nói, nước ta có việc, nước ấy phải giúp, tuy không nói rơ là “bảo
hộ”, nhưng ư nghĩa đă bao hàm ở trong. Nay khoản ấy triều đ́nh nước ấy đă
định làm, mà làm như thế, nước ấy [nước Pháp] không lấn quyền nước ta, chỉ
bắt ta không được giao thiệp với nước khác thôi. Ta nếu không nghe, nước
ấy cũng bắt làm cho được”.
Triều đ́nh
rất lấy làm lo” (46) .
Đó là nỗi lo
xen lẫn với niềm phẫn nộ. Nhà vua, đ́nh
thần và biên thần đều quá rơ âm mưu “tàm thực” từ lâu của thực dân Pháp và
các nước Âu Mỹ khác, không riêng với nước Đại Nam ta, mà cả với các lục
địa Á Tế Á (Asia), A Phi Lị Gia (Africa), Nam Mỹ Lợi Kiên (South America)
và châu Úc Đại Lợi (Australia, châu Đại Dương). Nước ta nhận thức rơ thế
yếu của ḿnh, cả về công nghệ, thương mại lẫn lực lượng quân binh, nhất là
vũ khí. Lịch sử dân tộc có những giai đoạn hào hùng, quật khởi bi tráng,
đánh bại những triều đại hung hăn và hùng mạnh nhất của Trung Hoa, kể cả
ba lần chiến thắng, đập tan lực lượng xâm lăng cuồng bạo của đế quốc
Nguyên – Mông vô địch thế giới, nhưng hiện tại của bản triều nhà Nguyễn là
suy trầm, lạc hậu đến bi thảm và bi hài. Nhận thức ấy là trí, không hề
hoang tưởng về thực lực đương thời của nước ḿnh, các lân bang, và các
nước cùng chung vận mệnh. Cái dũng không thể không đặt trên cơ sở cái trí.
Nhưng cũng không có nghĩa phải khuất phục thảm hại trước uy vũ của bạo
cường.
Vẫn giữ vững
cái dũng một cách mềm dẻo: cương cường trong nhu nhược (47), Viện Cơ
mật – Thương bạc tuân chỉ dụ của vua Tự Đức, lại cùng nhau bàn luận để
t́m ra một đối sách thích ứng với t́nh huống, phù hợp với thực lực.
Sau nhiều
cuộc họp ở Tả vu Điện Cần chánh, một bản tập tâu đă được tứ trụ triều đ́nh
dâng tŕnh lên vua. Bốn đại thần Viện – Bạc, từ Trần Tiễn Thành (người Huế,
gốc Minh Hương), Nguyễn Văn Tường (người Quảng Trị), Phạm Thận Duật (người
Ninh B́nh) và Nguyễn Chính ([Chánh], người B́nh Dương, Biên Hoà, Nam Ḱ)
đều thật sự cảm thấy có ǵ thật thương tổn đến đến niềm tự hào, tự trọng
khi cần phải nhận thức thật đúng về thực lực của Đất nước và của các nước
cùng chung vận mệnh khốn khó trước hiểm họa thực dân da trắng. Nhận thức
thật chính xác về thực lực, thấy thật rơ những yếu kém, lạc hậu và cũng
phải thấy những ǵ có thể vận dụng để đối phó trước mưu toan của Pháp. Đó
là mưu toan xâm lược Bắc Ḱ, đ̣i “bảo hộ” triều đ́nh Đại Nam. Chính tên
khâm sứ Rheinart lần này trắng trợn nói ra như thế với Nguyễn Trọng Hợp!
Gần đây, để bảo đảm sự xác thực của những tâu báo từ Nha Thương bạc do
Nguyễn Trọng Hợp quản lí, nhà vua đă cho phép các quan chính khanh (thượng
thư, đại thần Viện – Bạc) có quyền trực tiếp tiếp xúc với khâm sứ Pháp
(48). Và thật sự Rheinart thừa nhận chính y đă nói thẳng với triều đ́nh
thông qua Nguyễn Trọng Hợp như thế. Đó là sự thật. Và đồng thời đó cũng là
một sự thách thức ngạo mạn.
Bản tập tâu
kí tên chung của Viện – Bạc đă h́nh thành trong tâm thế chung như vậy, với
bốn sắc thái và mức độ khác nhau của bốn đại thần. Trong bốn đại thần,
Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường đă chia về hai cực, nhưng Trần Tiễn
Thành vẫn là người muốn tranh thế thắng cho khuynh hướng buông xuôi, đầu
hàng, thường tự gọi bằng từ chủ “hoà”. Dẫu sao, không phải Trần Tiễn
Thành muốn làm ǵ, tâu ǵ cũng được, nếu lấy danh nghĩa là Viện – Bạc.
Tinh thần chung của đối sách có tính t́nh huống vẫn là: cương cường trong
nhu nhược!
“Quan Viện
Cơ mật – Thương bạc tâu nói:
“Tướng và sứ
nước [Pháp] ấy để ư đă lâu, nay tính sẽ làm, mưu đă sắp thành, tưởng cũng
khó tranh luận khúc chiết với [bọn tướng, sứ] nước ấy. Tất [:ắt hẳn] phải
phái người sang nước ấy, hoặc [:may ra] có thể làm việc được. Khâm phái
Nguyễn Thành Ư là người tài giỏi, sáng suốt, am hiểu. Xin phái biện lí
Nguyễn Lập thay làm lănh sự, để cho Nguyễn Thành Ư về kinh, rồi bàn hỏi
t́nh trạng gần đây cử động nước ấy thế nào, có nên phái người sang nước ấy,
đem t́nh, ư [:chính kiến] của ta cùng sự lí biện bạch, khiến cho công lí
được rơ ràng, hoặc có thể bài giải được. Việc đi ấy, nghĩ nên [thông] tư
trước cho tướng và sứ nước ấy, nói hai khoản ta [trước đây] đă [từng] nói:
về đặt sứ [bố trí khâm sứ Đại Nam, tại Paris] và sai sứ đi [Paris]; th́
việc đặt sứ hiện nay đợi làm, c̣n như sai sứ đi là t́nh nghĩa hỏi thăm nên
như thế. [Sứ thần] nước ta nhất định phải đi. Nếu nước ấy có thuyền công,
cho tiện đáp cũng tốt. Không được như thế cũng nhân tiện đáp thuyền khác
là ổn. Như thế nước ấy khỏi ngờ, mà nước ấy không nói vào đâu để ngăn cản
được. Việc ấy nghĩ nên làm ngay, khỏi lỡ việc sau”.
Vua bảo rằng:
“Việc ấy
trọng đại, tưởng nước ấy chưa dám trái lời ước [:“hoà” ước], yêu cầu [:yêu
sách] ngay. Nhưng BỌN NGƯƠI
[xin nhấn mạnh: đại từ số nhiều – TXA.] ở ngoài giao tiếp
với nước ấy, và kiến văn hẳn rộng, tính trước việc cho khỏi lo, [việc] nên
theo, để cho làm hết chức phận”.
Quan Cơ mật
viện và Thương bạc lại tâu nói:
“Nước ấy đă
mưu, không phải một ngày. Nay chưa phát ngay, nhưng cũng chưa thôi hẳn.
Nay nếu ta chỉ đến nước ấy, nói phân trần, sợ chưa chắc đă có cơ hội; mà
ngăn ngừa
ta giao thông với nước ngoài, là chỗ giảo quyệt của nước ấy. Duy trong ước
[“hoà” ước Giáp tuất 1874] có một điều,
“nước ta
muốn định thương ước với nước nào đều được tuỳ tiện”, th́ nước ấy đâu có
thể trái lời ước được. Nhưng ta từ trước đến giờ chưa giao thông với
các nước, mà nước ấy không khỏi giữ ngầm ở trong, nên sáu, bảy (06, 07)
năm nay, các nước chưa nước nào đến định thương ước với nước ta. Gần đây
ta cùng với nước Y Pha Nho định ước, giao ước với nhau đă lâu, mà nước ấy
[nước Y Pha Nho] cũng chưa có đến, th́ t́nh [:ḷng dạ, ư đồ của Pháp] có
đáng ngờ; cũng là [bởi] t́nh [:quan điểm, chính kiến] của ta chưa thông
với các nước, cho nên nước ấy [nước Pháp] mưu làm tự chuyên. Vả lại giao
thiệp với nước ngoài thực khó, ta chỉ sợ khích nước ấy, ḷng mưu [mô thôn]
tính ta, v́ đó lại phát ra. Nay mưu nước ấy sắp thành, ta há nên không
giải quyết sớm, huống chi ta cũng cứ lí mà làm, làm sáng cho chúng biết,
có trái ước ǵ đâu, mà chúng vin cớ để nói được. Nguyễn Thành Ư bất nhật
cũng về [kinh đô Huế]. Xin chờ chỉ [dụ] phái đến nước ấy hỏi thăm, và
đem việc ấy biện thuyết. Nhân [đó] đến ngay các nước [khác] cũng tiện.
Nhưng tự
trước đến giờ [nước ta] thường bị
nước ấy ngăn trở, v́ ta không có tàu, chỉ đáp tàu với nước ấy, tùy
theo nước ấy đi hay đứng mà phải thế. Nay xin sửa soạn tàu của ta, chọn
người ở triều đ́nh có ḷng đảm đương công việc, lấy hai, ba người, lấy cớ
đi t́m học về bác vật, như nước Thanh cho người đi học các nước, [thông]
tư rơ trước cho nước ấy biết. Đến lúc đi th́ đến nước [Pháp] ấy trước; [sau
đó,] nhân [dịp] chuyển đi các nước Y [Tây Ban Nha], Anh, Phổ [Đức], Mỹ,
khiến cho các nước biết ta tự chủ, nhân đó mà thông suốt t́nh ư [:chính
kiến nước ta]. Tục Thái Tây [Âu Mỹ] thích giao thiệp chơi bời với nước xa.
Ta đến, tự khắc không nước nào không nhận. Tưởng cũng có nước muốn giao
thiệp thông thương với nước ta, thực [sự] khiến cho t́nh [:chính kiến] của
nước ta thông suốt các nước. [Được thế] th́ nước ấy không thể tự ư làm càn
được. Nếu nước ấy có ḷng nào bắt
ức ta, ta cũng có thể cùng các nước điều đ́nh giúp bàn lại, tưởng cũng là
một kế đấy.
Lại xét đến
tàu máy hơi nước: Hiện có tàu Lợi Đạt và tàu mới đóng ở Hương Cảng, cũng
có thể đi được. Duy người ngắm hoa tiêu và máy tàu tất phải thuê người Tây
[dương (:người Âu Mỹ)], mới có thể quen biết đường biển đi sang Tây [châu
Âu, châu Mỹ]. Người nước ấy ra làm công là thói thường của nước Tây [dương].
Tàu thuỷ, tàu binh của nước Thanh đều thuê người Tây làm ngắm hoa tiêu và
[lái, chữa] máy tàu, tức như những tàu buôn ở nước ta cũng đều thuê người
Tây [dương], không có trở ngại ǵ. Xin tư trước cho khâm phái ở Hương Cảng
là Phạm Bính, Hà Văn Trung thuê sẵn người Tây [dương] ngắm hoa tiêu và [lái,
chữa] máy tàu đều một người. Đợi quả quyết đi, sẽ làm việc. C̣n tàu đi
cũng nên đáp tải ít nhiều hàng hoá, vừa đủ tiền phí tổn nhỏ. Việc ấy nếu
được chuẩn y, th́ công việc nên làm sẽ do quan có trách nhiệm chiểu từng
khoản, bàn định trước.
Lại việc này
c̣n xa, nay gần mà có thể giao thông được th́ ở Yên Kinh [kinh đô nước
Thanh], sứ các nước đều ở đấy. Nhiều lần sứ bộ ta sang Yên Kinh chưa biết
bàn đến việc ấy, v́ sự thể giao tế khác nhau, cho nên khó làm. Nay có Cục
Chiêu thương chở hàng thuê, do quan ở Cục ấy giới thiệu, tưởng cũng là một
cơ hội. Gần đây tiếp được tin
báo Đường Đ́nh Canh tháng này cũng đến, xin do BỌN TÔI [xin nhấn mạnh:
đại từ số nhiều – TXA.] thương thuyết, nhờ viên ấy ngỏ ư với Lư Hồng
Chương, nhờ mật ḍ ư [của] sứ các nước Anh, Mỹ, Phổ [:Đức], để nắm được
cốt yếu, thông thuyết giúp cho. C̣n sứ Y Pha Nho
ở đấy, nước ấy đă định ước với ta, th́ nên bàn với họ. Nước Thanh gần đây
tranh nước Lưu Cầu [: nước Riu Kiu, nay là đảo Okinawa] với nước Nhật Bản
mà không được [v́ có sự can thiệp của tổng thống Mỹ Grant]. Nay nước ấy [nước
Thanh] làm việc cho ta, cũng là làm việc cho nước ấy [:nước Thanh bảo vệ
nước ta, cũng chính là bảo vệ phên giậu phía nam của nước Thanh]; tưởng
cùng ṇi giống [da vàng] với ta cũng lo [:lo âu về các nước thực dân da
trắng], tất hết ḷng mưu thực mà việc chóng xong. Việc ấy năm trước có một
nhật báo cũng có ư như thế. [Ư ấy đă có người đăng báo] cũng có thể biết
là lẽ ấy ai cũng đều biết. Nay xin cùng với các khoản trước, xin chọn phái,
đều phải cùng làm, may ra dẹp tan được [tham vọng, âm mưu xâm lược của
Pháp], để giữ toàn cục”.
Vua bảo rằng:
“Hiện nay
đương mưa lụt. Đợi [Nguyễn] Thành Ư về [kinh đô Huế], hỏi rơ, và tàu bè đủ,
mới có thể nói đến việc đi [sang Pháp và các nước Âu Mỹ như đă bàn]”” (49)
.
Như vậy,
trong tháng bảy, tháng tám năm Tân tị (1881), tập thể Viện – Bạc và vua Tự
Đức đă vạch ra kế hoạch tăng cường pḥng thủ hư binh và đối sách phá vỡ
sự cấm vận, bao vây ngoại giao của thực dân Pháp. Sứ bộ đi Pháp cũng
đang được tuyển chọn, lên danh sách.
Tuy vậy, mọi
việc đều ứng xử như chưa có ǵ xảy ra.
Tháng chín,
Bắc Ḱ cũng đang lâm vào cảnh tiêu điều v́ thiên tai băo lụt. Phan Đ́nh
Phùng và Đặng Trần Hanh được cử ra để cứu trợ, phát chẩn (50). Thượng thư
Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường tuân lệnh dụ hỏi han về t́nh h́nh thiên tai ở Bắc
Ḱ (51).
Tháng mười
nguyệt lịch, một cách ngang nhiên, “phái viên nước Pháp đi xem các mỏ
ở Quảng
Nam và Bắc Ḱ”
(52) , cũng như tháng trước, bọn thương nhân Pháp “theo đường
Hưng Hoá đi Vân
Nam, đến Lũng Lỗ,
cùng khiêu khích với đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc rồi trở về. Lănh sự Pháp
[lại] đem việc ngăn trở việc buôn trách ta” (53)! “Lê Na [Rheinart] tư vị,
cố chấp ngang ngược (như việc bênh vực tên Đỏ [thuộc hạ của y])” (54) lại
là một việc có thể nói là cố t́nh khích
biến. Do đó, Trần Thúc Nhẫn, tả thị lang Bộ Lễ, đă được phái vào Gia Định
để “tranh luận cho khúc chiết” (55) .
T́nh h́nh ở
Bắc Ḱ vẫn được lưu ư nghiên cứu, theo dơi. Trong đó, có một sự đánh giá
khá ưu ái về những người Việt gốc Chăm, gốc Xiêm:
“Băi bỏ binh
đội Lạc Hoá phủ Lư Nhân (thuộc Hà Nội). Tiên tổ nước ấy trước là hai
đội Chiêm Hậu, Xiêm Hậu (đều là người man [!!!]), [vốn có] tài bắn súng
nỏ. Trước khi dẹp yên cả nước, chúng hết sức theo việc nghĩa, sau để đóng
ở Bắc Thành. Khoảng năm Gia Long, phái đến trấn Sơn
Nam. Khoảng năm
Minh Mệnh đổi tên đội, [hệ] thuộc vào trấn ấy. Sau đổi trấn làm phủ, vẫn
theo phủ sai phái. Đến nay con cháu không có nghề bắn giỏi, mà vỡ đất lập
phường, cùng với người Kinh không khác. [Nay] bèn [băi] bỏ [binh đội ấy]
đi, cho vào [họ được vào] sổ đinh chịu thuế ở phường Quy Lưu [như mọi
tráng đinh người Kinh]. (Năm Minh Mệnh thứ 20 đội man ấy có đơn xin trưng
20 mẫu đất đất lậu. Năm Tự Đức thứ 3, chuẩn cho đặt là phường Quy Lưu)”
(56) .
Không chỉ
những người Việt gốc Chăm, gốc Xiêm
[Thái Lan] “hết sức theo việc nghĩa”, “cùng với người Kinh không khác”
ấy ở Bắc Ḱ, triều đ́nh mỗi lần ban ân chiếu, đều có một điều
khoản khoan hồng những người đồng bào thiểu số can án (mức án lưu đày,
phân sáp, làm dân lưu, làm nô bộc), vốn có nguyên quán ở các tỉnh tả
ḱ phía nam kinh đô Huế (từ Quảng Nam vào B́nh Thuận) và ở Nam Ḱ:
“Nguyên phân
sáp, an trí những người man [!!!],người [Thuỷ Chân] Lạp làm dân, làm nô
ở từ các tỉnh hữu ḱ về phía nam [từ Thanh Hoá trở vào], trừ người nào đă
thành sản nghiệp, t́nh nguyện xin lưu ở lại nên cho, ngoài c̣n dư, đều
được thả, về quê cũ yên nghiệp” (57) .
Tuy thế,
không có ân chiếu nào có điều khoản khoan hồng cho những người Chăm, người
Thuỷ Chân Lạp bị can án ở mức độ trầm trọng hơn, phải lưu đày xa hơn (lưu
tột bậc: ba ngh́n [3.000] dặm), từ Ninh B́nh đến các tỉnh biên giới phía
bắc. Dẫu sao, cho dù ở trường hợp nào, những người đồng bào thiểu số ấy,
mấy chục năm nay chưa thấy và hẳn sẽ không thấy có sự liên hệ nào với “tả
đạo” hoặc “phù Lê”, hoặc câu kết với giặc Pháp. Ở phủ Lư Nhân chỉ đôi khi
xảy ra nạn cướp, hẳn do bọn giặc cỏ từ đâu lẻn tới: “Hà Nội trước
[đây], nhân có việc [03.1882], xử trí chưa xong, nhiều lần phủ Lư Nhân báo
có cướp…” (58) .
Hạ tuần tháng
mười một Tân tị (1881), nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết mới được bổ làm
thự thượng thư Bộ Binh (59), và sau đó không lâu, ông kiêm lănh cả Hải
pḥng sứ kinh ḱ (60), tổ chức việc pḥng thủ ở cửa biển Thuận An. Lê
Hữu Tá chuyển sang lănh đạo Bộ Công.
Sau hai tháng
nghiên cứu t́nh h́nh, sắp xếp lại nhân sự ở bậc chính khanh, sứ bộ sang
Pháp cũng đă được tuyển chọn xong. Chánh sứ: Nguyễn Trọng Hợp (người Hà
Nội, được vua khen ngợi), phó sứ: Nguyễn Thành Ư, tham biện: Vũ Ngọc Tuân,
Phạm Như Xương (61). Nhưng t́nh h́nh đă bị đẩy đến mức căng thẳng, rồi
bùng nổ, do ư đồ xâm lược bằng vũ trang của thực dân Pháp. V́ vậy, kế
hoạch đưa sứ bộ sang Pháp và các nước châu Âu bị t́nh huống ấy phá vỡ.
Bằng những
chiếc kim khánh ngoại giao, nước Y Pha Nho lại trang tặng vua Tự Đức cùng
các đại thần Viện Cơ mật, cựu tổng lí thương chính, các nguyên sứ thần
trước đây: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Phạm Phú Thứ, Đỗ Đệ, Hoàng
Diệu (62). Nhưng mối quan hệ ngoại giao ấy vẫn bị Pháp ngáng trở trong kế
hoạch bao vây, cô lập ngoại giao nước ta của chúng! Nhận định của các đại
thần Viện – Bạc: “Gần đây ta cùng với nước Y Pha Nho định ước, giao
ước với nhau đă lâu, mà nước ấy [:nước Y Pha Nho] cũng chưa có đến, th́
t́nh [:ḷng dạ, ư đồ của Pháp] có đáng ngờ; cũng là [bởi] t́nh [:quan
điểm, chính kiến] của ta chưa thông với các nước, cho nên nước ấy [nước
Pháp] mưu làm tự chuyên” (63) . Nay, với những chiếc kim khánh
ấy, quan hệ vẫn chưa hé lộ được tia sáng nào trong tháng chạp.
Triều đ́nh
nước ta vẫn tăng cường pḥng thủ với chiến thuật hư binh, vẫn ra sức
phá vỡ sự bao vây, cấm vận về ngoại giao, kể cả việc Pháp ngăn cản sự
canh tân, chúng đang cố quyết tiến hành!
Phái đoàn
sang Hương Cảng, trong kế hoạch mở rộng ngoại giao và xúc tiến việc canh
tân, đă trở về. Trưởng phái đoàn Lê Đĩnh, cùng hai thành viên khác, Phạm
Bính và Hà Văn Quan, đă được vào triều chờ tâu tŕnh.
Nhà vua hỏi
bằng sắc chỉ: “Ngươi ở Hương Cảng có nghe biết sự ǵ? Và họ có nói ǵ
đến việc nước ta không?” (65) .
Quan khoa đạo
Lê Đĩnh, nguyên trưởng phái đoàn tâu về tính chuyên nghiệp của quan chức
và binh lính Anh. Quan chức chuyên nghiệp đă đành, lính của Anh cũng chỉ
thuần là lính chuyên nghiệp, không bắt lính làm những việc khác ngoài việc
binh. Ông lại tâu: “Các nước Thái Tây [:Âu Mỹ] giàu mạnh, không ngoài
việc buôn và việc quân mà thôi. Lấy sức tàu binh để bảo vệ tàu buôn.
Tất [nhiên] phải trước hết lấy thuế tàu buôn để nuôi tàu binh. Cho nên,
chỉnh đốn việc thông thương rất nhanh. Gần đây nước Nhật Bản theo gót
Thái Tây, thông thương khắp nơi. Nước Thanh cũng bắt chước mà làm, dần dần
cường thịnh. Ở Hương Cảng th́ đặt Cục Chiêu thương, đóng tàu thuỷ vận tải
khách và hàng hoá; lại xướng xuất đặt công ti Triệu Hưng, đi sang nước Anh
buôn bán, để làm cớ mở mang việc buôn; lại c̣n chọn thanh niên tuấn tú đi
các nước học tập kĩ nghệ, hoặc đón thầy các nước về. Hiện nay các nghề làm
súng, đóng tàu, cho đến bao diêm, đá lửa, lần lượt làm được cả. Hoặc [hai
nước ấy] khen nước ta sản vật vốn phong phú (như mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ
than), người phần nhiều thông minh, nếu biết cố gắng làm việc th́
dân giàu nước mạnh, tự khắc chẳng khó. [Họ cũng bảo,] duy chỉ văn thư rất
phiền phức, làm việc phần nhiều câu nệ trở ngại mà thôi” (64) .
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường đă từng suy nghĩ rất nhiều về tập tâu trước đây của
Nguyễn Tăng Doăn, Nguyễn Thành Ư khi phái bộ sang Pháp và các nước châu Âu
về. Lần này, ông so sánh tập tâu của sứ bộ sang triều Thanh, chánh sứ là
Phan Sĩ Thục, cũng trước đây, hồi năm Bính tí (1876), với tập tâu của
trưởng phái đoàn Lê Đĩnh bây giờ (Tân tị, 1881), và không thể không đăm
chiêu, nghĩ ngợi. Đúng như nhà vua thường nói, “không tiến tức là lùi”
(65). Nhưng ở nước ta, nội một chuyện tiễu phỉ cũng đă hao kiệt công sức,
ngân sách, kho tàng nhiều rồi, lại phải thường xuyên đối phó với kế hoạch
“tàm thực”, bao vây, cấm vận không ngừng của giặc Pháp, thật không thể nào
rảnh tay, thoát khỏi để vươn lên được. Do đó, kế hoạch phá vỡ sự ḱm hăm
của giặc Pháp đă vạch ra, trong đó, hướng mở về phía nhà Thanh, tạo thế
ngoại giao trung lập, đối trọng. Không thể muộn hơn được nữa, cho dẫu
Pháp t́m cách ngăn cản đến mức nào! Chính tập tâu của Lê Đĩnh khiến thượng
thư Nguyễn Văn Tường càng củng cố quyết tâm của ông hơn bao giờ hết.
Bỗng dưng,
ông lặng người khi nghe tin từ Quảng Nam ra: Phạm Phú Thứ về quê chữa
bệnh, nay đă qua đời (66)! Thế là sau á khanh Lê Đ́nh Tuấn, nay triều đ́nh
lại gặp thêm một cái tang đường quan!
Dẫu thế, cũng
phải chuẩn bị tinh thần để lại tiếp xúc với Đường Đ́nh Canh. Thượng thư Bộ
Hộ sung chức đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc và là đại thần kiêm quản
Cục Thuyền chính Nguyễn Văn Tường biết rằng đây là một cuộc tiếp xúc ngoại
giao hết sức quan trọng, quyết định bước ngoặt rơ rệt của triều đ́nh và
tất nhiên, của chính ông (67).
“Vua cho là
quan nước Thanh vào yết kiến, sợ sinh ngờ; bèn cho Nguyễn Văn Tường bàn
kín với Đường Đ́nh Canh.
[Đường] Đ́nh
Canh nói: “Tháng mười năm nay, khâm sai nước Thanh đóng ở nước Anh là Tăng
Kỷ Trạch báo tin rằng: “Nghị viện nước Pháp bàn kín, Bắc Ḱ nước ta đất
cát màu mỡ, núi sông lại có mỏ vàng, bạc, đồng, sắt, than đá, xét ra t́nh
thể, chỉ giở bàn tay là xong. Lănh sự nước Pháp là Thoát Lăng lại đă xin
đem một, hai ngh́n [1.000 – 2.000]
quân đánh lấy Bắc Ḱ. Nghị viện nước Pháp đă chuẩn y.
Chẳng bao lâu tất đem quân nước ấy cùng các đạo quân ở Tây Cống [:Sài G̣n]
khẩn cấp cùng phát đi. C̣n [Pháp] nói là đuổi Lưu Vĩnh Phúc, chỉ là nói
thác ra mà thôi. Vua nước Thanh giao cho các nha môn quân cơ bàn cho thỏa
đáng, cho nên tổng đốc tỉnh ấy phái đạo viên ấy báo tin cho nước ta, phải
mưu tính ngay để mong giữ được”.
Vua cho là
thư của tổng đốc ấy đă hồn nhiên, ta cũng không nên lộ; sai [Nguyễn]
Văn Tường mật dặn [Đường] Đ́nh Canh ba việc:
+++ Nước ta
triều cống nước Thanh, các nước đều biết. Nước Thanh đặt Tổng lí nha môn,
công luận ở đấy. Nếu họ sinh ḷng trái lời ước th́ nước Thanh nhận làm
thuộc quốc của nước Thanh, [để] cùng với các nước tranh luận, th́ họ cũng
không dám trái công luận để làm theo ư riêng. Nhưng cho nước ta đặt quan
đón đón chờ [:quan tiếp tân, quan ngoại giao] ở kinh đô nước Thanh, nếu có
việc ǵ, được tố cáo ở Tổng lí nha môn.
+++ Ở Quảng
Đông, hiện nghe lănh sự các nước phần nhiều đóng ở đấy. [Triều đ́nh Đại
Nam] muốn nhờ quan tổng đốc Quảng Đông tâu xin [vua Thanh] cho nước ta đặt
một lănh sự ở đấy để tiện đi lại buôn bán, thông báo tin tức, nhân cùng
giao du với các nước để thông hiểu t́nh ư.
+++ Nước ta
muốn phái người đi khắp các nước như các nước Anh, Nga, Phổ, Pháp, Mỹ, Áo,
Nhật Bản, xem xét và học, [nhưng] chưa được thuận tiện. Nước Thanh có tàu
thường đi lại các nước ấy, [ta] muốn nhờ đáp đi, [hẳn] không trở ngại.
Đến khi
[Đường] Đ́nh Canh về, vua sai viết thư trả lời tổng đốc Quảng Đông. Đại
khái nói: “Đầu mối việc ấy, đă hiểu qua cả. Nay nên làm thế nào mà có thể
được tiện, [th́] đă như đạo viên họ Đường tŕnh bày ở trước mặt tất cả”.
Và [ngoài ra,
nhà vua c̣n bảo] gửi thư cho thự lí thông thương khâm sai đại thần nước
Thanh là Lư Hồng Chương.
Lại đều đem
đồ vật gửi tặng: tặng Trương Thụ Thanh, Lư Hồng Chương mỗi người một đôi
ngà voi hạng nhất, một cái sừng tê hạng nhất. Sau, tổng đốc họ Trương
[Trương Thụ Thanh] đem đồ vật ấy trả lại, nói rằng, nhận sợ nước Pháp ngờ,
có việc khó giảng thuyết; tổng đốc họ Lư [Lư Hồng Chương] cũng lấy thơ và
tờ khải đưa cho, để tỏ t́nh cùng khuyên về ư đều phải tự cường” (67)
.
Đó là cuộc
tiếp xúc ngoại giao vào một ngày gần cuối tháng chạp, năm Tự Đức thứ ba
mươi bốn, Tân tị (1881, đầu năm 1882).
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường không bất ngờ nhưng thật ḷng không thể không thấy thế
yếu hiện thời của Trung Hoa “thiên triều”! Ngay chính Trương Thụ Thanh
cũng sợ nước Pháp ngờ vực Trung Hoa, khi Đại Nam – Trung Hoa đă cố gắng
thắt chặt hơn quan hệ. Nhưng thượng thư Nguyễn Văn Tường càng buồn hơn khi
thế nước ta hiện nay là vậy, nên không cách nào khác, chính ông phải tuân
chỉ dụ, đặt vấn đề: “Nếu họ sinh ḷng trái lời ước th́ nước Thanh nhận
[nước ta] làm thuộc quốc của nước Thanh, [để] cùng với các nước tranh
luận, th́ họ cũng không dám trái công luận để làm theo ư riêng” (67)
. Điều ấy, thật mất quốc thể! Nhưng dẫu sao, nước ta phải t́m một
chỗ dựa để đấu tranh giữ quyền độc lập, tự chủ trước sự lấn hiếp của Pháp;
phải t́m một chỗ đứng để có thể đấu tranh trước công luận ở tại Thiên Tân,
nơi có nhiều lănh sự các nước; phải t́m cách đưa người đi du khảo, học tập
công nghệ cơ khí, điện báo ở các nước tiên tiến.
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường nghĩ đến thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” (ngồi trên
núi xem hai con cọp đấu nhau). Hai con hổ đấu nhau, ắt có một con chết,
một con bị thương nặng. Bấy giờ, nước Đại Nam ta sẽ thừa dịp giành lại
hoàn toàn chủ quyền, hoàn toàn độc lập. Đó là một thế trận thật ḷng không
nên vận dụng với ư nghĩa như vậy. Thật ḷng, ông chỉ muốn nước Pháp và các
nước Âu Mỹ hăy ngừng lại cuồng vọng thực dân ghê tởm của chúng. Thật ḷng,
ông hi vọng nước Trung Hoa sẽ không tham lam, dùng sức tàn của ḿnh để xâu
xé nước láng giềng Đại Nam trong thế kẹt lịch sử. Nếu Trung Hoa giúp đỡ
nước Đại Nam đồng cảnh ngộ trước hiểm hoạ thực dân da trắng, (đó là bọn
cầm quyền ở các nước Âu Mỹ, mà hẳn nhân dân các nước da trắng ấy cũng phỉ
nhổ, căm ghét chúng), th́ Đại Nam ta sẽ măi măi ghi đậm trong sách
sử những lời biết ơn trước tấm ḷng láng giềng Trung Hoa trong sáng, nghĩa
hiệp. Thế trận ấy, và tính chất của nó, c̣n tuỳ ở ḷng dạ triều đ́nh
nhà Thanh Trung Hoa…
7
Nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết hết sức xúc động khi nhận được sắc
dụ bổ nhiệm do vua Tự Đức ban cho. Ông bái tạ, lănh nhận và sau khi tiễn
chân các quan chức Bộ Lại thừa lệnh nhà vua, đến trao sắc dụ tận ngôi nhà
của ông tại làng Vân Thê, huyện Hương Thuỷ, một làng quê nhỏ, ở phía nam
kinh thành Huế.
Trong một buổi sáng tháng mười một hơi hửng nắng ấm, sau nhiều ngày
dài mưa rét, nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết đă nghe đọc, lúc ông đang thi
lễ trước hương án mới bày ra, hướng về kinh thành. Bây giờ, ông đang đọc
lại một ḿnh.
“Dụ
rằng:
Nguyên thự
tổng đốc sung hiệp đốc Tôn Thất Thuyết, bị bệnh đă lâu, trước đă chuẩn cho
giải chức để về điều trị, nhiều lần cấp thuốc thang và cho thăm hỏi, nay
đă được khỏi, lại biết gắng lên xin lai kinh [:đến kinh đô] sung chức để
báo đáp ơn sâu. Trẫm khen là người có lỗi mà biết sửa đổi. Nhưng việc đă
qua không nói đến nữa, để cho biết tự đổi mới. Vậy nay điều bổ chức thự
Binh Bộ thượng thư, để cho xứng chức.
Và ngươi vốn
giỏi về việc quân, trước ở tỉnh Thanh [Hoá] đă tự xin chỉnh đốn thao luyện
quân sĩ, để có căn bản vững chắc, th́ ngày nay đây, quân sĩ phần nhiều yếu
kém, cần phải chấn chỉnh lại. Đó là trẫm rất mong vậy.
Ngươi phải
đem hết tài năng để trù liệu. Trên th́ có quản lí Trần Tiễn Thành là bậc
lăo thành, luyện đạt giúp đỡ khi cần. Dưới th́ có các viên tham tá bàn
định để công việc khỏi trái lệch.
Phàm các việc
chấn chỉnh huấn luyện phải làm sao [càng] ngày [càng] được bổ sung, hùng
tráng, việc vơ được mạnh, kĩ thuật được tinh, để giúp nên văn giáo, mà gia
uy đối với kẻ làm càn, tỏ rơ oai phong như có một uy thế không ai dám
phạm. Đó là tài năng của ngươi, chớ nên coi thường mệnh lệnh của trẫm.
Ngươi trước
kia có nhiều sai lầm, đều bởi khí huyết đang mạnh, học vấn lại ít, nên
không tránh được trong một lúc có ư kiến sai lầm. Người ta ai chẳng có
điều lỗi, nhưng quư ở biết sửa lỗi. Nếu đă tự biết lỗi, th́ cũng không cần
phải nói trách làm ǵ.
Từ nay về
sau, ngươi càng nên lo sửa ḿnh, lời châm tứ vật [thấy điều ǵ trái lễ th́
chớ trông vào, chớ nghe vào, chớ nói vào, chớ động vào], chăm giữ chớ dời.
Khi việc quan rảnh rỗi, nên đem bộ kinh Thượng thư và sách Luận ngữ, sớm
tối đọc và thể nghiệm, th́ có thể thấy rơ cái đạo vua tôi cha con, cái
phép sửa ḿnh trị người của thánh hiền, cho tới một việc ǵ, một vật ǵ
[cũng] đều rơ ràng. Nếu ngươi biết thể nhận mà thực hành, tự nhiên sẽ biến
hoá được khí chất, hàm dưỡng được đức tính, ngày thêm tiến lên cái cơi
quang minh thuần tuư được, mà không tự biết, tức như là có thầy dạy bảo
thừa sức, có cần ǵ biết rộng mà không thiết yếu vào thân.
Ngươi nếu làm
được như thế, đó là cái may của ngươi, mà cũng là cái may của họ Tôn Thất
nhà ta, có một người tài như thế.
Nhược bằng
không làm được như thế, ấy là cái lỗi của ngươi, không phải là trẫm nói
quá đâu. Ngươi nên cố gắng lên và ghi nhớ lấy. Trẫm nói đến thế mà thôi.
C̣n như viên
thự Binh Bộ thượng thư Lê Hữu Tá, nay đều bổ cho làm công Bộ thượng thư…
[…] …
Khâm thử!
[Vâng ( dụ ) đấy!].
Ngày 27 tháng
11 [Tân tị, Nam lịch], năm Tự Đức thứ 34 (16 tháng giêng 1882)” (68)
.
Thự thượng
thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đọc đi đọc lại sắc dụ của vua Tự Đức, ông biết
tấm ḷng của vua, mặc dù thừa nhận ông có tài năng thao lược, vẫn muốn ông
bồi bổ thêm uy phong nghiêm chỉnh, lẫm liệt vốn có, và hơn nữa, nhà vua
muốn ông phải tự trau dồi thêm về tư tưởng, tâm hồn, phải tự biết tự xét
lỗi ḿnh, tự trách lỗi ḿnh, để không những là một dũng tướng, mà c̣n là
một trí tướng (nho tướng), nhân tướng. Cái dũng, cái trí, cái nhân,
phải thấm vào hồn, vào mọi hành vi, ư nghĩ, một cách tự nhiên nhi
nhiên.
Học vấn ít ư?
Dẫu sao, nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết cũng là ấm sinh Quốc tử
giám.
Ông tự nhủ, phải không ngừng tự học.
Và ông biết, ông phải cần đến một người bạn vong niên có một bộ óc
uyên bác, một tấm ḷng rộng răi, bao dung, một nhân cách nho phong, quân
tử, và cụ thể là người ấy phải yêu dân, yêu nước tha thiết, phải căm thù
giặc sâu nặng, phải trung thành với triều Nguyễn. Vị nho tướng, đại trí ấy
chính là thượng thư Bộ Hộ, bá tước Ḱ Vĩ, Cơ mật viện đại thần Nguyễn Văn
Tường. Qua ngộ nhận năm ngoái, ông nhận ra ở Nguyễn Văn Tường những phẩm
chất đáng quư. Bản thân Tôn Thất Thuyết là ông, ông cũng nhận ra chính ông
qua ngộ nhận đáng tiếc ấy.
“Người
ta ai chẳng có điều lỗi, nhưng
quư ở biết sửa lỗi” (68) . Nhà vua chẳng xem việc tự sửa lỗi là
một đức tính quư báu đó sao!…
Thự thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết trực nhận ra, chính ông và
thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường sẽ là đôi cánh cho Con rồng triều Nguyễn
– Đất nước Đại Nam bay lên khỏi vực tối bi hận của giai đoạn lịch sử này,
trong bối cảnh đau thương chung của các châu Á Tế Á, A Phi Li Gia, Nam
Mỹ Lợi Kiên
và châu Úc Đại Lợi.
Thự thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết chợt nhớ, mới đây, ông có dịp
đến gặp thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường tại công đường. Hôm ấy, sau khi
trao đổi với nhau một số nét chính của t́nh h́nh đang diễn biến và về
chính kiến của các triều thần, của nhà vua, thượng thư Nguyễn Văn Tường
nói:
- Khuynh hướng chi phối có tính chất quyết định lúc này
vẫn chưa xác định
rơ “hoà” hay chiến (69). Chính tôi
cũng rất bị động. Đă có ư kiến nên tâu xin cất nhắc quan nguyên hiệp đốc
đây lên nắm giữ Bộ Binh, và cả kiêm sung đại thần Viện Cơ mật – Thương
bạc. Tôi chưa có thể mạnh dạn
tâu xin để quan nguyên hiệp đốc vào Viện Cơ mật – Thương bạc, mà chỉ mong
mỏi quan nguyên hiệp đốc sẽ nắm vững
Bộ Binh để tăng cường pḥng thủ, trong đó quan trọng nhất là việc luyện
quân, tổ chức giảng dạy, học tập các kĩ thuật quân sự khác, chú trọng hải
pḥng Thuận An và sơn pḥng Cam Lộ cũng như các cửa biển và vùng trọng yếu
miền núi khác. Như quan nguyên hiệp đốc vừa nói, nếu
tôi vội đề xuất việc tâu xin, sẽ khác ư quan lớn Trần Tiễn Thành và một số
viên quan khác. Quan lớn Trần Tiễn Thành lại rất được nhà vua nghe theo.
Nhận định đó hoàn toàn đúng. Nhưng tôi
sẽ có cách ủng hộ quan nguyên hiệp đốc một cách kín đáo với tâm ư trung
chính của kẻ sĩ. Tôi ủng hộ quan nguyên hiệp đốc cũng v́ nghĩa lớn, v́ dân
nước, v́ bản triều. Và chắc hẳn quan nguyên hiệp đốc cũng sẽ ủng hộ tôi
với chí hướng đó.– Thượng thư Nguyễn Văn Tường từ tốn nói –. Suốt nhiều
năm nay, nhất là từ những tháng cuối năm Canh th́n (1880) đến nay, tôi vẫn
chủ trương liên minh với nhà Thanh Trung Hoa. Trong năm Tân tị (1881) vừa
rồi, tôi đă vận động, tâu xin để có những cuộc gặp gỡ với Đường Đ́nh Canh,
một đại diện của Cục Chiêu thương. Trong những cuộc gặp ấy, tôi lấy danh
nghĩa, tư cách là đại thần kiêm quản Cục Thuyền chính. Bởi lẽ, lúc này hơn
lúc nào hết, bọn thực dân Pháp đang quyết tâm xâm chiếm Bắc Ḱ, toan tính
“bảo hộ” cả Trung lẫn Bắc. T́nh h́nh đó, theo tôi, không cứng rắn đối phó
cũng không được. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường nh́n thẳng vào quan nguyên
hiệp đốc Tôn Thất Thuyết –. Tôi chỉ nhấn mạnh là lúc này, tuy vậy, ở triều
thần, đường lối “hoà” hay chiến
vẫn chưa được xác
định rơ. Chính tôi cũng rất bị động. Nói đúng
hơn, tôi vẫn chủ động trong giới hạn được nhà vua ban cho.
- Giặc Pháp th́ lăm le hung tợn như thế, ta vẫn chịu khuất như thế
với thực lực như thế! Biết làm thế nào…
- Tôi biết rơ quan nguyên hiệp đốc muốn dốc hết sức để tăng cường
binh lực. Đó là việc cần làm, cũng là ư nguyện bức xúc của tôi và tất thảy
mọi người, từ quan đến dân. Nhưng mấy năm qua, Bộ Binh vẫn tŕ đọng, trễ
năi, chính đức vua cũng quở trách luôn… Về khách quan, quả thực cũng có
những ngáng trở, khó khăn. Ngay một việc cụ thể như thế này, tôi nói để
quan nguyên hiệp đốc rơ: Hồi tháng ba năm nay, viên suất đội Tuyển phong
Trần Hữu Viết cùng hai mươi người lính vào Gia Định học kĩ thuật súng Tây
dương theo
“hoà” ước, cũng đă bị trả về, nên cách đây mấy tháng đă
phải sang Trung Hoa học tập kĩ thuật quân sự hiện đại đấy (70).
- Việc đó tôi có biết. Nhưng t́nh h́nh trong triều thần, riêng quan
lớn Trần Tiễn Thành…
- Tôi vẫn nhớ tổng đốc Vũ Trọng B́nh thường đọc câu tục ngữ, “ở lâu
mới biết ḷng người…”. Tôi không dám nói ǵ hết. Khi bước vào hàng ngũ
chính khanh, quan nguyên hiệp đốc sẽ khắc nhận ra t́nh h́nh chung và nội
bộ bản triều một cách sâu sắc hơn, trực tiếp hơn…
Thự thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đă cuối tuổi bốn hai, sắp
bước vào tuổi bốn mươi ba, kể cả một tuổi trong ḷng mẹ. Ông biết ḿnh đă
đứng tuổi và bản lĩnh đă dạn dày trong chiến trận. Ông ngẫm lại, thấy
thượng thư Nguyễn Văn Tường thật đúng như mọi người nói, là hết sức điềm
đạm và cẩn trọng.
Bấy giờ, cả
hai đại thần, Nguyễn Văn Tường lẫn Tôn
Thất Thuyết, không ai hay biết tên khâm sứ Pháp Rheinart đă biết rơ thái
độ chính trị của thượng thư Nguyễn Văn Tường: đă trở nên quyết liệt nhưng
vẫn trong vẻ mềm dẻo, nhất là từ khi trực tiếp có những cuộc tiếp xúc với
Đường Đ́nh Canh. De Champeaux quyết “đập tan tành” thượng thư Nguyễn
Văn Tường, bởi nguyên nhân tổng quát là cả quá tŕnh luôn luôn không chịu
khuất nhượng người Pháp, và bởi nguyên nhân cụ thể, trực tiếp là v́ lẽ đó.
Rheinart lại càng rơ hơn cả De Champeaux (71). Ngày 30.11.1881 (09.10 Tân
tị, năm Tự Đức thứ ba mươi bốn), y đă viết văn thư phúc tŕnh vào Suư phủ
Pháp tại Gia Định: “Khi trở thành đứng đầu phe cứng rắn, chính [Nguyễn
Văn] Tường đă xúi Tự Đức coi thường hiệp ước năm 1874, do đó làm cho mối
quan hệ Việt – Pháp suy thoái dần” (71) . Đó là sự thật về thái độ
và chủ trương chính trị cứng rắn của thượng thư Nguyễn Văn Tường, và
“hoà” ước 1874 theo cách hiểu đầy áp đặt của tên thực dân hạng nặng là
Rheinart.
“Lúc bấy
giờ, sứ nước Pháp là Lê Na [Rheinart] đă sang thay, nói với quan Thương
bạc [lúc này là Nguyễn Trọng Hợp]: “Trong hoà ước có nói, nước ta có việc,
nước ấy phải giúp, tuy không nói rơ là “bảo hộ”, nhưng ư nghĩa đă bao hàm
ở trong. Nay khoản ấy triều đ́nh nước ấy đă định làm, mà làm như thế, nước
ấy [nước Pháp] không lấn quyền nước ta, chỉ bắt ta không được giao thiệp
với nước khác thôi. Ta nếu không nghe, nước ấy cũng bắt làm cho được” (72)
.
“Xúi Tự Đức coi
thường hiệp ước năm 1874” có nghĩa là không chấp nhận hai chữ
“bảo hộ” theo sự áp đặt của thực dân Pháp. Và “làm cho mối quan hệ Việt –
Pháp suy thoái dần” , theo ư Rheinart, là những yêu sách, những
hành vi ngang ngược ngày càng tăng của Pháp đều không được thượng thư
Nguyễn Văn Tường nhân nhượng, nhất là khi đă đặt được quan hệ liên minh
với nhà Thanh.
Quả thật, hai
đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết không ngờ các tên khâm sứ,
trong chừng mức nào đó, đều rất nhạy bén đánh hơi được những diễn biến
trong triều đ́nh.
Thự thượng
thư Tôn Thất Thuyết nh́n lên thanh
gươm của ông tổ trực hệ Tôn Thất Hiệp, một danh tướng lừng lẫy với chiến
công vang dội một thời, được treo trên vách của gian đặt bàn thờ tổ tiên.
Thân phụ ông, cụ nguyên đề đốc Tôn Thất Đính, cũng đă là một vị tướng từng
tham dự những trận đánh Pháp khi chúng bắt đầu xâm lược Nam Ḱ, trước khi
“hoà” ước Nhâm tuất (1862) bị kí kết. Thân sinh ông hai mươi năm
nay lâm bệnh, tuy chưa đỡ hẳn, lại già đi theo tuổi tác, vẫn không hề
nguôi nỗi hận bọn Pháp hung tàn. Ông lại nh́n qua khẩu súng và thanh gươm
của ḿnh, cũng treo bên dưới thanh gươm hiển hách ấy.
Ông đọc lại
sắc dụ bổ nhiệm của vua Tự Đức với tất cả quyết tâm chiến đấu sục sôi
trong tim.
Ngoài thượng
thư Nguyễn Văn Tường, thự thượng thư Tôn Thất Thuyết c̣n có một người đồng
chí khác, ấy là thượng thư Bộ H́nh, sung đại thần Viện – Bạc Phạm Thận
Duật. Ông tiếc rằng, dạo này Phạm Thận Duật đang mắc bệnh tiểu đường (73),
tuy ở mức độ c̣n nhẹ, nhưng sức khoẻ không c̣n được như trước, lại đang
được nhà vua giao cho công việc biên tập lại bản thảo “Việt sử cương mục”
đă được Quốc sử quán biên soạn (74). Vũ Nhự, một quan viên sung Nội các,
người Hà Nội, đang cùng với thượng thư Phạm Thận Duật miệt mài với bộ sử
đồ sộ ấy (74).
Thự thượng
thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết nghĩ đến Trương Văn Đễ, Trần Xuân Soạn, Tạ
Hiện…
Hết tệp 2 truyện kí 9
Viết đến ḍng chữ
này vào lúc 16 giờ 26 phút,
ngày 29.12.2002
(26.11 Nh. ngọ, HB.2),
tại thành phố Hồ
Chí Minh.
TRẦN XUÂN AN
(44) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 48.
(45) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 50 –
52.
(46) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 59.
(47) Một dạng khúc xạ tư tưởng Lăo Tử trong
Đạo Đức Kinh. Xem: Lăo Tử, Đạo đức kinh, Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và
b́nh chú, Nxb. Văn Học, 1991; Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Lăo Tử tinh hoa,
Nxb. Tp. HCM., 1992.
(48) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 48.
(49) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 59 –
62.
(50) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 62 –
63.
(51) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 74,
75.
(52) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 75.
(53) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 66.
(54) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 69.
(55) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 73.
(56) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 75.
(57) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 27.
(58) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 153.
(59) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 83.
(60) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 95.
(61) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 84.
(62) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 85 –
86.
(63) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 60.
(64) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 86 –
87.
(65) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 13.
(66) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 88.
(67) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 89 –
91.
(68) Tự Đức, Tự Đức thánh chế văn tam tập,
tái bản với tên sách: Thơ văn Tự Đức (TVTĐ.), tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1996,
tr. 211 – 213.
(69) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 33.
(70) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 23,
160.
(71) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 269 – 270:
Lưu trữ AOM. Aix, Amiraux 12923, De Champeaux gửi thống đốc Nam Ḱ, Huế
ngày 06.02.1881 (mùng tám Tết Tân tị); và AOM. Aix, Amiraux 12940,
Rheinart gửi thống đốc Nam Ḱ, Huế ngày 30.11.1881 (09.10 Tân tị, Tự Đức
34), xem thêm G. Taboulet…
(72) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 59.
(73) Theo một số tư liệu trong “Phạm Thận
Duật, sự nghiệp văn hóa, sứ mệnh cần vương”, Hội KHLS. VN. xb., 1997. Đây
là một cuốn sách có nhiều chi tiết xuyên tạc, bịa đặt đầy ác ư (trong bài
của PGS. Chương Thâu) với những cái gọi là tư liệu, không ghi xuất xứ,
không được công chứng, nhất là khảo chứng, lại chưa hề giám định, do đó,
không thể có giá trị sử học. Nhân đây, cũng xin nói thêm. Khi đọc bài
“Khảo sát thêm về Quan Thành văn tập” của ông Nguyễn Văn Huyền, tr. 197 –
208, tôi thấy có hai bài thơ của Nguyễn Văn Tường viết tặng Phạm Thận
Duật, chép lại trong văn tập ấy. Hai bài ấy được ông Nguyễn Văn Huyền liệt
kê ở tr. 202 và 204. Đó là bài
“Tán lí quân vụ Nguyễn Văn Tường
tiễn Phạm Thận Duật”
và
“Tặng
bố chính Bắc Ninh được về quê thăm nuôi”
. Đúng ra, hai bài thơ này Nguyễn
Văn Tường vốn đặt nhan đề chữ Hán là:
“Tặng
Bắc phiên Phạm giá hồi bệnh”
và
“Tặng
Bắc phiên Phạm Quan Thành quy tỉnh thân bệnh”
. Xin xem: Ḱ Vĩ quận công thi tập,
tư liệu Hội nghị Khoa học lịch sử với đề tài “Nhóm chủ chiến triều đ́nh
Huế và Nguyễn Văn Tường", ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996; Trần Xuân An (biên
soạn), Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con
người, tâm hồn và tư tưởng (KVPCĐT. NVT. T. VNVCN. TH. & TT.), bản in vi
tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản).
(74) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 83 –
84.
Chú thích xong lúc
08 giờ ngày 14.02.2002
(13.01 Quư mùi, năm
thứ hai công nguyên Ḥa B́nh [:HB.2])
.
TRẦN XUÂN AN
Hết tệp 2
(phân đoạn
2,
truyện kí 9)
Xin xem tiếp
tệp 3
(phân đoạn
3,
truyện kí 9)