Tệp
2
(PHÂN ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
TRẦN
XUÂN AN
CƯỠNG ƯỚC “HỮU
NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC
THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874
Truyện kí thứ
bảy
(phân
đoạn
2)
3
Sau bốn
ngày, đến hôm hai mươi bảy tháng sáu nhuận (19.8.1873) (40), tàu sứ bộ Đại
Nam mới hàn chữa
gần xong hệ thống nồi hơi nước. Khoảng hai giờ chiều ngày mùng một tháng
tám nguyệt lịch (23.8.1873) (40), tàu thuyền sứ bộ Đại
Nam mới ra khơi.
Nhưng lúc đến gần Nha Trang, thấy rơ cửa biển Cù Huân, tàu lại hỏng máy!
Đến giờ ngọ, tàu thuyền cũng cập được bến để sửa máy! Mùng sáu, đoàn tàu
thuyền sứ bộ mới lại ra khơi! Mùng bảy, đến Phan Thiết. Mùng tám, thấy rơ
đằng xa là Cấp Saint – Jacques (Vũng Tàu) nhưng gió mùa dữ dội, tàu không
thể đi tiếp. Mùng chín (31.8. 1973) (40), tàu cập bến Cấp, sứ bộ gửi thư
đường bộ cho Dupré ở Sài G̣n. Mười một giờ, nhổ neo. Chín giờ tối hôm ấy,
sứ bộ mới cho neo tàu thuyền tại bến Thủ Ngữ của thành phố trung tâm Gia
Định, thủ phủ của Nam Ḱ (40). Khoảng mười giờ tối, Philastre, đặc phái
viên của đề đốc hải quân đảm nhiệm chức vụ thống đốc Nam Ḱ Dupré, đến
thăm hỏi các thành viên của sứ bộ Đại Nam, và hỏi ngày giờ họ định lên bộ.
Nhưng trưởng đoàn, chánh sứ Lê Tuấn, không được khoẻ (40), cổ họng bị viêm
nặng, cho dù túc trực bên ông là quan ngự y, những viên ngự y mà vua Tự
Đức cử đi theo như lệ thường đối với các sứ bộ nước ta.
Một
chuyến đi nhiều trắc trở, từ Huế vào Gia Định phải bị kéo dài tới hai mươi
hai ngày đêm!
Dẫu sao,
vào sáng sớm ngày mười tháng bảy ta (01.9. 1873), nghi thức đón tiếp sứ bộ
Đại Nam cũng được diễn ra, với hàng loạt tiếng đại bác bắn chào, với những
hàng quân tề chỉnh làm hàng rào danh dự, với xe ngựa, xe hơi (chạy bằng
than đá), với thủ tục chào cờ hai nước (40)… Nhưng chính sứ Lê Tuấn bệnh,
nên sứ bộ vẫn tiếp tục ở lại tại tàu (40)! Đến hôm sau nữa, ngày mười một
nguyệt lịch, sứ bộ mới bắt đầu lên bộ trong một nghi lễ hết sức trang
trọng.
“Tại Dinh Đề đốc
[Dupré] hiện đang có giám mục Mỹ [Colombert, Isidor-François-Joseph ], các
cha Vị [Wibeaux, Théodore-Louis], Kerlan, Derval, các thành viên của Hội
đồng tư riêng [:tư mật] của đề đốc, lănh sự các nước Anh, Đức, Tây Ban Nha,
Bỉ, Đan Mạch, Hoà Lan, và Hoa Ḱ, cùng với tất cả các viên chức cao cấp
của [Phủ suư] Sài G̣n” (41).
Sau đó là
nghi thức chào hỏi, đón tiếp, bố trí nơi sinh hoạt và làm việc, có cả sự
thăm viếng lẫn nhau giữa hai phái đoàn Việt – Pháp (41).
Ngày mười
ba tháng bảy ta (04.9.1873), công việc là dịch các thư từ vua Tự Đức gửi
cho đề đốc Dupré (41).
Hai hôm
sau, ngày mười bốn, mười lăm (05 – 06.9.1873), phó sứ bộ Nguyễn Văn Tường
đến thăm các viên chức châu Âu. Đó là các lănh sự của các nước Anh, Đức,
Tây Ban Nha, Bỉ, Đan Mạch, Hoà Lan, và cả lănh sự Hoa Ḱ ở phía bắc châu
Mỹ (41). Đó là hai ngày đáng ghi nhớ. Trong các cuộc gặp gỡ ấy, phó sứ
Nguyễn Văn Tường luôn t́m cách thể hiện ư muốn nối kết bang giao và vận
động sự ủng hộ của họ với mục tiêu triều đ́nh đă đề ra: Pháp phải trả lại
ba tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên (42) và buộc tên Jean Dupuis rút khỏi
Bắc Ḱ, đúng theo tinh thần “hiệp” ước Nhâm tuất 1862 (42). Phó sứ Nguyễn
Văn Tường luôn cho các viên hành nhân thông ngôn của triều đ́nh đi kèm với
các linh mục thông ngôn khác. Ông cố gắng nói một cách rơ ràng và giản dị,
nhưng cũng không phải không tế nhị. Ông biết tại nơi đây, sứ bộ Đại
Nam khó ḷng được
sự chia sẻ, hỗ trợ của những quốc gia da trắng. Nhưng t́nh thế Đại
Nam không phải là
không có khả năng như Xiêm và Trung Hoa, hai nước ấy không để bị độc
chiếm bởi một nước da trắng. Đành rằng, bọn da trắng đều một giuộc, nhưng
trong thực chất, chúng vẫn mâu thuẫn nhau về quyền lợi, phải ḱm giữ nhau,
hoặc đến mức thậm tệ th́ cũng như một bầy sói tranh nhau miếng mồi, có khi
quên bẵng miếng mồi để xoay ra cắn xé nhau… So sánh thế th́ quá khập
khiễng đến đáng sợ, nếu miếng mồi không đủ cho bầy sói chia nhau… Trong
thực tế, dẫu sao, nếu thoát được thế trói buộc phải cam chịu sự độc chiếm
của Pháp tại Nam Ḱ, hẳn quyền thống
trị tại đây sẽ bị phân cực, Nam Ḱ sẽ được trung hoà giữa các cực. Trung
hoà giữa quyền lợi của nhiều nước c̣n dễ thở
hơn chịu thống trị dưới một chính quyền thực dân độc đoán, cực quyền! Phó
sứ Nguyễn Văn Tường thấy điều khoản thứ tư của “hoà” ước Nhâm tuất 1862 là
cả một khó khăn lớn! Chỉ bốn chữ “doăn hành tắc hành” mà thành cả vấn đề!
“Doăn hành tắc hành” (ở khoản IV) có nghĩa là nếu vua Đại Nam muốn nhượng
một phần đất nào đó cho một quốc gia khác th́ phải được nước Pháp bằng
ḷng trước đă (43)!
Phó sứ
Nguyễn Văn Tường cũng ngỏ lời rằng sứ bộ sẽ đi thăm từng nước ở châu Âu và
Hoa Ḱ, giấu kín mục đích
“nhằm t́m ra một
cường quốc nào đó đối thủ của nước Pháp bằng ḷng giúp họ đánh đuổi người
Pháp ra khỏi Bắc Ḱ và luôn cả
Nam
Ḱ. Khoảng giữa năm 1872, triều đ́nh Huế cũng đă đón tiếp một vài người
của một họ người Đức…” (44).
Nhưng rất tiếc, bấy giờ,
triều đ́nh Huế đă bị lừa, phải mua một chiếc tàu thuỷ cũ với giá rất cao
của Hăng Carlovits và Công ty, thực chất hăng này là bọn giả mạo trong
trang phục sĩ quan Đức, đang đóng kịch làm chức năng những nhà ngoại giao
của Đức (44). Tuy năm ngoái thất bại v́ bị lừa, năm nay, trong chuyến đi
sứ này, triều đ́nh Huế cũng đă đưa ra mục tiêu t́m sự ủng hộ ấy. Tất nhiên,
biết là khó khăn, phó sứ Nguyễn Văn Tường vẫn kín đáo ngỏ ư với đại diện
của các nước hiện đang có mặt. Đó là
những lănh sự thuộc các nước Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Đan Mạch, Hoà Lan,
và cả lănh sự Hoa Ḱ ở phía bắc châu Mỹ (41). Ông cố gắng nói điều đó thật kín kẽ để tránh tai
mắt của Pháp ngay tại nơi vốn là Sứ quán Gia Định thuộc Pháp này.
Sau khi
nhận thư mời nhóm họp, đến ngày mười bảy ta (08.9.1873), quả như phỏng
đoán trước, tên thống đốc Dupré
“tŕnh bày đủ mọi lí do can gián các sứ quan [:sứ thần] đi Pháp
và chứng minh cái lợi điểm kí kết hoà ước ngay tại Sài G̣n này”
(45). Rơ ràng Dupré đă biết ư định t́m những nước ủng hộ của sứ bộ Đại
Nam, cho dù phó sứ
Nguyễn Văn Tường nói kín đáo đến đâu! Tuy vậy, đó chỉ là một cách li gián
các lănh sự của những nước hiện đang có mặt. Bản thân phó sứ Nguyễn Văn
Tường cũng như các thành viên sứ bộ đều hiểu, đằng sau Pháp c̣n có liên
minh xâm lược của hàng chục nước thực dân Âu Mỹ. Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ,
Đan
Mạch, Hoà Lan, và cả Hoa Ḱ đều làm hậu thuẫn cho Pháp, muốn được chia
chác quyền lợi với Pháp trên đất Đại Nam này! “Hiệp” ước này trực tiếp kí
với Pháp, nhưng thực chất là phải chấp nhận mở cửa xuất nhập khẩu cho
nhiều nước thực dân Âu Mỹ! Biết vậy, nhưng phải vừa t́m cách tranh thủ sự
ủng hộ của các nước cho Đại Nam, vừa là cách li gián chúng
trong mức độ nào có thể li gián được, đến mức chúng quay ra đánh nhau, lại
càng thuận lợi cho nước ta. Phó sư Nguyễn Văn Tường suy nghĩ và bàn với
chánh sứ Lê Tuấn như thế.
Ngày họp
thứ hai, mười tám tháng bảy nguyệt lịch (09.9.1873) (45), chánh sứ Lê Tuấn
đề cập đến việc đề đốc De la Grandière bức chiếm ba tỉnh Miền tây Nam Ḱ,
và cũng yêu cầu phải trả lại cho Đại Nam. Tất nhiên tên cáo già Dupré
không đời nào chịu! Chánh sứ Lê Tuấn xin ngưng cuộc họp. Và Hoắc Đạo Sinh
(Phi Lặc, Philastre) được Dupré phân công bàn về việc ấy (45)!
Hôm sau,
sứ bộ bàn bạc với Philastre (45). Hôm sau nữa, chánh sứ Lê Tuấn lâm bệnh
nặng (45), hầu như khản câm cả giọng, và cuống họng bị sưng vù, nóng bỏng.
Các ngự y đi theo chăm sóc thuốc thang, gồm những loại thuốc quư nhất của
Thái y viện, bệnh vẫn chưa kịp thuyên giảm. Nhưng rồi cũng chỉ phó sứ
Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doăn phải tiếp tục đàm phán với
Philastre về việc De la Grandière vi phạm “hoà” ước Nhâm tuất 1862. Không
đi đến đâu!
Ngày hai
mươi bốn tháng bảy
Nam (15.9.1873)
(45), chánh sứ Lê Tuấn vẫn sốt mê man, nên lịch tŕnh các buổi họp đành
ngưng lại.
Ngày hai
mươi lăm (16.9.1873) (45), các sứ thần Đại
Nam
gửi đến Dupré một bản văn thư với nhiều yêu cầu:
1.
Pháp trả lại ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.
2.
Băi bỏ “doăn hành tắc hành”.
3.
Xin chuộc lại một phần đất trong mỗi tỉnh Gia Định,
Định Tường và Biên Hoà.
Nếu Pháp
đồng ư ba khoản như thế, Đại
Nam vẫn bồi thường
toàn bộ số “chiến phí” (ngạo ngược!) c̣n lại (45).
Hôm sau,
Dupré phúc đáp với lời khước từ các yêu cầu của sứ bộ ta (45).
Hai ngày
qua là hai ngày hội nghị bằng bút đàm do chánh sứ Lê Tuấn bị dậy cơn bệnh
viêm yết hầu mạn tính. Tất nhiên, không khí thật không dễ chịu chút nào.
Các cuộc họp vẫn không thể không ngừng lại và cũng không thể không rơi vào
bế tắc.
Dupré
báo cáo về Pháp, chính phủ
Paris trả lời cho y vào
ngày 22.10.1873:
“Trả lại sự quản trị ở ba tỉnh [Miền tây Nam Ḱ] để đổi lấy “bảo hộ”, thực sự phải có ư nghĩa là ta phải chiếm cả nước An
Nam;
tuyệt đối phải được như vậy, phải có đủ bảo đảm th́ ngài mới nên kí. Nên
đ̣i chiến phí hằng năm bằng tất cả hoa lợi của ba tỉnh” (46).
Đúng là
cuồng vọng tham lam của thực dân Pháp!
Thế là đă
trôi qua một tháng bảy nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quư dậu
(1873)! Tính thêm hai mươi hai ngày trên đường biển, vậy là đă năm mươi
hai ngày đêm!
Trong lúc
đó, vào cuối tháng bảy nguyệt lịch, Cơ mật viện thấy đă đến lúc không thể
không hạch rơ tội ác của Jean Dupuis. Jean Dupuis bấy lâu ngang ngược làm
càn:
“đánh nguyên đốc học Lê Đ́nh Diên [đến mức] bị thương; bắn chết lí trưởng xă Kim Liên;
ngầm chở [súng đạn,] muối gạo, [bí mật câu kết] giao thông với giặc [Cờ
vàng] Hoàng [Sùng] Anh” (47)…
Không những thế, Jean Dupuis c̣n
“đánh hành khách bị thương, bắn chết binh dân, bức hiếp phố chợ, bao
vây để [độc quyền] mua hàng hoá” (48)…
Bọn Jean Dupuis c̣n “đi đến [địa] phận sông huyện Hạ Hoà, tỉnh Sơn Tây,
[nơi Trần B́nh trấn nhậm, chúng] cướp bóc bừa băi, [như] bắt hiếp thuyền
dân, bắn chết quân lính, cướp lấy súng và khí giới, chặt đứt bè cốn” (49)…
Tất cả là do ư đồ của thực dân Pháp, mượn tay Jean Dupuis nhằm khiêu khích
để gây chiến ở Bắc Ḱ, đi đến việc xé bỏ “hoà” ước Nhâm tuất 1862, lập
“hoà” ước mới, và cũng do hai tên Hán gian, Hoa kiều
Bành Lợi Kư, Quan Tá Đ́nh câu kết, dẫn đường cho Jean Dupuis (50)! Triều
đ́nh đă gửi công văn với nội dung ấy cho Dupré và tổng đốc Quảng Châu (Trung
Hoa), nhưng đă chẳng thấy tăm hơi ǵ (51)! Nói đúng ra, nhà Thanh cũng có
phúc đáp thư, tuy xác nhận tuần vũ Vân Nam họ Sầm và đề đốc Phùng Tử Tài
có đặt mua súng đạn, quân trang ở Jean Dupuis, nhưng nội dung thư cũng chỉ
qua loa, đại khái (51)!
Bọn Pháp
cũng đă lường trước từ lâu về mối quan hệ láng giềng và đồng chủng Việt –
Hoa, nên chúng đă liên minh với tuần vũ Vân Nam và tổng đốc Quảng Châu,
hứa chia sẻ quyền lợi với Trung Hoa sau khi khai mở được tuyến sông Hồng
và khai thương trên đất Bắc Ḱ.
Ngày
01.09.1873, Dupré viết gửi cho tuần vũ Vân
Nam:
“Ngài chớ lo lắng ǵ đến một việc mà tôi phải
lo lắng. Ngài cũng không cần gửi quân để ủng hộ ông Dupuis” (52).
Cũng vào một ngày ấy, Dupré
viết thư cho tổng đốc Quảng Châu:
“Nếu
tôi để cho ngài cả cái gánh nặng nề là bảo vệ quyền lợi thương mại ở Bắc
Ḱ [vốn] gần gũi [với] Sài G̣n, th́ đó sẽ là một điều bất công… Trong
những điều kiện đó, th́ sự có mặt của quân đội Trung Quốc trên nước An Nam
c̣n có lợi ǵ đâu? Đường sá xa xăm và khó nhọc, nước lại độc, nếu nuôi
quân ở đó th́ hao tốn lắm. Ḷng ngài không thể không đau xót. Cho nên tôi
xin ngài rút quân Lưỡng Quảng về và cả quân Vân
Nam
nữa để cho họ khỏi bị đồn trú xa xôi mệt nhọc và nguy hiểm” (52).
Như thế,
rơ là bọn Pháp đă mua chuộc và khôn khéo lôi kéo Trung Hoa về phía chúng,
ḥng cô lập Đại
Nam ta. Cho nên,
không lạ lùng ǵ khi Cơ mật viện đệ thư qua Vân
Nam, Quảng Châu,
chỉ nhận lại thư phúc đáp qua loa, đại khái!
Cơ mật
viện đề nghị quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương phải bắt ngay bọn Bành Lợi
Kư, Quan Tá Đ́nh, giao cho tỉnh Sơn Tây xích trói lại để nêu gương cho bọn
sâu mọt trong nước (50). Nhà vua vẫn sợ gây khích biến, bảo giao cho
Nguyễn Tri Phương xét kĩ để làm thế nào cho ổn thoả!
Nguyễn
Tri Phương đă uỷ cho bố chính Hà Nội Vũ Đường (Đàng) mời Jean Dupuis đến
Sứ quán để cùng nói chuyện. Y đi vắng! Hẳn y t́m cách tránh mặt! Tên người
Hoa Lư Ngọc Tŕ tự xưng là tri phủ “thiên triều” nhà Thanh cũng cứ ở trong
tàu của Jean Dupuis, thác cớ bị ốm, chỉ cho thuộc viên là hai tên Uông Sư
Đa, Hà Sằn đến Sứ quán bàn thay (53)! Thật mất thể cách!
Nguyễn
Tri Phương thấy sự nhẫn nhịn theo lệnh vua Tự Đức đến thế đă là quá mức.
Ông cảm thấy không thể chịu nổi nữa! Binh bộ hữu tham tri Phan Đ́nh B́nh
liền được điều động ra Bắc Ḱ (54) với chức năng khâm phái để cùng quan
khâm mạng Vũ hiển họ Nguyễn bàn bạc, xử trí t́nh huống Jean Dupuis. Vua Tự
Đức vẫn âu lo vụ việc sẽ nổ bùng thành chiến tranh, và rất sợ hăi trước
nguy cơ thất bại không thể tránh khỏi, nếu thật sự chiến tranh nổ ra!
Jean
Dupuis vẫn tiếp tục gây hấn bằng nhiều hành vi ngang ngược, ít ra là từ
tháng mười một nguyệt lịch năm ngoái đến cả tháng tám, năm Tự Đức thứ hai
mươi sáu, Quư dậu (1873) này. Bên cạnh y vẫn luôn có thiếu tá thuyền
trưởng tàu Bô Liên (Bô Len, Bourayne) yểm trợ. Ấy là Senès, kẻ đă và đang
ngoa ngược bảo rằng tàu của y đi đánh bắt hải tặc theo “hoà”
ước Nhâm tuất 1862! Trên tàu Bourayne lại có mặt cố đạo Trường (Legrand de la Liraye)
(55), vốn trước kia là quân sư của Pierre Tạ Văn Phụng, nay đang tham mưu
về Bắc Ḱ cho Senès. Ngoài ra, các tên thống đốc thực dân Nam Ḱ và cả
Dupré c̣n chuẩn bị sẵn từ nhiều năm trước con bài chủ cho sự biến Bắc Ḱ:
không ai khác là Françis Garnier!
4
Ngày mùng
năm tháng tám nguyệt lịch (26.9.1873), phó sứ Nguyễn Văn Tường được chánh
sứ Lê Tuấn uỷ nhiệm cùng linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư đến dinh thống
đốc Dupré để đàm luận nhiều vấn đề liên quan đến hai đất nước, của Pháp và
của Việt (56). Nguyễn Văn Tường cố nhấn mạnh đến khó khăn hiện nay của
Pháp để cảnh tỉnh tham vọng ở tên cáo già Dupré. Trên cơ sở đó, Nguyễn Văn
Tường mong Pháp hăy xem hai tỉnh Alsace và Lorraine Pháp phải cắt nhượng
cho Đức cũng như t́nh trạng Đại Nam phải nhượng và bị cưỡng chiếm Nam Ḱ
bởi Pháp! Ông mong Dupré và nước Pháp hiểu cho nỗi đau ḷng của ông và của
triều đ́nh, của sĩ dân nước Đại
Nam trước số phận
nhân dân Nam Ḱ. Nỗi đau ấy cũng như tâm trạng nhân dân Pháp và chính phủ
Pháp đối với đồng bào của họ ở
Alsace,
Lorraine!
Cuối cùng, sau những lời lẽ tâm
công đó, phó sứ Nguyễn Văn Tường bày tỏ yêu cầu Dupré tỏ
ra thuận lợi đối với Đại
Nam. Tên cáo già
Dupré hơi chạnh ḷng, y đề nghị Nguyễn Văn Tường viết thỉnh nguyện thư gửi
Chính phủ Cộng hoà Pháp (56).
Trong
quăng cách giữa những ngày làm việc, sứ bộ c̣n được các giám mục, linh mục
Tây dương đưa đi tham quan thực tế ở các chủng viện, trường học do họ tổ
chức, quản lí!
Dẫu biết
do thực dân đạo diễn, bày vẽ, phó sứ Nguyễn Văn Tường không thể không cảm
động đến đau ḷng khi nghe các câu hát chào và thỉnh nguyện từ môi những
đứa trẻ Việt phải sống trong thân phận nô lệ, đang bị kẻ thù đào luyện
thành tay sai “tả đạo” cho tham vọng thực dân của nước Pháp:
“… Tuy nhiên chúng cháu sống bặt tăm trong xứ sở xa xôi
này, chúng cháu chỉ c̣n biết cầu xin hoàng đế cao dày rộng ḷng xem xét
những trường hợp của chúng cháu…” (57)
“… Nhưng những bọt nước th́ phải văng theo sóng lượn!
Xin các ngài xét đến trường hợp của các cháu…”
(57).
Nỗi niềm
ấy xuất phát từ các trái tim thơ dại, trong trắng đó chăng? Hẳn đúng vậy.
Có điều, không thể không thắc mắc, làm sao những đứa trẻ lại có thể phổ
thành bài hát và công khai hát trước mặt bọn viễn chinh, cố đạo Pháp trong
buổi lễ đón chào sứ bộ Đại
Nam này? Tại sao
bọn Pháp đạo diễn cho các cháu hát lên như thế? Phải chăng đó là một cách
pḥng xa của những tên cố đạo (thực chất là thực dân) trước t́nh thế, biết
đâu một ngày nào đó bọn thực dân viễn chinh sẽ phải rút khỏi Đại Nam, nhất
là thời điểm Pháp mới bị Phổ (Đức) đánh bại và cách mạng vô sản Pháp có
thể lại bùng lên, t́nh h́nh chính trị ở Pháp đang có nhiều biến động? Ngày
Đại Nam giành lại được nền độc lập, những đứa trẻ bị đào luyện thành “tả
đạo” này sẽ phải bị triều đ́nh Đại Nam nghi ngờ, thậm chí trừng phạt… Phải
chăng các tên cố đạo pḥng xa như thế? Hoặc đó là một biểu hiện cuả thủ
đoạn hai mặt (chính – tà nhập nhằng, đánh lẫn) mà các cố đạo thực dân
thường sử dụng?
Dẫu sao,
những lần ấy khiến phó sứ Nguyễn Văn Tường không thể không trăn trở, và
ông quyết định phải đấu tranh với bọn Pháp như thế nào để giành lại những
đứa trẻ Việt
Nam ấy. Như một
loé chớp, ông cầm bút viết vào lúc đêm hôm khuya khoắt, dưới ánh đèn giữa
pḥng ngủ chung:
“Ôi đất đai khai thác gian nan mà một sớm nhượng cho
người. Hoàng thượng nhức nhối trong ḷng đă lâu, mà tôi con cũng không dám
lộ ra ngoài miệng” (Bản tấu, 10.8 Quư dậu
[1873]) (58).
“Thần trộm nghĩ rằng có người mới có đất, mà thu
phục nhân tâm th́ chính trị tốt không bằng giáo hóa tốt. Các hạt trong Nam
vốn có dựng văn miếu, có thầy dạy, có trường thi, nhưng từ khi hữu sự đến
nay bỏ phế đă lâu vậy…
Xin được ưng
thuận cho đem lí lẽ tranh biện với nó, đ̣i hỏi cho ta được trùng tu văn
miếu để tiện phụng thờ, cắt đặït giáo chức để rèn luyện học tṛ và mở
trường thi để thu nhiều kẻ học. Dân giáo nếu xin nhập học, ứng thí cũng
cho.
Như thế th́ cơi bờ dù có mất mát ch́m đắm, chính
lệnh tuy chưa tới được, nhưng giáo hoá vẫn c̣n có thể thi hành, lấy đó mà
vun trồng đạo lí, kích thích sĩ phu. Chúng nó mới đến, dùng chính sách hà
khắc, ta lấy thiện giáo dạy dỗ dân. Tuy mất đất đai nhưng có được ḷng
người, th́ cũng có thể dùng về sau. Vả lại, bên ngoài ta lấy vẻ mặt tươi
cười chờ đợi, bên trong lại nghiêm chỉnh tự trị, binh khí, thuyền súng có
nhân viên đảm trách, người tự nỗ lực, tự mưu tính để chờ cơ hội, th́ cái
hiệu nghiệm lúc xế chiều không phải là muộn vậy” (Bản tấu ngày 10.8 Quư
dậu [1873]) (58).
“Cốt yếu ở chỗ
ta phải có thế không thể xâm phạm, sau đó mới lấy lẽ không thể dung tha
được để trách người” (Bản tấu ngày
10.8 Quư dậu [1873]) (58).
Những ư nghĩ ấy
day dứt trong ḷng phó sứ Nguyễn Văn Tường khôn nguôi.
Trong t́nh
huống ấy, sứ bộ vẫn thường xuyên nhận được tin tức thông báo t́nh h́nh Bắc
Ḱ qua trung sứ (viên sứ giao liên), và cũng qua trung sứ, họ liên lạc,
trao đổi với triều đ́nh Huế. Yêu cầu của triều đ́nh Huế và vua Tự Đức đặt
ra, chính vua và các đại thần phần nào cũng đă thấy bất khả! Sứ bộ nhận
được chỉ thị mới trong nỗi chua xót. Hạ thấp yêu cầu của phía ta trong đàm
phán, điều ấy có nghĩa là, không thể gọi chuyến đàm phán này là thắng lợi.
Thắng lợi thế nào được khi sứ bộ ta không đạt được mục tiêu ban đầu!
Ngày mùng chín
tháng tám nguyệt lịch (30.9.1873), sứ bộ gửi đến thống đốc Dupré một công
văn với vài lời khiếu nại mới (59). Ba hôm sau (03.10.1873), phó sứ Nguyễn
Văn Tường, tham biện sứ bộ Nguyễn Tăng Doăn và linh mục thông ngôn Nguyễn
Hữu Cư đến Dinh Thống đốc Pháp, đề nghị phúc đáp công văn (30.9.1973)
(59). Trong công văn ấy, sứ bộ đă hạ thấp yêu cầu:
1.
Trao trả
tỉnh Biên Hoà, v́ đó là quê hương của mẹ vua Thiệu Trị.
2.
Băi miễn
hoàn toàn số tiền bồi thường chiến phí (cả Pháp lẫn Tây Ban Nha).
3.
Bỏ câu
“doăn hành tắc hành” trong “hoà” ước Nhâm tuất 1862, vốn bó buộc vua
Tự Đức không được nhượng một phần đất nào của ḿnh cho một quốc gia nào
khác nếu không được nước Pháp chấp thuận (59).
Thái độ của
Dupré vẫn là im lặng từ chối. Y không muốn phúc đáp, chỉ bày tỏ ư định là
mong sứ bộ chờ cho vài bữa!
Trong thời điểm
ấy, viên chủ sự của ta, tên Sâm, vốn là tuỳ viên sứ bộ, bị vi phạm sơ suất
nặng, phải bị băi chức, nhưng vẫn cho ở lại để dự thính, học thêm tiếng
Pháp, hoàn thiện thêm năng lực thông ngôn (60). Dẫu sao, việc băi chức này
vẫn là sự cố ngoài lề thuộc về nguyên tắc. Công việc vẫn tiến hành như cũ.
Trong quăng
thời gian trống, vẫn có người chợt hỏi: Thật ra, phải chăng “vấn đề
trục xuất Jean Dupuis ra khỏi Bắc Ḱ có thể là mục đích chính của sứ bộ An
Nam”
(61)?
Không, không phải
chỉ yêu cầu quá thấp như thế, mặc dù đấy là một trong những yêu cầu chính.
Trong khi chờ
sự thay đổi ở Dupré, hăy đàm phán về vụ Jean Dupuis xem sao! Sứ bộ nghĩ
vậy.
Những hối thúc
tác động vào Dupré. Y trả lời cho sứ bộ về yêu cầu ấy:
- “Tôi thấy
không có cách ǵ hay hơn là tôi sẽ gửi một sĩ quan và một số nhân viên tuỳ
tùng ra Hà Nội. Viên sĩ quan này sẽ ra lệnh cho Dupuis phải rút lui, và
lấy vũ lực buộc anh ta thi hành mệnh lệnh nếu anh ta cưỡng lại lời nói”
(62).
Sứ bộ đệ tŕnh
ra Huế bằng đường trạm khẩn cấp.
“Triều đ́nh
nhận lời đề nghị này, và tưởng rằng đă được việc, và sẽ lợi dụng Dupré để
đuổi Jean Dupuis, rồi kiếm cách đuổi Dupré sau” (62).
Vào ngày mười bảy
tháng chín (08.10.1873), phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doăn lại đến gặp Dupré. Đề nghị hôm
ấy là phải cho hai chiếc tàu ra Bắc Ḱ để bắt giam, trục xuất Jean Dupuis
(63), bởi y ngày càng khiêu khích ngông ngược, đến mức đa số sĩ dân Bắc Ḱ
và Nguyễn Tri Phương không thể chịu nổi, cho dù Phan Đ́nh B́nh đă ra Hà
Nội để tiếp sức cho ông!
Sứ bộ không ngờ
Françis Garnier mới về từ Thượng Hải, sau chuyến nghỉ phép ba tuần để thu
xếp cho vợ con, y cũng đang chuẩn bị ra Bắc (64)! Con bài Françis Garnier
đang được ném vào chiếu bạc chính trị ở Bắc Ḱ theo dự tính từ lâu của
thực dân Pháp!
Triều đ́nh Huế đă có một nhân vật đối trọng với Jean Dupuis và cả với Françis
Garnier, sẽ làm đúng vai tṛ như Jean Dupuis! Lưu Vĩnh Phúc không phải
người Việt, mà vốn là giặc Cờ đen. Có thể Lưu Vĩnh Phúc sẽ phải chiến đấu
trong vai tṛ
hiệp
sĩ “phi chính phủ” (ngoài ṿng trói của “hoà” ước!).
Lưu Vĩnh Phúc không thuộc quyền chỉ huy của ai hết, kể cả sự phụ thuộc vào
triều đ́nh Huế!
Sứ bộ
không biết, trước hôm Françis Garnier ra đi, tên cáo già Dupré đă kể
chuyện Jean Dupuis trên đất Hà Nội và trên các tỉnh khác ở Bắc Ḱ cho y.
“Dupré nói với Garnier:
- V́ các việc nói trên, mà tôi đă nghĩ đến anh. Tôi sẵn sàng cho anh một ngàn (1.000) quân dưới quyền chỉ huy của đại tá
Trentinian và một số pháo thuyền quan trọng.
Nhưng Garnier trả lời:
- Như vậy ta sẽ đi vào con
đường khá nguy hiểm. Huế chỉ nhận cho ta đưa đi một vài nhân viên tuỳ
tùng. Nếu ta giữ đúng lời này, ta sẽ giữ được một vị trí ngoại giao không
ai có thể chống đối được.
- Vậy anh có thể đích thân
đi được không?
- Thưa được, nhưng chỉ với
sáu mươi (60) người thôi, mà tôi được quyền lựa chọn. Tôi sẽ thoả hiệp với
chánh phủ người
Nam
và sẽ giải quyết t́nh h́nh tại chỗ. Nếu ta có thể làm cho Dupuis nghe lẽ
phải, thiếu tướng sẽ có thể v́ ân nghĩa này mà đ̣i hỏi triều đ́nh Huế thoả
thuận cho ta được đi lại tự do trên sông Hồng với một hiệp ước đồng minh”
(65).
Thật tâm
Dupré cũng chẳng dám trái lệnh
Paris,
Paris đang cố tránh sa lầy
tại Bắc Ḱ trong thế yếu của nước Pháp sau chiến tranh Pháp – Phổ. Ông ta
nén tham vọng, nghe theo Garnier với mục tiêu hạn chế ấy! Hai tên thực dân
khác, bộ trưởng Hải quân Pothuau và cả đại uư Garnier cũng thế, đều sục
sôi tham vọng nhưng cũng đều sợ trách nhiệm!
Ngày mười
chín tháng chín (10.10.1873), Garnier đến thăm các sứ thần nước ta trước
khi lên đường ra Bắc Ḱ (66)!
5
CƯỠNG ƯỚC NHÂM
TUẤT 1862 (67)
“Khoản
thứ I: Từ sau khi [kí kết “hoà” ước], vua hai nước Phú Lăng Sa và Y Pha
Nho với vua nước Đại Nam cùng dân ba nước, không kể người nào ở địa phương
nào, đều cùng đôn đốc hữu nghị, hoà hảo lâu dài.
Khoản thứ
II: Hai nước Phú và Y truyền Đạo Thiên chúa ở nước Đại Nam, ai muốn theo
cũng cho, ai không theo cũng không bắt buộc.
Khoản thứ
III: Về ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và một xứ đảo Côn Lôn, giao
cho nước Phú quản hạt. Như người buôn của nước Phú chạy tàu, thuyền lớn
nhỏ từ biển khơi đến các sông lớn, sông nhỏ, đi sang các xứ nước Cao Mên
buôn bán, đều được tuỳ tiện. Nếu tàu binh của nước Phú do tự [:theo từ]
ngoài khơi ấy đi vào các sông xem xét cũng cho tuỳ tiện.
Khoản thứ
IV: Từ sau khi nghị hoà, nếu có nước khác muốn đến nước Nam gây chuyện,
hoặc muốn cắt đất giảng hoà, nên báo tin cho nước Phú tính bàn, tuỳ nghi
cùng giúp đỡ. Về trong khoản giảng hoà với nước khác mà có sự cắt đất, nếu
nước Phú bằng ḷng làm th́ làm, không bằng ḷng th́ bất tất làm.
Khoản thứ
V: Người buôn ở hai nước Phú, Y đến buôn bán ở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba
Lạt, Quảng Yên, đều nên đây đó cùng yên, cho được tuỳ tiện. Về thuế lệ của
nước Nam, phải chiểu lệ
mà giao nộp. Nếu người buôn của nước Nam có muốn đi
sang buôn bán ở hai nước Phú, Y, cũng được tuỳ tiện, y theo thuế lệ hai
nước ấy mà nộp. Nếu người nước khác đến buôn bán ở nước Nam, th́ quan nước
Nam không được tư vị giúp đỡ hơn là hai nước Phú, Y. Nếu có sự ích lợi
buôn bán ǵ thi hành cho nước khác, th́ cũng thi hành cho cả một loạt,
[gồm] cho hai nước Phú, Y.
Khoản thứ
VI: Nếu có công việc khẩn yếu mà cần phải hội đồng bàn bạc để làm th́ đều
phái ra viên khâm sai đại thần, hoặc họp ở kinh đô nước Nam, hoặc họp ở
kinh thành hai nước [Phú và Y] để bàn mới được. Nếu không phải là nhân
việc công mà ba nước sai sứ đến hỏi thăm nhau cũng được.
Nhưng tàu
của hai nước Phú, Y đến cửa biển Đà Nẵng th́ [phải] cho tàu dừng đậu. Viên
khâm sứ phải do [:theo] đường bộ [từ Đà Nẵng ra,] tiến vào kinh.
Khoản thứ
VII: Sau khi đă hoà ước rồi, th́ những điều thù oán cũ vất bỏ đi hết. Phàm
quân dân người nào bị nước Phú bắt giam đều tha cho về. Tài sản của trăm
họ cũng đều giả lại cả. Những người nước Nam
có đi làm việc cho người nước Phú, [th́] nước Nam cũng nên đặc
ơn tha cho họ và không bắt tội đến thân thuộc họ.
Khoản thứ
VIII: Bồi lại số bạc chi phí về quân nhu cho hai nước Phú, Y là bốn trăm
vạn (4.000.000) đồng [đô-la], chia trả làm mười năm cho đủ. Mỗi năm giao
cho viên đại thần nước Phú đóng ở Gia Định bốn mươi vạn (400.000) đồng
chứa giữ. Nay hiện đă nhận được mười vạn (100.000) quan tiền kẽm; đợt sau
giao bạc sẽ khấu trừ đi. Mỗi đồng bạc nặng là 07 đồng cân 02 phân [tương
đương với 01 đô-la].
Khoản thứ
IX: Nước Nam như có những giặc cướp, giặc biển, những kẻ làm loạn, quấy
rối ở địa phương thuộc về nước Phú mà trốn về địa phương nước Nam, hay tù
phạm giặc cướp của nước Phú trốn sang địa phương nước Nam, th́ quan nước
Phú lập tức tư cho quan địa phương nước Nam ở nơi tên can phạm ẩn trốn ấy,
bắt giải giao cho địa phương nước Phú trị tội. Nếu có bọn cướp, giặc, bọn
can phạm của nước Nam trốn ở địa phương thuộc về nước Phú, th́ quan nước
Nam cũng [thông] tư cho quan nước Phú biết, bắt bọn tội phạm ấy giao cho
quan địa phương nước Nam trị tội.
Khoản thứ
X: Từ sau khi nghị hoà rồi, phàm nhân dân ở ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang,
Hà Tiên đi lại buôn bán ở địa phương thuộc về nước Phú, về thuế lệ của
nước Phú, đă theo lệ nộp rồi, th́ đều được tuỳ tiện. Nếu nhân có việc công
hoặc các việc quân lính, lương thực, súng đạn, khí giới, mọi vật, muốn qua
lại cửa biển Tiểu ở Định Tường thuộc về đất của nước Phú, th́ Phú Lăng Sa
cũng chuẩn cho đi. Nhưng tất phải trước mười (10) hôm quan nước Nam
phải [thông] tư báo cho quan nước Phú biết trước để cấp phiếu cho đi. Nếu
không báo trước, lại không có giấy chứng thực của quan nước Phú mà tự tiện
đi lại riêng lén, quan nước Phú xét biết, nhất định đem thuyền ấy phá tan
và quân lính đều bắt giữ trị tội.
Khoản thứ
XI: Tỉnh Vĩnh Long hiện đă về phần sở hữu của nước Phú, nay tạm làm nơi
đóng quân. Nhưng [:mặc dù] quan quân của nước Phú tuy đóng ở Vĩnh Long,
nhưng phàm việc nào thuộc về nước Nam, do quan nước Nam xử lí, th́ quan
binh nước Phú không chen vào kiêm làm, cùng là các việc cấm răn cũng vậy.
Duy nước Nam hiện c̣n có các quan vâng mệnh ḍ thám riêng, để thừa cơ tiến
đánh, vẫn ẩn nấp ở hai tỉnh Gia Định, Định Tường. Hiện nay đă cho nghỉ
việc binh, lại lập hoà ước, th́ nước Nam tất phải cho gọi những bọn quan
viên ấy về, để cho nhân dân địa phương ấy đều được b́nh an, [và đến khi
quan quân do thám của nước Nam rút hết] th́ nước Phú lập tức đem tỉnh Vĩnh
Long giao trả về nước Nam coi quản.
Khoản thứ
XII: Phàm sau khi chương tŕnh hoà ước đă lập rồi, quan đại thần ba nước
kí tên, đóng dấu tâu lên. Tính tự ngày kí tên, đóng dấu là bắt đầu, hạn
trong một năm, th́ vua ba nước coi xem, phê chuẩn, rồi giao cho nhau ở tại
kinh thành nước Nam để lưu chiểu”.
Làm tại
Gia Định, ngày mùng 09 tháng 05 năm Tự Đức thứ mười lăm, Nhâm tuất (lịch
Nam), tức là ngày 05.06. 1862 (lịch Tây).
Toàn
quyền đại thần nước Đại Nam: Chánh sứ,
thượng thư Phan Thanh Giản; phó sứ, thượng thư Lâm Duy Thiếp.
Toàn
quyền đại thần nước Phú Lăng Sa: Bonard, thiếu tướng hải quân, tổng chỉ
huy liên quân Pháp [:Phú] – Tây Ban Nha [:Y Pha Nho].
Toàn
quyền đại thần nước Y Pha Nho: Guittierez, đại tá chỉ huy trưởng quân đội
viễn chinh Tây Ban Nha [:Y] tại Nam Ḱ (68).
6
Ngày
mười, tháng chín nguyệt lịch (30.10.1873), chánh sứ Lê Tuấn vẫn lâm bệnh
nặng (69). Ông gắng gượng viết bản sớ xin nhà vua đổi người đảm trách chức
vụ lănh đạo sứ bộ thay ông (69). Không phải t́nh h́nh đă xấu đi đến mức
ông phải thoái thác, thật sự ông thấy sức khoẻ ḿnh đă đến lúc ngặt nghèo.
Thuốc thang không thiếu, ngự y giỏi nhất nh́ Thái y viện vẫn ngày đêm túc
trực, nhưng quả thật, ông thấy rơ bệnh không thuyên giảm chút nào. Cổ họng
ông vẫn sưng tấy, nhức nhối. Hôm nay, Dupré đến, chánh sứ Lê Tuấn vẫn
không ngồi dậy nổi để tiếp. Nằm trên giường, ông vẫn nghe y thúc giục sứ
bộ họp hội đồng để soạn thảo ra các điều khoản “hoà” ước mới (70). Nhưng
phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doăn đề nghị hoăn lại
việc đó trong khi chánh sứ đang bệnh (70). Dupré trở về dinh của y trong
sự sốt ruột. Chả là y sắp hết hạn phục vụ, nên trong thâm ư vẫn muốn lập
công lần cuối!
Về đến
dinh, Dupré viết ngay một bức thư gửi ra vua Tự Đức. Y vẫn muốn giữ lại
chánh sứ Lê Tuấn (69) và đồng thời y rất ngại chính Nguyễn Văn Tường,
người mà y rất gờm v́ sự linh hoạt và sắc bén của ông, sẽ gây khó khăn cho
y!
Sáu ngày
sau (05.11.1873), phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doăn
lại cùng linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư đến Dinh Thống đốc, yêu cầu
Dupré suy nghĩ các điểm đề xuất (71).
Phó sứ
Nguyễn Văn Tường nói:
- Chúng
tôi mong thống đốc trao trả tỉnh Biên Hoà và phủ Hoà
Thạnh (71). Xin lặp lại yêu cầu ấy. Chẳng lẽ nước Pháp vẫn cố quyết vi
phạm “hoà” ước Nhâm tuất 1862 đến mức không thể thương lượng phần nào?
Chẳng lẽ Đại
Nam
lại mất
không ba tỉnh Miền tây v́ sự vi phạm thô bạo ấy?
- Rất
tiếc, chúng tôi không thể trả lại tỉnh nào ở Nam Ḱ. Từ năm 1867 đến năm
1868, tướng De la Grandière đă dứt khoát vấn đề này. – Ngẫm nghĩ một lát,
y nói tiếp –. Tuy nhiên, dẫu sao, tôi cũng hứa sẽ trả lại những vùng đất
nào có mộ phần thuộc họ thân mẫu, họ ngoại tổ nhà vua… Đấy là những nơi
khoảng vài chục mẫu đất…
- Thống
đốc nghĩ sao về việc chúng tôi đề nghị băi bỏ toàn bộ
số tiền được gọi khá mỉa mai và vô lí là “bồi thường” chiến phí
(71)? – Phó sứ Nguyễn Văn Tường nói –. Hẳn đến nay, nước Pháp cũng rất bực
nhọc về việc phải bồi thường như vậy cho Đức! Nhưng khác với nước Pháp,
Đại
Nam
không hề tuyên chiến, mà chỉ chiến đấu để tự vệ!
- Tôi
mong rằng sứ bộ sẽ được uỷ nhiệm toàn quyền. Đến lúc ấy, tôi sẽ xin chính
phủ Pháp theo yêu cầu. Có điều chưa dám hứa trước! – Dupré đáp –.
Phó sứ
Nguyễn Văn Tường biết đó là cái bẫy. Ông nói:
- Rút
kinh nghiệm về sứ bộ Phan Thanh Giản, lần này, bao giờ các khoản “hoà” ước
được hai bên sứ bộ và suư phủ thoả thuận xong, nhà vua và triều đ́nh bản
quốc đồng ư, bấy giờ mới có sắc ấn toàn quyền. Xin hăy thoả thuận trước.–
Phó sứ Nguyễn Văn Tường lại nói –. C̣n điểm thứ ba, “doăn
hành tắc hành” (71)?
Chúng tôi hi vọng thống đốc đă suy nghĩ lại.
Ngước đôi
mắt xanh lè lên, Dupré lại gật đầu:
- Điểm
này tôi đồng thuận (71).
Sứ bộ Đại
Nam cảm thấy khá
lạc quan. Đó vẫn là điểm mấu chốt để phá vỡ thế bị cô lập và trói chặt về
ngoại giao, kể cả ngoại thương. So với cuộc hội đàm năm 1867 đầu năm 1868,
sứ bộ thấy kết quả có phần khả quan hơn. Nhưng phó sứ Nguyễn Văn Tường vẫn
muốn tranh đấu thêm một mức nữa.
Đến hết
buổi trưa, rốt cuộc, Dupré vẫn chỉ chịu nhân nhượng đến đó!
Hai mươi
ngày sau, tin từ triều đ́nh Huế chuyển vào:
“Vua nghe tin chánh sứ đi Tây là Lê Tuấn ốm, ở lại tỉnh Gia Định, [liền] sai phái thầy thuốc đến chữa và sai trung sứ
đem các thứ thuốc. Rồi tiếp được một tập mật tâu của Lê Tuấn và thư của
tướng Pháp, chữ Tây, chữ Hán mỗi thứ một tờ.
Vua bảo Viện Cơ mật rằng:
“Tập tâu của Lê Tuấn xin đổi người đi sứ, mà thư của tướng Pháp có ư h́nh
như không muốn đổi, th́ t́nh ư đă hợp, làm việc dễ thương thuyết, quyết
không đổi”. [Vua] chuẩn cho lục chỉ giao cho sứ thần tuân theo” (69).
Đó là
ngày mùng sáu tháng mười nguyệt lịch (25.11. 1873).
Bốn ngày
sau, chiếc tàu Decrès từ Hà Nội vào đến Sài G̣n. Ngày kế tiếp, Dupré đến
Dinh Sứ quán báo tin Garnier đă chiếm thành Hà Nội từ mười hôm trước (72)!
Đó là một tin sét đánh đối với sứ bộ! Bàng hoàng hơn, khi họ nghe những
tin về tổn thất.
Đêm đến,
cả chánh sứ Lê Tuấn, người lúc này đă được phục hồi sức khoẻ (72), cùng
với phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doăn đều đi đến Dinh
Thống đốc xin phóng thích cho các viên quan của ta ở Hà Nội bị giặc bắt
vào, chúng đang giam giữ họ. Sáng hôm sau Dupré mới trả lời, y chỉ phóng
thích cho khâm phái Phan Đ́nh B́nh và bố chính Vũ Đường (Đàng), c̣n các
viên khác, đề đốc Đặng Siêu, lănh binh Nguyễn Đăng Nghiễm và hai con trai
của Phan Thanh Giản là Phan Tôn, Phan Liêm, y vẫn quyết định phải giam giữ
làm con tin, cho đến khi kí kết “hoà” ước xong. Và ngay lập tức, vào ngày
mười hai (01.12.1873) ấy, theo lệnh y, hai anh em họ Phan bị đẩy xuống tàu
Aveyron để bị chở về Pháp (72)!
Sứ bộ
không thể không rúng động trước sự biến quá bất ngờ. Họ tiên đoán chúng sẽ
làm sức ép, nhưng bằng sự quấy rối hơn là bằng tấn công quân sự. Họ lại
hoàn toàn không ngờ thành Hà Nội lại thất thủ nhanh đến thế với tổn thất
về người đau đớn đến thế!
Đối với
sứ bộ, cái chết cùng ngày của giám mục Miche (73), kẻ trợ giúp đắc lực cho
việc Pháp bảo hộ Cao Mên (73), cái chết ấy càng trở nên vô nghĩa trước tin
dữ kia, thậm chí c̣n dưới mức vô nghĩa nữa! Trong thời điểm nghe tin Hà
Nội thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương, bị bắt, con trai ông (pḥ mă
Nguyễn Lâm) tử trận, không ǵ mỉa mai, chua chát hơn khi sứ bộ Đại Nam
phải đành cắn răng tuân theo phép lịch sự ngoại giao, đến giáo đường “tả
đạo” để dự lễ cầu hồn, an táng giám mục thực dân Miche (73).
Hết
tệp 2 truyện kí thứ 7
Viết đến ḍng chữ cuối
của truyện kí thứ 7
vào lúc 11 giờ kém 05
phút,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ,
HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(40)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 467 – 469.
(41)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 469 – 470.
(42)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 293, 342;
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 471.
(43)
NNBCĐH., bài đă dẫn, chú thích của Cadière, sđd.,
2001, tr. 474.
(44)
NNBCĐH., bài đă dẫn, chú thích của Cadière, sđd.,
2001, tr. 471.
(45)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 471 – 474. Xem
chú thích (110).
(46)
M. Dutieb,
L’Amiral Dupré et la conquête du Tonkin, dẫn theo CXL., sđd., 2001, tr.
298.
(47)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 321.
(48)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 322.
(49)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 328.
(50)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 321.
(51)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 322 – 324.
(52)
CXL., sđd., 2001, tr. 314.
(53)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 324.
(54)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 325.
(55)
CXL., sđd., 2001, tr. 293.
(56)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 474.
(57)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 472 – 473, 474
– 475.
(58)
Châu bản, dẫn theo:
Các báo cáo khoa học, bài
“T́m hiểu thêm về Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)”
của Trần Viết
Ngạc, Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm
Khoa học xă hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa
Thiên – Huế, 02.07.2002., tr. 16.
(59)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 475 – 476.
(60)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 476, 479.
(61)
NNBCĐH., bài đă dẫn, chú thích của Cadière, sđd.,
2001, tr. 476.
(62)
NTP., sđd., 1974, tr. 180.
(63)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 476.
(64)
NNBCĐH., bài đă dẫn, chú thích của Cadière, sđd.,
2001, tr. 476.
(65)
NTP., sđd., 1974, tr. 181.
(66)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 476.
(67)
ĐNTL.CB., tập 29, sđd., 1974, tr. 297 – 305.
(68)
VN.NSKLS, tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 45 – 46.
(69)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 333.
(70)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 477.
(71)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 477.
(72)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 478.
(73)
NNBCĐH., bài đă dẫn, sđd., 2001, tr. 478 – 479,
470.
Soạn
xong phần chú thích
lúc
09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 2
(PHÂN ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
Xin
xem tiếp T
ỆP 3
(phân
đoạn 3 truyện kí thứ 7)