Tệp 14
PHÂN ĐOẠN 6 TRUYÊN KÍ
THỨ 8
TRẦN
XUÂN AN
CUỘC CHIẾN
NGOẠI GIAO
VÀ NGOẠI
THƯƠNG
Truyện kí thứ tám
(phân
đoạn 6)
16
Một trận địa
không tiếng súng trên chiến trường kinh tế (với nghĩa quốc kế dân sinh,
économy) thuộc chức năng, trách nhiệm Bộ Hộ là tiền tệ (tài chính). Đồng
tiền nước ta từ những năm tán lí Nguyễn Văn Tường c̣n tiễu phỉ phía bắc,
đă bị những tên khách buôn nước Thanh làm giả. Tiền giả ấy tràn sang các
tỉnh biên giới bắc và một số tỉnh Bắc Ḱ, nằm trong mục đích của các khách
thương người Hoa là vơ vét hàng hoá và lũng đoạn nền tài chính nước ta.
Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường nhớ rơ lần đầu tiên ông phát hiện ra
loại tiền nhân dân bị lừa là vào tháng tư, năm Tự Đức thứ hai mươi bốn
(1871) (213). Khi đi sứ vào Gia Định với thượng thư Lê Tuấn, ghé lại B́nh
Định v́ nồi hơi nước tàu bị nổ, ông càng biết rơ tiền giả đă tràn lan ở cả
B́nh Định, khi vỡ ra vụ bọn khách buôn người Thanh chở sang thông mưu với
tên chủ ḷ đúc Hoàng Đ́nh Quan, vào tháng sáu nhuận, năm Tự Đức thứ hai
mươi sáu (1873) (214). Như thế là tiền giả (tiền sềnh, tiền dị dạng) đă là
một quốc nạn từ Bắc đến Trung, trong nhiều năm nay!
Đến tháng
mười một, Bính tí (1876), “khi
ấy tỉnh Hà Nội có người khách buôn thuyền ở Tô Châu chở tiền đồng cổ ra
khỏi cửa biển” (215).
Ngay lập tức, có
sắc dụ cấm chỉ. Hoá ra, c̣n có vấn đề là kim loại đồng nguyên chất! Bọn
con buôn hám lợi đă thu mua tiền đồng thật, nguyên chất. Chúng lại đúc
tiền đồng pha kẽm mang hiệu tiền Đại Nam, chất lượng xấu, lại mỏng hơn, và
càng về sau càng dị dạng.
Sau nhiều
biện pháp cấm đoán vẫn không cấm nổi tệ nạn ấy, v́ tiền giả đă đi sâu vào
trong sinh hoạt chợ búa, mua bán thường ngày trên hầu hết các nơi trong
tất cả các tỉnh!
Đây là một
vấn nạn rất nhức đầu cho cả nước! Đành phải thi hành tạm thời liệu pháp
thử để nghiệm: “dĩ độc trị độc”, vào năm một tám bảy tám (1878)!
“Bỏ lệ
cấm tiền đồng khác kiểu để đánh thuế.
Gần đây,
các người buôn nước Thanh thu nhiều tiền đồng khác kiểu, tải đến các cửa
biển từ tỉnh Quảng Nam trở vào Nam, để trao đổi với nước ta. Tháng trước,
đă chuẩn cho nhân dân, nếu có lấy nhầm, th́ cho thú nộp ở tỉnh, [tỉnh sẽ]
đổi cho tiền kẽm (mỗi quan tiền đồng đổi lănh hai (02) quan tiền kẽm; tiền
đồng ấy [sẽ được] đúc thành đồng để vào kho).
Đến đây,
bọn khâm sai ở Quảng Nam là Hoàng Diệu, hộ phủ là Lâm Hoành, khâm phái
Quảng Ngăi là Đàm Khắc Nhượng, bố chính là Đoàn Dao tâu lên, nói: “Người
buôn nhân đó chọn lấy; dân nghèo mua gạo không được; t́nh [h́nh]
lại càng khổ; tâu xin bỏ cấm [: bỏ lệ cấm]”.
Bộ Hộ
nghị lại, cho là tiền như nước suối, phép phải lưu thông luôn. Tiền hiệu
nước ta lưu hành ở các xứ Bằng Tường, Ninh Minh tỉnh Quảng Tây và Mă Cao
tỉnh Quảng Đông [Trung Quốc] rất nhiều. Họ dùng mà ta cấm, không những hại
cho dân ngay ở trước mắt, sợ đến khi ta thiếu mà họ thừa. Nếu, hoặc lo họ
trà trộn, th́ chỉ trong khoảng năm, sáu [5; 6] phần, trà trộn được bao
nhiêu. Thà rằng cấm mà không tiện, không chu đáo, sao bằng cho lưu thông
để t́m ṭi rồi rào [:dồi dào] th́ hơn. Nay xin không cứ thuyền buôn nước
nào, nếu có hiệu kiểm tiền đồng, tiền kẽm nước ta, đều cho đem đến buôn
bán, nhưng khi vào cửa biển phải báo ngay cho quan coi cửa biển xét thực,
chiểu lệ đánh thuế (trăm phần trăm thu mười phần). Nếu có ẩn lậu, chiểu
thương ước tịch thu cả tiền trong thuyền vào Nhà nước. Viên quan tỉnh và
coi cửa biển không kiểm soát được, chiểu luật trị tội. Người tố cáo ra mà
được sự thực, trích một nửa tiền ở thuyền để thưởng cho. Như thế th́ người
buôn tham lợi tranh nhau mà đến. Tốn đồng, kẽm, công thợ, vật liệu người,
mà sung vào tiền hiệu thuế quan của ta, tưởng cũng hơi tiện [lợi].
Vua [châu
phê] bảo rằng: Hai hạt Lạng Sơn, Cao Bằng, quen dùng tiền nước Thanh, từ
trước đến nay cũng cho; chuẩn cho lục sức thi hành ngay để giúp sự cấp
bách cho dân”
(216).
Thượng thư
Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường xét nghĩ trên cơ sở lời tâu xin của các vị quan rất
có uy tín và có thực tế (đang làm khâm sai, khâm phái và quan tỉnh). Ông
lập luận theo nguyên tắc định mức mệnh giá đồng tiền:
Mệnh giá = giá vật liệu (đồng, kẽm) +
tiền công + tiền than củi đốt ḷ đúc.
Đó cũng là nguyên
tắc định mệnh giá đồng tiền vàng, đồng tiền bạc.
Đồng tiền
vàng, đồng tiền bạc cũng là một loại hàng hoá có giá trị trên toàn thế
giới. Nguyên tắc định giá trị hàng hoá vẫn là nguyên tắc ngang giá (kí
hiệu bàng dấu bằng [ = ]). Như thế nạn tiền giả sẽ được giải quyết. Vấn đề
đặt ra khá khó khăn là kiểm định chất lượng kim loại quư (vàng, bạc, và có
thể kể cả đồng, kẽm) được đúc thành tiền.
Về mặt lí
thuyết, nhận định trên là hoàn toàn đúng. Trên thực tế, lịch sử tiền tệ từ
xưa đến nay vẫn xuất hiện và tồn tại loại tiền kim loại quư (đồng tiền
vàng, đồng tiền bạc). Thượng thư Bộ Hộ c̣n lưu ư câu viết trong bản tấu
của Hoàng Diệu, Lâm Hoành, Đàm Khắc Nhượng, Đoàn Dao:
“Người buôn nhân đó chọn lấy; dân
nghèo mua gạo không được; t́nh [h́nh] lại càng khổ; tâu xin bỏ cấm [: bỏ
lệ cấm]”.
Đúng vậy. Nếu cấm và thu đổi tiền giả (đồng pha kẽm), th́ các người buôn
sẽ tuyển chọn để thu mua tiền thật (chất lượng đồng tốt) và không chịu thu
tiền giả (chất lượng đồng kém, đă pha thêm kẽm), mà tiền giả (tiền sềnh)
đă ở trong hầu bao của nhân dân (ban đầu do tham lợi!), nhất là dân nghèo
bị lừa gạt.
Sắc dụ đă
được ban ra, đi vào đời sống sinh hoạt thường ngày ở chợ búa với sự lưu
thông tiền tệ của nó.
Nhưng trong
thực tế, tập tâu xin của Hoàng Diệu, Lâm Hoành, Đàm Khắc Nhượng, Đoàn Dao,
phiếu xét nghĩ, nhận định, đề nghị của Bộ Hộ do Nguyễn Văn Tường phụ trách,
và cả châu phê lẫn sắc dụ của vua Tự Đức đều được thực tế thị trường phản
hồi là sai lầm!
Đây là một
vấn nạn rất nhức đầu cho cả nước! Một quốc nạn, do bọn khách buôn người
Hoa và một số người Tây dương! Quốc nạn này nảy sinh một khi các cửa khẩu
đă mở ra, ở miền núi biên giới bắc (tự phát), ở miền biển (thương ước). Mở
cửa về ngoại thương, buôn bán với tất cả các quốc gia (Hoa, Nhật, các nước
Âu Mỹ…), việc đó đ̣i hỏi phải có một loại tiền thống nhất trên thế giới (tiền
quốc tế, không phải tiền tệ của một nước nào). Nhưng thực tế là không có
loại tiền ấy. Do đó tiền Đại Nam trôi nổi ra nước ngoài là không có ǵ lạ.
Cũng không có ǵ lạ khi tiền nước Thanh trôi nổi vào Lạng Sơn, Cao Bằng…
Và do ḷng tham, tiền giả do người Thanh, người Tây dương tràn vào nước ta,
thu hút tiền thật nước ta ra nước ngoài, thu lợi chênh lệch về giá (kim
loại đồng là hàng hoá), vơ vét các loại hàng hoá khác với giá rẻ (thu mua
bằng tiền giả [tiền sềnh]). Có một âm mưu phá hoại về kinh tế, cụ thể là
về tài chính, gây rối loạn thị trường? Về quân sự, đồng là một kim loại
chiến lược thường dùng để đúc súng đạn. Có âm mưu ǵ ở đó? Về sau, triều
đ́nh mới phát hiện ra là có bàn tay người Pháp ở Gia Định nhúng vào.
“Thương
trường là chiến trường”.
Trên mặt trận này, bốn vị quan kia, thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường và
vua Tự Đức cũng như đ́nh thần đă vấp phải một thất bại, do ban ra sắc dụ
“chữa cháy”
trước thực trạng
tiền sềnh từ lâu đă tràn vào nước ta, nhân dân đă trót lỡ tiêu dùng như
tiền thật!
Sau đúng một năm,
vào tháng mười một nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi hai (1879), quan
Nội các là nhóm Bùi Ân Niên tâu xin cấm tiền giả của người buôn nước Thanh:
“Quyền tự đúc tiền là tự triều đ́nh
nắm giữ. Bữa nọ v́ trực tỉnh phía nam mất mùa, dân đói, tiền giả nhân đó
trà trộn vào. Nhiều lần đă nghiêm cấm không được. Đ́nh thần bàn xin đánh
thuế nặng, cũng là không cấm mà hoá cấm. Nhưng biết đâu người giữ đồn cửa
biển không giấu giếm, dung túng, kẻ buôn trí trá không gian dối! Lại nghe
đồng tiền hạng lớn, kẻ buôn kia dụng kế t́m đổi, đem về đúc lại. Hiện nay,
tiền cũ tiêu dùng, mười (10) phần chỉ c̣n [từ] một (01) [đến] ba (03) phần.
Sau này, ở trong nước, đều là tiền của chúng, lâu ngày hư hỏng, lại không
dùng được. Thế là cốt để cứu cái tệ tiền khan hiếm [do bị thu mua
chở ra nước ngoài], mà trở thành cái lo không có tiền! Nếu không chước
nghị kịp thời, thực sợ tiền đúc trộm ấy ngày nhiều, thông hành ngày rộng.
Cái tệ lưu truyền [tiền sềnh] không thể nói xiết, tất đến vật giá đắt như
vàng, tiền rẻ như đất, dù mười (10) phần bỏ đi chín (09) phần, cũng dùng
ǵ được? Nay xin phàm tiền giả ở dân, th́ cho đều tiêu dùng một đồng ăn
một đồng kẽm. Hạn trong sáu tháng th́ phải cấm hẳn… […]” (217).
Đ́nh thần lại luận
bàn rất sôi nổi, căng thẳng. Biện pháp đưa ra rất nhiều, kể cả biện pháp
dùng h́nh luật ở mức nặng. Trong đó, có một ư tưởng được nhấn mạnh:
“kẻ buôn [tiền, gồm cả kẻ đúc tiền giả]
trí trá không lợi được nhiều, tự khắc phải thôi” (217).
Vua Tự Đức cuối
cùng cũng chuẩn theo đ́nh nghị: sẽ cấm hẳn, sau một số biện pháp hạn chế.
Vua bảo: “Sau có chỗ nào không
đầy đủ, lại [đ́nh] nghị thêm” (217),
v́ biện pháp đưa
ra cần phải đo lường hiệu quả trong thực tế.
Cuối tháng
giêng năm Tự Đức thứ ba mươi ba (1880), Bộ Hộ của thượng thư Nguyễn Văn
Tường được chuẩn y việc định lệ cấm tải trộm tiền dị dạng:
“Từ nay phàm tiền dị dạng, nhất thiết nghiêm cấm. Thuyền buôn các nước không được
tải đến. Nếu chủ thuyền dụng t́nh giấu giếm, mà viên tỉnh phái và người
coi giữ cửa biển t́m ra được sự thực, th́ số tiền ấy một nửa nộp vào kho
nhà nước, một nửa trích ra để thưởng. Nếu viên tỉnh phái và người coi giữ
cửa biển thông đồng giấu giếm, bị người khác trích phát ra, th́ hàng hoá ở
thuyền ấy, một nửa đem thưởng cho người tố cáo, viên tỉnh phái và người
coi giữ cửa biển ấy không cứ số tang nhiều hay ít, phải xử chém ngay; quan
địa phương cũng [phải bị] nghiêm nghị cách đuổi” (218).
Tháng bảy,
năm Tự Đức thứ ba mươi ba, Canh th́n (1880) này, mới cách đây mấy tháng,
Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại được chuẩn để làm rơ hơn lệ định lần trước:
“Từ nay
trở đi, tiền dị dạng, thuyền buôn nếu có chở trộm đến cửa biển, là thuyền
của người nước ta, th́ chiểu luật lệ nước ta, thuyền và hàng hoá tịch thu
hết, xử phạt hết mức trượng, đem đi lưu; nếu là người nước ngoài th́ đều
chiểu theo khoản thứ hai mươi bốn (24) trong thương ước, tra bắt tịch thu
hết, không được đến buôn nữa” (219).
Nhưng, tuy
thế, đau xót thay, thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường c̣n bị chính Tôn Thất
Thuyết dâng sớ tâu về tiền giả, nhưng lại tâu theo lời gièm pha của kẻ xấu:
“Thượng thư Bộ Hộ là Nguyễn Văn Tường v́ bị lời gièm, xin trả việc Bộ Hộ, đổi sung
bộ khác.
Nguyên
hiệp đốc là Tôn thất Thuyết tâu nghĩ về việc tiền đồng dị dạng có nói:
“Thuyền nước khác mang đến, hết ḷng xin giúp”; lại nói: “Cùng người chia
lợi, mọt nước hại dân, lại ở kinh đô đồn rầm là Văn Tường nhận nhiều của
lót, tâu xin bỏ cấm”.
Vua dụ
rằng: “Thuyết ít học, không thông, lại có tật nóng nẩy, nói càn, sao đáng
kể. Lời đồn ở kinh đô cũng không có căn cứ. Người xưa không thể dẹp được
lời gièm, cho nên nói: “Cứu rét không ǵ bằng mặc hai lần áo cừu, dẹp lời
gièm không ǵ bằng tự phải tu tỉnh”. Nguyễn Văn Tường từ lúc giữ việc ở Bộ
Hộ đến giờ, có phần hết ḷng trù tính, thuế khoá của nước có hơn lên;
đương lúc phải giữ đà về quân nhu bận rộn, đều được ổn thoả cả. Trẫm đương
trách uỷ cho làm có thành hiệu, sao nên tự đẩy đem thoái thác”” (220).
Bọn giặc miệng
thật đáng sợ thay! Quả thật, đó chính là
lời gièm của bọn giặc miệng.
Kẻ thù không từ
một thủ đoạn nào để triệt hạ uy tín của thượng thư Nguyễn Văn Tường, đến
nỗi chính Tôn Thất Thuyết và những người lương thiện khác cũng mắc mưu
chúng! Trong cuộc chiến ngoại giao, ngoại thương, ông lại bị “bắn hạ” bằng
thủ đoạn giặc miệng thật thâm hiểm đến kinh sợ.
Không có ǵ
khó khăn, phức tạp hơn, khi chính nhân dân trong nước, do ḷng hám lợi vốn
có của con người, “tham cái lợi nhỏ trước mắt, quên cái hại lớn sau lưng”,
do sự ngây thơ, nhẹ dạ, cả tin trước sự tuyên truyền xuyên tạc của bọn
giặc miệng, lại vô t́nh trở thành những kẻ đồn đăi tin xấu không công cho
bọn giặc miệng. Ngay Tôn Thất Thuyết, sao ông không chịu t́m hiểu, điều
nghiên, thẩm tra cho thật chính xác, trên những cơ sở thật đáng tin cậy (quá
tŕnh diễn biến của quốc nạn
tiền sềnh,
quá tŕnh đề ra, bàn thảo, thi hành, kể cả sửa sai, điều chỉnh, bổ cứu các
giải pháp của các quan khâm sai, khâm phái, quan tỉnh và của nhà vua, đ́nh
thần, nhất là của quan Bộ Hộ)? Hiệp đốc quân vụ Tôn Thất Thuyết trước khi
nổi bật lên với h́nh ảnh một vị tướng có tài thao lược, ông vốn là một
giám sinh Quốc tử giám, dẫu không đỗ đạt ǵ, nhưng cũng là một quan văn,
từng làm án sát sứ tỉnh Hải Dương. Chức năng án sát sứ là ǵ, nếu không
phải là thi hành và bảo vệ luật pháp với tư cách người chỉ đạo công vụ
truyền giảng pháp luật và đồng thời là quan toà? Tính cách Tôn Thất Thuyết
như vua Tự Đức lẫn đồng sự nhận xét bấy lâu, đúng là bản tính, và cũng
không có ǵ lạ bởi “sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật”. Không
phải thiếu tŕnh độ, thiếu điều kiện thẩm tra trước khi tâu hặc, mà chính
v́ tính cách? Phải chăng do tính cách cá nhân, một thứ bản tính riêng, Tôn
Thất Thuyết đă sa vào quỷ kế xúc xiểm để li gián của giặc Pháp, giặc khách
thương người nước Thanh và giặc
miệng?
Có một điều
rất giản dị là, muốn b́nh phẩm, tâu hặc, xét xử, kết tội một người nào đó,
người ta cần phải có tang chứng (vật chứng xác định t́nh trạng phạm tội),
nhất là vật chứng quả tang và nhân chứng quả tang. Không bắt được, nắm
được quả tang (ngay đang lúc phạm tội), thiếu tang chứng xác thực có kiểm
nghiệm (sau quá tŕnh thu thập, điều tra), th́ không một ai (từ người
thường dân cho đến quan án sát, thượng thư Bộ H́nh) có quyền b́nh phẩm,
tâu hặc, xét xử, kết tội người khác. Nếu ai cũng hiểu và đều tuân thủ
nguyên tắc sống đă trở thành luật định đó, th́ trần gian này không c̣n chỗ
tồn tại cho lời gièm, sự vu khống, xúc xiểm. Nhờ vậy, trần gian này cũng
bớt hẳn oan khiên.
Tâu hặc từ
rất lâu là một trách nhiệm, nghĩa vụ và đồng thời là một quyền. Tâu hặc
với nghĩa xác định như thế, đă được thể chế hoá thành cơ chế và đă trở
thành nền nếp. Thượng thư Bộ Lại kiêm quản Quốc tử giám, đại thần Viện –
Bạc Nguyễn Tư Giản bị cách chức, cho ra Sơn pḥng Chương Đức khẩn hoang,
cũng do sự tâu hặc có tang chứng, vật chứng, nhân chứng. Thượng thư Bộ
H́nh kiêm quản Bộ Lại, sung Cơ mật viện – Thương bạc Trần B́nh chẳng bị
tâu hặc chính xác về tội chấm thi ám muội nên ông ta bị rơi chức, cho làm
việc chuộc tội ở Sử quán như một viên thư lại là ǵ? Hai chính khanh đồng
thời là đại thần Viện – Bạc Hoàng Trọng Tuyển, Lê Bá Thận đâu phải không
bị pháp luật trừng trị! Thậm chí Lê Bá Thận, sau khi lâm bệnh nặng trong
lao tù, được tạm tha về để chữa bệnh, nay vừa mới chết tại nhà! Và một số
hoàng tử, công tử khác, như Hồng Hoài, Tôn Thất Sở, Hồng Diêu (221), cũng
không thoát khỏi luật pháp, bị kết án ở mức tử h́nh (trảm quyết, trảm giam
hậu), kể cả Hồng Đ́nh (Ḱ Anh quận công Hồng Đĩnh) (222) trước đây, đă bị
giáng tước, khi luật pháp được xác định bất vị thân. Thượng thư Bộ Hộ
Nguyễn Văn Tường không trách Tôn Thất Thuyết tâu hặc ông, chỉ buồn là tâu
hặc không có cơ sở, hoàn toàn thiếu chứng cứ. Vua Tự Đức đă ra dụ chỉ rơ:
“Thuyết ít học, không thông, lại có tật nóng nẩy, nói càn, sao đáng kể.
Lời đồn ở kinh đô cũng không có căn cứ”
và xác định đó chỉ
là lời gièm. Nói càn, không có căn cứ, nếu kể cả hai chữ không thông [hiểu],
đúng là những lời trách cứ nặng nhưng không quá đáng về Tôn Thất Thuyết.
Với thượng
thư Nguyễn Văn Tường, ông quá hiểu tính cách Tôn Thất Thuyết và có thể
thống kê các biểu hiện, nhận định về Tôn Thất Thuyết qua nhiều năm tháng,
của nhiều người cùng thời đáng tin cậy (nhất là những bản dụ của vua Tự
Đức, một người vốn ưu ái Tôn Thất Thuyết, chứ không phải những lời gièm về
Tôn Thất Thuyết của kẻ xấu, kẻ thù (223)). Một vị tướng tài năng, nghiêm
khắc, không một phút nguôi quên ḷng căm thù giặc Pháp xâm lược, nhưng lại
có tật nói càn (nói bừa do nóng tính, chứ không v́ ác ư thâm độc), đó là
hiệp đốc Tôn Thất Thuyết. Thượng thư Nguyễn Văn Tường chỉ buồn cho tật nói
càn nông nổi, hồ đồ ấy của vị tướng thuộc tôn thất này.
Tên khâm sứ
thực dân Rheinart vừa vu khống cả Viện – Bạc, hồi tháng tư, năm Tự Đức thứ
ba mươi ba (1880), y đâu phải không chính là kẻ khởi xướng chiến dịch bôi
nhọ để triệt hạ đang tiếp tục xảy ra!
Trong cuộc
chiến ngoại giao, ngoại thương không tiếng súng đang diễn ra trong ḷng
Đất nước và từ ngoài biên giới ở giai đoạn gần đây, thượng thư Bộ Hộ
Nguyễn Văn Tường tự nhủ cần phải b́nh tĩnh. Tiền sềnh! Tiền giả! Tiền sềnh!
Tiền giả! Quốc nạn “tiền sềnh!
tiền giả!”,
thực trạng vẫn c̣n đó, nhà vua, đ́nh thần, các quan tỉnh vẫn c̣n đó, các
sắc dụ, tập tâu, bản sớ vẫn c̣n đó, để Tôn Thất Thuyết t́m hiểu, điều tra.
Quốc nạn
tiền sềnh (tiền giả) với riêng thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường c̣n là
một nỗi đau, ấy là nỗi đau khi thấy Tôn Thất Thuyết bị rơi vào quỷ kế xúc
xiểm để li gián của giặc Pháp, giặc khách thương người nước Thanh và giặc
miệng, mà chính ông là người bị chúng quyết tâm “bắn hạ” một phần qua bàn
tay Tôn Thất Thuyết. Xét cho cùng, cả thượng thư Nguyễn Văn Tường lẫn hiệp
đốc Tôn Thất Thuyết đều bị triệt hạ. Nguyễn Văn Tường bị mất uy tín bởi
Tôn Thất Thuyết mắc mưu giặc, Tôn Thất Thuyết mất uy tín v́ bị kết luận là
“ít học, không thông, lại có
tật nóng nẩy, nói càn, sao đáng kể”.
Và nhân dân Huế
cũng không lẽ không đau xót khi vua Tự Đức nhận định:
“Lời đồn ở kinh đô cũng không có căn
cứ”, là
lời gièm!
T́nh trạng
tiền sềnh (tiền dị dạng) là một nỗi đau lớn. Hiểu vậy, nên thượng thư
Nguyễn Văn Tường rất thấm thía nỗi đau và càng căm hận những kẻ thù: số
khách thương người Thanh gian xảo, giặc Pháp và bọn giặc miệng.
Bọn giặc miệng
là ai vậy? Giáo dân “tả đạo” tại kinh đô Huế!
Dẫu sao, vẫn
phải tiếp tục công việc.
“Vua cho là chi tiêu cho quân thứ các
tỉnh biên giới phía bắc, dùng bạc khá nhiều; nếu chỉ trích [ra để chi tiêu]
bằng bạc đồng, cũng khó kế tiếp, sai Bộ Hộ dự tính. Quan Bộ Hộ tâu xin: “Ở
trung châu từ Thanh Hoá trở ra Bắc, đều thu gấp tiền thuế mùa đông năm
nay, lượng để đủ chi, c̣n th́ phái mua bạc đĩnh, bạc lạng, bạc đồng [(bạc
được đúc thành từng đĩnh, từng lạng, từng đồng) để] cất vào kho, và thông
sức cho người lănh trưng […] vào cửa quan: Người nào trưng, trước nộp bằng
tiền, và [cả] tiền thuế các tỉnh hạt mùa đông này phải nộp [cũng vậy], đều
được mua bạc nộp thay thế, để pḥng trích cấp chi phí việc quan và tải về
kinh phụng nộp”. Vua nghe theo”
(224).
Khuyến khích
nộp thuế theo ḱ hạn và thuế lănh trưng bằng các dạng tiền tệ vốn đúc từ
kim loại bạc là một cách đối phó với nạn tiền sềnh đă trở thành quốc nạn.
Tiền giả!
Tiền sềnh! Tiền giả! Tiền sềnh!
Sự thể đau
ḷng, nhức óc đó vẫn c̣n là một quốc nạn khó bề dập tắt, măi cho đến những
năm sau, lúc Tôn Thất Thuyết đă là phụ chính đại thần, ông cũng đành bó
tay (225)! Đó là lúc Tôn Thất Thuyết đă hiểu Nguyễn Văn Tường, theo nhận
định của chính Tôn Thất Thuyết, là
“bậc nho tướng, đại trí”,
đă đồng tâm nhất trí với Nguyễn Văn Tường trong kế hoạch và mục tiêu chủ
chiến, đánh đi đôi với đàm. Tuy nhiên, đến lúc ấy, Tôn Thất Thuyết cũng
như Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, đều đành bó tay trước nạn tiền sềnh,
sau nhiều biện pháp cực mạnh (226)!
Đất nước ta
đă bị tấn công bằng vũ khí tiền tệ, bằng sự phá rối tiền tệ của giặc ngoại
xâm! Mặt trận tài chính thật không đơn giản. Đồng tiền có ma lực của nó,
cũng như “chất độc tả đạo”,
đă tạo nên
một lực lượng nội phản ngay chính trong nhân dân và quan lại. Nhưng khác
nhau về chất! “Tả đạo” vốn có ư thức chính trị xuẩn động, “tiền sềnh” chỉ
do ḷng hám lợi, mê muội, vô h́nh trung tiếp tay cho kẻ thù, gây rối loạn
tiền tệ, thị trường thương mại, đời sống xă hội.
17
Thương ước Giáp
tuất là một cưỡng ước. Trong thế chẳng đặng đừng, khi thực dân Pháp cố
t́nh gây biến ở Hà Nội và các tỉnh khác thuộc châu thổ sông Hồng, triều
đ́nh buộc ḷng phải kí kết “hoà” ước và sau đó là thương ước với Pháp. Sự
thể đă như vậy, phải làm thế nào để đừng bị Pháp lấn lướt, áp chế? Không
cách nào khác là phải cố vượt lên thách thức. Các quan ở các sở thương
chính mới được thành lập phải tập dượt trong việc phối hợp với Pháp để mở
cửa biển đón các tàu thuyền Âu Mỹ và cả khách buôn quen thuộc từ nước
Thanh. Thương ước giữa nước ta với Tây Ban Nha cũng là một bước phải giành
thế chủ động trong thế bị động. Tuy nhiên, thương ước với Tây Ban Nha vẫn
bị thực dân Pháp cạnh tranh để chúng có thể giành vai tṛ độc quyền.
Thượng thư
Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường vừa làm việc ở bộ, nhưng cũng đồng thời là Thương
bạc đại thần và đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc. Đây là ba công tác có
thể giúp ông phối hợp ăn khớp để trở thành hầu như là một nguyên soái trên
mặt trận ngoại thương, ngoại giao. Vị tướng trên trận địa thương chính ở
Bắc Ḱ, nơi trở thành trung tâm điểm của cuộc chiến ấy, là Phạm Phú Thứ.
Nguyễn Văn Tường bao quát toàn mặt trận, kể cả cửa biển Thi Nại (B́nh Định),
Đà Nẵng, và phối hợp đồng bộ với công tác ngoại giao ở Nha Thương bạc (tương
đương với Bộ Ngoại giao của các nước). Tổng đốc Hải Dương – Quảng Yên kiêm
tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ lănh đạo trực tiếp chiến trường thương
chính ở Bắc Ḱ. Cả hai vị quan này phải thường xuyên tâu báo lên vua và
truyền đạt cho nhau những sắc dụ. Viện – Bạc, Trần Tiễn Thành và Nguyễn
Văn Tường cùng các đại thần khác (Nguyễn Tư Giản, Lê Bá Thận, Trần B́nh,
Hoàng Trọng Tuyển, Nguyễn Tăng Doăn, Phạm Thận Duật, Nguyễn Chính [Chánh],
thay thế nhau) là cơ quan tư vấn cho nhà vua các quyết định cụ thể và các
quyết sách lớn.
Cơ chế lănh
đạo, điều hành bấy giờ là: nhà vua tập trung hết quyền lực vào tay, nhưng
với sự tư vấn, đ́nh nghị thường là có tính quyết định của các đại thần tại
triều và sự chỉ đạo trực tiếp ở Bắc Ḱ của Phạm Phú Thứ, cùng chức năng
đều kiêm quản việc thương chính của các viên quan tỉnh (227) như tổng đốc
Hà – Ninh Trần Đ́nh Túc, tuần vũ Hà Nội Trần Hy Tăng (mấy năm sau là
Nguyễn Hữu Độ) (227)… Trong cơ chế ấy, ở thời đoạn này, tất cả, từ vua đến
quan, đều phải vượt lên thách thức trong thế chẳng đặng đừng phải thực thi
việc triển khai thương ước đó.
Thượng thư
Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường xác định cho ḿnh rằng, thời thế vốn dĩ phải mở cửa
khẩu ở miền biển để thông thương với năm châu bốn bể lẽ ra là phải từ lâu,
dăm bảy chục năm trước (thời tiên đế Gia Long, Minh Mạng). Bấy giờ, hẳn
chủ động hơn. Nhưng trước đó vài thập niên, trong nước lại nội chiến (Tây
Sơn…) như một tất yếu lịch sử để thống nhất hai miền, Đàng Trong – Đàng
Ngoài. Đến lúc này, mở các cửa biển là đă muộn, lại thất thế v́ chiến bại,
nội lực suy yếu nghiêm trọng, trong khi đó lực lượng ngoại xâm đă mạnh lại
liên minh, cấu kết với nhau. Thật hoàn toàn thất thế, bất lợi.
C̣n thực
chất nội lực nước ta? Sức ́ kinh niên của ta vốn do nền văn minh lúa nước
quy định, rơ là khác với tính luân lưu xuôi ngược chân trời góc bể của dân
Âu Mỹ (Pháp, Đức, Nga, Mỹ…), vốn thuộc văn hoá du mục, và dân hải đảo (như
Anh…), vốn mạnh về tàu thuyền hàng hải. Sức ́ đó c̣n do chính sách “trọng
nông ức thương”, coi khinh con buôn các loại. Thậm chí lấy chính sách
“trọng nông ức thương”, chẳng khác ǵ giam giữ nhân dân trên mảnh ruộng
quê, để làm biện pháp để bảo vệ an ninh Đất nước!
Sức ́ kinh
niên, bị bó buộc rồi tự bó buộc chân người một chỗ với cánh đồng, luỹ tre
làng, ít đi đây đi đó, đến thời đoạn hiện nay, lại cộng với tâm lí co lại
kiểu con nhím, tâm lí rúc đầu xuống cát của con đà điểu trước sự tấn công
của giặc Pháp trên mọi lĩnh vực, quả thật, đó là lực cản nội tại, nên rất
khó vượt được thử thách này, mặc dù đă có nhiều nỗ lực trên mặt trận ngoại
thương. Và do đó, với tâm lí tự vệ và chỉ đủ sức để tính chuyện tự vệ, nên
hầu như chỉ chú trọng vào việc ngăn chận sự bóc lột quá đáng của “kẻ mạnh”
trong thương chính (thuế đoan hải quan).
Về thương
chính, một loạt các cuộc bàn luận và các bản định lệ, điều chỉnh, bổ cứu
định lệ trong công tác biên thu thuế hải quan được ban hành để ngày càng
sát hợp với t́nh h́nh thực tế.
Về ngoại
thương, quả là thực trạng sức ́ đúng như thế. Tuy vậy, dẫu sao, vẫn có sự
ra sức vượt thắng thực trạng. Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường vừa vui
mừng vừa lo âu khi cùng Viện – Bạc và đ́nh thần hội bàn về việc khuyến
khích thương nhân nước ta ra buôn bán ở nước ngoài. Trước hết, phải thảo
luận để bỏ lệ cấm dân ḿnh về lĩnh vực ngoại thương, xuất nhập cảng ấy.
“Bỏ lệ
cấm xuống biển đi buôn.
Khi ấy,
đ́nh thần theo nghị cho là khoảng năm Gia Long, Minh Mệnh xuống biển đi
buôn có điều cấm (thuyền và hàng sung công, kẻ buôn gian [bị] phạt một
trăm [100] trượng, lưu ba ngàn [3.000] dặm). V́ buổi đầu đặt ra pháp luật
sợ là có kẻ buôn gian vượt biển, hoặc nhân đấy mà tiết lộ sự cơ. Pḥng sự
bất ngờ cố nhiên càng phải cẩn thận. Duy thời thế mỗi khác, cũng nên thông
biến.
Hiện
nay, việc buôn mở mang thi hành, chính là lúc trăm mối lợi phải thịnh.
Huống chi núi rừng nước ta sản xuất nhiều của quư lạ (như loại: tơ, bông,
vải, lụa, ḱ nam, quế, đồng, sắt, gỗ lim và nâu) cũng là vật ở các nước
tất phải mua. Từ trước đến nay, dân ta chỉ buôn bán trong nước, lợi
thu về có hạn, mà thuyền buôn nước Thanh, nước Tây vào cửa biển nước ta
thu mua hàng hoá bán cho nước ngoài, được rất nhiều lợi. Thế là đồ vật của
cải sinh ra ở nước ta, bị chúng cướp lấy lợi. Dân ta [bị] bó buộc về pháp
luật ngăn cấm, lại không được nắm lấy lợi quyền, của cải càng quẫn thiếu.
Nay xin chuẩn cho tha cấm đi buôn để mở đường lợi, cũng là một việc làm
lợi cho dân. Từ sau, xin cho dân tuỳ theo vốn liếng, hoặc góp vốn lănh thẻ
bài thuyền đến nước ngoài đi buôn. Các thuyền buôn ấy bắt đầu chở hàng từ
tỉnh nào, do tỉnh ấy cho giấy, rồi chiểu giá hàng hoá thu thuế trăm phần
lấy năm phần (5%). Nếu có chở vật cấm ra biển đi buôn (như quân khí, súng
đạn và các người đàn bà, con gái nước ta) và trốn thuế, sinh sự th́ chiểu
theo nghị định Minh Mệnh năm thứ chín (IX) xử tội.
Vua nghe
theo”
(228).
Đó là bản
tấu đ́nh nghị từ tháng ba, năm Tự Đức thứ hai mươi chín (1876).
Sau hai năm
rưỡi triển khai, sức ́ kinh niên vẫn chưa thể khắc phục nổi trong t́nh
h́nh ngoại xâm và nội t́nh với binh lực như thế. Một hôm, vào tháng mười,
năm Tự Đức thứ ba mươi mốt (1878), vua Tự Đức xem nhật báo Hương Cảng tân
văn. Trong số báo ấy, có bài bàn về những việc cốt yếu để làm cho dân giàu
nước mạnh, đặc biệt là mở rộng
thông thương và chống “kẻ dám khinh”
bằng cách:
-
Đóng
tàu (thuỷ, hoả)
-
Học
tiếng nước ngoài
-
Đúc súng
đạn
-
Luyện
tập quân đội
Vua Tự Đức
muốn thi hành, bèn sai quan Viện Cơ mật xét nghĩ. Viện Cơ mật lúc này chỉ
c̣n ba đại thần: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doăn.
Bản tấu
tŕnh dâng lên:
““Thông thương là việc rất cần kíp, duy chỉ nước khác làm th́ dễ mà ta làm th́
khó, v́ các dân châu Âu phần nhiều theo nghề buôn, lại khéo đi biển. Những
nơi biển rộng đảo xa, không chỗ nào là không đi đến. Đi đến đâu, [họ] lấy
mới lạ làm thân thiết, cho nên kéo cả bọn đến được. Nước ta từ trước cấm
ra nước ngoài, dân không đi buôn xa, trong nước không có bọn buôn, mà muốn
dắt người buôn nước ngoài đến, thế chưa thể vội được. Huống chi tục pháp
cả Phương Tây đều cấm quan buôn, ta nếu đặt cửa hàng ở Hương Cảng, không
những người được phái đi thực, sinh ra nhiều chi tiết, mà các nước nghe
thấy, lại sợ là có liên quan đến sự thể.
Nhưng
nay cửa ngơ đă mở ra, họ đến mà ḿnh không đi, th́ t́nh tục không thông,
các việc thường khó nghĩ định. Xin do các địa phương đều thông sức cho
trong hạt, không cứ người nước Thanh hay người Kinh, người nào có vật lực,
t́nh nguyện đóng tàu đi đến Hương Cảng lập công ti để buôn bán th́ đều cho
tŕnh quan chuẩn cho. Có người buôn nước ta ở đấy, th́ thuyền công của ta
có thể mượn cớ đến đóng mà lấy việc đóng tàu, đúc súng, học tiếng, luyện
tập quân đều là việc cốt yếu.
Duy mưu
tính trước th́ khó, mà đổi mới phong tục tất phải dần dần. Nước ta được
yên [:tĩnh, không đi đây chuyển đó] lâu ngày, người muốn tạm yên, ḷng mở
mang th́ ít, ư trốn tránh th́ nhiều. Nay thay đổi hết, thực khó như ư, tức
như chọn người phái sung làm việc ở thuyền, không nói là thuyền hỏng, th́
nói là máy liệt, để cầu [mong] đỗ [bến] lâu; tài liệu trong thuyền không
chịu sửa sang, muốn cho chóng hỏng, [để] may được dời đi chỗ khác; súng
đạn tặng giao cho, không có thời thường luyện tập, liền sửa sang lại sợ
cũng sẽ bị rỉ hỏng; súng điểu thương mở đằng bụng chia giao cho các tỉnh,
cũng muốn trả về. T́nh h́nh ấy đă thấy có.
C̣n học
chữ và tiếng nói [nước ngoài], ta đă thi hành, vẫn chưa thấy có công hiệu,
hay là cũng do sự kén chọn khinh thường mà học th́ ít. Xin thông sức cho
các địa phương hết ḷng hiểu dụ để mộ lấy người, không cứ là cử nhân, tú
tài, học sinh, khoá sinh và con em các quan viên, trên dưới hai mươi (20)
tuổi, người nào thông nghĩa sách, biết chữ mà t́nh nguyện đi sang Tây, cấp
cho tiền lệ phí, nhưng hạn cho năm (05) năm, [khi] về, sát hạch. Nếu thành
tài th́ chiểu lệ cử tú bổ làm quan [mà] bổ dụng (nếu học được chữ, tiếng
một nước và một nghề như đóng tàu, đúc súng, các đồ binh khí, khai mỏ,
luyện tập quân, th́ chiểu lệ tú tài hạch trúng bổ cửu phẩm; học được chữ,
tiếng hai nước và hai nghề, chiểu lệ cử nhân không phân số; học được chữ,
tiếng ba nước và ba nghề, chiểu lệ cử nhân có phân số, bổ làm quan ngay).
Nhưng đều cho làm quan theo nghề của ḿnh, để cho được thạo việc. Sau có
cố gắng làm được việc, th́ thăng lên cũng giống như lệ các nha nhiều việc,
ít việc, ngơ hầu hoặc có nhiều người muốn đi học mà có thể đủ dùng được.
Lại các khoản ấy xin hăy hoăn lại, đợi ḱ sang cống nước Thanh, nên làm
thế nào, sẽ tâu lên, tiệân cho sứ thần tuỳ cơ liệu làm”.
Vua cho
là phải, nhưng chuẩn cho việc học chữ và tiếng [nước ngoài] th́ lục sức
thi hành ngay” (229).
Ngoài các
khó khăn, trở lực, lại c̣n một trở lực, khó khăn khác: lệ thuộc nước Tàu
nhà Thanh!
Thật ra, đó
là với những người trẻ tuổi, c̣n với các quan tại chức, từ tháng hai năm
thứ ba mươi mốt (1878), triều đ́nh đă cấp tiền hàng tháng cho Nha Thương
chính học chữ Tây (230). Tháng tư, năm ấy, vua chính thức chuẩn y việc mở
trường học chữ Tây cho Nha Thương chính Hải Dương (231).
Sau bản tấu
trên của Viện Cơ mật, đến tháng sáu, năm thứ ba mươi hai (1879), lại có
cuộc xét người đi học chữ Tây, công nghệ Tây (232).
Về công
nghệ, tháng tám nguyệt lịch năm thứ ba mươi (1877), Nguyễn Thành Ư với
công tác đem các đồ thủ công mĩ nghệ danh tiếng của nước ta sang Pháp đấu
xảo (tham dự hội chợ thi đua kĩ nghệ) (233). Đó là một dịp tận mắt nh́n và
học thêm kĩ nghệ, nhất là kĩ nghệ cơ khí nước người. Nguyễn Thành Ư đă
cùng sứ bộ sang Pháp, Tây Ban Nha (233). Đến tháng giêng năm ba mươi hai
(1879), Nguyễn Thành Ư lại đưa người sang học tập công nghệ Tây dương ở
cửa biển Thu Long (234). Lần này, lại biểu lộ ra một nhược điểm sĩ diện
hăo của người Việt ḿnh và của Viện Cơ mật – Thương bạc: quan dẫn người đi
học tập công nghệ, sợ mất quan cách (bởi Pháp và những viên lănh sự các
nước đă biết mặt Nguyễn Thành Ư với tư cách một lănh sự khâm phái, nay lại
ông ấy lại phải bạn bè với học tṛ đi học kĩ thuật cơ khí, sợ mất tư cách
quan chức, thể diện)! Vua trách: Người Tây “hết quan hoàn dân”, cũng buôn
bán, làm nghề khác, và đến thánh nhân như Lăo, Khổng cũng làm nhân viên
cấp thấp, có ǵ nhục đâu! Huống nữa, việc nào cũng là việc công! Tháng tư
(1879), khi ra dụ khuyến khích tiến cử hiền tài, định phép thi, vua Tự Đức
đặc biệt nhấn mạnh sự lưu ư việc tiến cử, tuyển chọn phải nhắm đến những
người am hiểu t́nh h́nh quốc tế và công kĩ nghệ (235).
Riêng đối
với thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường, ông cùng các quan trong bộ đă tấu
tŕnh lên vua phương pháp nhiếp ảnh, lại xin chuẩn cho xây dựng hiệu nhiếp
ảnh cạnh Nha Thương bạc (236). Trương Văn Sán (236), vừa học ở bên Tây về,
là người đầu tiên trên đất kinh đô mở hiệu nhiếp ảnh. Ông nghĩ rằng dẫu
sao đó cũng là một ngành nghề kĩ thuật dân dụng mới cần được phát triển.
Sự canh tân
trong thực tế là quá nhỏ so với nhu cầu của Đất nước và yêu cầu đặt ra.
Trong thực
tế vẫn c̣n rất nhiều trở lực ngay từ chính người Pháp, thậm chí chúng c̣n
cản trở triều đ́nh trong việc cử người đi học công nghệ cơ khí mới và học
ngoại ngữ. Thực sự, dă tâm của chúng là vẫn luôn cố sức bao vây, cấm vận
ta. Chúng muốn độc quyền trên mọi lĩnh vực.
Thượng thư
Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường đành tạm quay vào với những ǵ chỉ cần đến khả năng
nội lực và sự quyết tâm của vua quan, sĩ dân trong nước để thúc đẩy sự
canh tân. Ông phụ trách Bộ Hộ, vừa phải lo việc thương chính, vừa quản lí
cả việc tào chính. Tào chính là công tác vận tải. Ở nước ta, bờ biển dài
suốt chiều dài Đất nước, rất thuận lợi cho tàu thuyền đường biển. Nhưng
khốn nỗi, trong ba chục năm qua, nạn hải tặc tăng lên đến mức khủng khiếp.
Bọn sống bằng nghề đánh cướp trên biển chủ yếu là người Hoa, vũ khí trang
bị cũng ngang bằng hoặc hơn cả quân binh triều đ́nh. Thượng thư Nguyễn Văn
Tường thấy cần phải khoi đào một vài đoạn sông để từ Quảng Trị ra Bắc Ḱ,
Đất nước ta sẽ có một đường sông xuyên Việt. Đường sông xuyên Việt sẽ rất
thuận lợi cho việc chuyên chở của Nha Tào chính và của nhân dân, nhất là
tiện lợi cho nhu cầu đi lại bằng thuyền nhỏ, lại tránh được nạn cướp biển
rất khó thanh toán gọn, tiêu diệt sạch. Đó là chưa kể ghe thuyền, tàu hơi
nước và tàu buồm bị đắm bởi gió băo. Mục tổng kết mỗi cuối năm của Bộ Hộ
về tai nạn đường biển là rất lớn, rất đỗi đau ḷng! Với kế hoạch mở đường
sông xuyên Việt ấy, thượng thư Nguyễn Văn Tường viết bản sớ tâu lên vua Tự
Đức:
“Việc vận tải là việc lớn, dư dật hay thiếu thốn quan hệ ở đó. Những thứ ăn mặc
và đồ dùng ở kinh sư, phần nhiều sản xuất ở Nam Ḱ, Bắc Ḱ. Hàng năm vận
tải, nhân giặc [biển], nhân gió [băo], tổn hại ở đường biển không biết bao
nhiêu. Hiện nay, vời thuê thuyền nước Thanh, h́nh như là kế trước mắt, mà
không phải là cách lâu dài.
Thế núi
ở nước ta từ tây bắc kéo đến. Nước theo núi mà chảy về phương nam làm
[nên] sông Cửu Long th́ đă về sau dăy núi [Trường Sơn], c̣n như phía trước
núi [Trường Sơn] th́ đoạn ấy, đoạn khác, [sông] đều đổ ra biển mà chắn
ngang. Đường nước [:đường thuỷ] chưa thông, việc buôn bán, vận tải không
ổn. Đó là tạo hoá đợi người để làm. Người trước đă kinh lí nhiều, mà chưa
thành công là v́ làm nên lợi ngh́n muôn năm, không phải một người, một đời
mà làm được. Nay đường biển chưa yên ổn th́ việc đào sông so với trước
càng khẩn thiết lắm. Xét ra, từ tỉnh Quảng Nam trở vào nam đến tỉnh B́nh
Thuận, thế núi mạnh và cao, mà nước nguồn th́ chảy chậm, làm việc [khoi
đào] rất khó. Xin hăy để đó rồi tính sau. Duy có từ tỉnh Quảng Trị trở ra
bắc, gián hoặc có chỗ đường nước không thông:
-
Một đoạn từ sông Minh Lương
(thuộc tỉnh Quảng Trị) đến sông Nhật Lệ (thuộc tỉnh Quảng B́nh) là [nơi
đặt] trạm Hồ Xá, trong đó có núi bằng ngang qua, đi đường bộ phải suốt
ngày đường. [Đoạn này] trước có sông cũ, nay bị cát lấp.
-
Một đoạn từ bến sông Nhật Lệ
đến sông Linh Giang (cũng thuộc Quảng B́nh), đi đường bộ gần một ngày.
Nguyên không có sông cũ. Trong đó có một dải núi thẳng đến biển. [Nếu] tuỳ
thế [núi], làm việc [khoi đào], lâu cũng có thể khoi thông được.
-
Một đoạn từ
thượng lưu sông Linh Giang [sông Gianh], chỗ chia ḍng sông [ở] xă Minh
Cầm: một đằng giáp với sông mới đào (từ đấy trở ra bắc, thuyền bè đều đi
thông được) [ở] huyện Kỳ Anh thuộc Hà Tĩnh, đi đường bộ phỏng ba ngày
đường; một đằng giáp giáp với đầu nguồn sông Lam Giang (thuộc Nghệ An),
đường đi phỏng hai ngày rưỡi. { { Xin lưu ư: Chỗ chia ḍng sông [ở] xă
Minh Cầm [như đă nói], một đằng giáp với sông mới đào; từ đấy trở ra bắc,
thuyền bè đều đi thông được } }.
Tính suốt cả
ba đoạn, ước trên dưới ba, bốn ngày đường. Trong
đó, [đoạn] từ sông Linh Giang suốt đến hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An, đoạn
ấy có núi non ghềnh đá, tất phải khó nhọc, phí tổn nhiều. Kể th́ mưu việc
lớn, không kể phí tổn nhỏ; làm việc lâu dài, không vội chóng xong. Người
nước Tây đào sông Đại Lăng, người nước Thanh đào sông Linh Cừ, việc khó
khăn, phí tổn gấp đôi, mà đều chỉ lấy kiên nhẫn mà làm được. Như biển
Thiết Cảng [Cửa Sắt] ở nước ta, từ xưa cũng cho là khó, mà nay khai thông
được, th́ ở nơi khác hết sức mà mưu tính, tưởng cũng có thể được thành
công. Nếu muốn chứa vào kho được dư dụ, đề pḥng trước khi có việc, không
khoi sông th́ không có kế ǵ khác.
Xin phái
người thổ trước [:người địa phương lâu đời] hội đồng với quan tỉnh khám
xét để thi hành” (237).
Việc mở đường
sông xuyên Việt ấy đă tâu lên vua. Vua bảo trước kia Hoàng Tá Viêm cũng
muốn thế. Đó chính là lúc bang biện khâm phái Nguyễn Văn Tường đang ở
huyện Thành Hoá, ông đă tâu xin, được chuẩn y, đang phối hợp với quan
tỉnh Nghệ – Tĩnh Hoàng Tá Viêm tiến hành mở đường Trường Sơn (thượng đạo
xuyên Việt), nối Tây Sơn (B́nh Định) với Nghệ An. Lần này, ư tưởng về
đường thuỷ xuyên Việt, vua lại cho hữu tham tri Bộ H́nh Phan Sĩ Thục, viên
ngoại lang Bộ Hộ Lê Đĩnh đi khảo sát thực địa theo bản sớ Nguyễn Văn Tường
ở ba đoạn khó đào. Sau đó, phải đ́nh lại, v́ đoàn du khảo của triều đ́nh
kết luận: “Có nhiều chỗ không
thể làm được”
(237).
Đó là một kế
hoạch cũng có thể gọi là canh tân, cho dù đào sông không phải là việc mới
mẻ, để khắc phục những trở ngại cho việc vận tải và đi lại bằng đường
sông. Thử tưởng tượng nước ta có một đường thuỷ xuyên Việt thật tiện lợi
và đẹp như thế! Nhưng cũng đành rất tiếc phải gác lại. Quả là “lực bất
ṭng tâm” (sức không theo kịp ḷng mong muốn)!
Trong khi
đó, tham vọng xâm lược, cướp bóc của Pháp ngày càng lộ rơ.
“Hoà” ước,
thương ước Giáp tuất là một bước lùi của Pháp để chúng thăm ḍ, điều tra,
đo lường địa h́nh, địa vật, tài nguyên và văn hoá, nhất là nhân dân Bắc
Ḱ, dưới lớp vỏ thương mại, khai khoáng và “du khảo bác vật”.
Pháp tự đẩy
mạnh việc thám xét các mỏ khoáng sản. Có mỏ chúng phải đành cùng với ta
khai thác, như mỏ than chẳng hạn. Ngoài ra, Pháp c̣n muốn ta xuất cảng gỗ
lim, tơ sống và gạo. Nhất là gạo, bất chấp nạn đói của nhân dân nước ta,
Pháp luôn yêu sách ta phải xuất cảng nhu yếu phẩm này. Văn thư yêu sách ấy
gửi đến Nha Thương bạc ở Huế và ngay Nha Thương chính ở Hải Dương, Hà Nội,
có thể nói là liên tục. Trong khi đó, tháng hai năm Canh th́n (1880), nạn
đói ở Bắc Ḱ xảy ra trầm trọng (238). Bảy huyện thượng du Hải Dương đói,
Hà Nội đói, Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh, Hưng Yên… có nhiều người chết đói
(238). Nghệ An cũng bị rơi vào nạn đói (238). Và gạo rất cần để chẩn cấp
cho kinh đô Huế, Quảng Trị. Quảng Trị sau mười mấy năm, đổi từ tỉnh thành
đạo (một đơn vị hành chính nhỏ hơn tỉnh), thuộc phủ Thừa Thiên, mới trở
lại là một tỉnh từ cuối năm hai mươi tám (1875). Vào đầu năm ba mươi
(1877), Quảng Trị cùng Thừa Thiên chịu cảnh đói kém bởi thiên tai. Riêng
Cam Lộ, thổ dân rất gieo neo, Sơn pḥng sứ Phan Khắc Kiệm phải tâu xin
chẩn cấp, và thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường không thể không lo toan cho
vùng đất “sinh điểm”, “tử điểm” của kinh đô, như thể quê nhà ấy. Quảng
Trị, một tỉnh hiện vẫn cần chẩn cấp, v́ nạn đói đang diễn ra, trong lúc
mới vừa thoát ra khỏi nạn dịch bệnh kéo dài trong hai năm qua, từ năm Tự
Đức thứ hai mươi chín đến ba mươi (1876 – 1877). Hai năm ấy, riêng phủ
Triệu Phong (nhất là hai huyện Hải Lăng, Minh Chính), có tới bốn ngàn hai
trăm ba mươi sáu (4.236) người bị thiệt mạng! Nạn đói c̣n xảy ra ở B́nh
Định, Phú Yên nữa, cấp bách đến mức vua Tự Đức trách dỗi các quan Bộ Hộ v́
chưa kịp chẩn cứu! (239).
Tất nhiên
Nha Thương bạc, Nha Thương chính từ chối mạnh mẽ, cứng rắn, nhưng cũng có
khi phải nhân nhượng một vài tháng hoặc dùng biện pháp nâng cao giá gạo để
ngăn cản bớt sự xuất cảng loại hàng hoá nhu yếu đó.
Ngay từ đầu,
tướng Pháp tại Gia Định gửi văn thư cho rằng Phạm Phú Thứ
“không có ḷng tốt”.
Hoá ra, không phải là “sự giao
hảo” trong
ngoại giao, mà một trong những cái khiến chúng cho là thế, chính là gạo.
Nhưng rồi đến tháng sáu năm Tự Đức thứ ba mươi mốt (1878), Phạm Phú Thứ
lại phải tâu xin cho xuất khẩu gạo trong một tháng. Đ́nh thần, Viện – Bạc
và cả nhà vua đều không thể cho (240).
Tháng tư,
năm Tự Đức thứ ba mươi hai (1879), Bộ Hộ xin định lại điều lệ cấm xuất
khẩu gạo ở Bắc Ḱ (241). Khi sắc dụ ban ra, người ta đọc thấy một điều
đáng buồn là chính người buôn tham lợi và quan tỉnh dung túng (241)! Sự
dung túng ấy hẳn do tham ô, hối lộ! Dẫu sao, bản dụ vẫn khẳng định nhất
quyết cấm như lệ định. Cũng ngay trong tháng đó, tổng đốc Hải – Yên kiêm
tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ liền mật tâu về việc người buôn Tây
dương, khách thương nước Thanh, và cả bọn Hán gian (Hoa kiều) mưu toan gây
biến ở Bắc Ḱ một lần nữa!
Pháp chuẩn
bị gây biến ở Bắc Ḱ một lần nữa?
Ngồi ở Viện
Cơ mật – Thương bạc, thượng thư Nguyễn Văn Tường đọc đi đọc lại bản tấu
của tổng lí Thương chính Phạm Phú Thứ. Từ rất lâu, không ai không biết
ḷng tham không đáy của Pháp! Ông không ngạc nhiên nhưng sao vẫn cảm thấy
có ǵ hơi bất chợt và không thể không phẫn nộ.
“Tham
biện Sở Thương chính là [linh mục] Nguyễn [Hữu] Cư tŕnh bày: “Người buôn
trước đây là Mô Răng Đi Ni (?) báo rằng: “Người buôn nước Tây và nước
Thanh cho là nước ta cấm buôn nghiêm mật, [chúng] không được thung dung tự
tiện, đều đem ḷng oán giận. Có người nước [Đại Nam] này tự xưng là con
cháu nhà Lê, nay hiện chiêu dụ người các tỉnh ở Bắc Ḱ, pḥ hắn làm minh
chủ, ngầm hẹn với các nhà buôn, nếu giúp được nên việc, đều cho thung dung
buôn bán. Các người buôn có nhiều hưởng ứng, đă góp lại hơn mười vạn
(100.000) đồng bạc, ngầm về Hương Cảng đặt mua các cỗ súng, hẹn trong ba
tháng th́ khởi sự. [Chúng] từng dụ hắn vào bọn”, các lời như thế”. Tỉnh ấy
đă hỏi ở dân gian, [th́] cũng có truyền ngôn ấy. [Thần] bàn với lănh sự
nước Tây, xét ư hắn, cũng lấy việc cấm [xuất cảng] gạo [mà] rất mang ḷng
bất b́nh. Xin châm chước bỏ việc cấm gạo độ hai, ba tháng, để yên ḷng
người phương xa [Tây dương, Hoa] mà hết [kẻ] thù hằn bên ngoài” (242).
Vua Tự Đức
vẫn cứ níu vào ảo tưởng, không chịu tin đó là sự thật! Nhà vua cầm bút
châu phê:
“Tỉnh ấy
từ trước đến nay, phần nhiều để hột gạo lọt ra ngoài. Nếu nay lệnh cấm gạo
ban xuống, người buôn gian giảo mưu lợi, xướng lên lời nói không có căn
cứ. [Như thế là] toàn do [tỉnh ấy] ngày thường làm việc không khéo, che
giấu, dung túng, một khi sợ tội lại nói thác ra, để trút trách nhiệm…”
(242).
Khâm phái
ngự sử Dương Quán bỗng tâu vào kinh:
“Hạt ấy
có nhiều người buôn nước Thanh chở trộm gạo, giám đốc hải pḥng Lương Văn
Tiến (anh em ngoại của Phạm Phú Thứ) nhiều lần cậy thế tải gạo ra nước
ngoài” (242).
Vua liền cử
Lê Điều đổi sung làm khâm sai điều tra sự việc. Trần Văn Úc lại được cử
thêm, đi theo phụ tá.
Phạm Phú Thứ
vẫn thông tư vào cho Viện Cơ mật:
“Lănh sự
nước Tây [:Pháp, Kergaradec] ở Hà Nội mưu tính lấy
tỉnh thành; lại phái viên
nước Tây là Công Tăng Tinh [Constantine] tập họp các người buôn, mua súng
ống khí giới muốn sinh sự ở Bắc Ḱ; lại người buôn nước Tây thường viết
thư kêu với tướng nước Pháp sớm muộn định lại thương ước” (242).
Vua Tự Đức
cho rằng Phạm Phú Thứ “vội nghe
hoang báo”, “nhân [bị] lỗi, [nên] đem nhiều khoản để doạ triều đ́nh”, và
“giả sử có việc [Pháp chuẩn bị gây biến] ấy cũng phải làm cho ổn thoả. Nếu
có hơi quá thẳng để tỏ lời ḿnh là thực, th́ phải [bị] xử tội theo luật
khích biến” (242).
Đó là bản
tâu, bản thông tư từ hồi tháng tư năm Tự Đức thứ ba mươi hai (1879). Ngay
sau đó, Viện Cơ mật – Thương bạc được chỉ dụ của vua viết thư hỏi tướng
Pháp ở Gia Định, đề nghị trị tội tên Mô Răng Đi Ni. Y không trả lời! Bốn
tháng sau, lại ḍ xem thái độ của tên tướng giặc ấy, coi thử y như thế nào
trước văn thư báo cáo của Kergaradec và tin từ nhật báo mới đây.
Kergaradec viết là nước ta cấm xuất cảng gạo, khách buôn rất oán, phải xử
trí ngay thế nào, kẻo “trở ngại”! Nhật báo nước ngoài cũng đưa tin tương
tự như thế, lại c̣n thêm một tin không đúng: chín (09) chiếc thuyền thuỷ
lôi của Pháp đến nước ta để gây chiến (243). Văn thư của Thương bạc đă gửi
đi (243).
Trước cách
xử trí t́nh huống quá mềm dẻo và như thể c̣n nuôi ảo tưởng “hoà” của vua
Tự Đức, Viện – Bạc phải tâu bày đề nghị biện pháp giải quyết:
“Tổng
đốc Hải Dương là Phạm Phú Thứ với lănh sự Pháp, t́nh không ưa nhau, đến
nỗi có lời oán trách. [Tướng Pháp] bảo rằng: “Gạo bán ra, đối với người
buôn phương Tây th́ nghiêm cấm, mà đối với người buôn nước Thanh th́ bỏ
cấm. Ở cửa Ninh Hải th́ nghiêm cấm, mà ở cửa Trà Lư th́ cho riêng”. Xin
nên chọn phái người khác để thay” (243).
Nhà vua
không chuẩn cho việc hoán chuyển, đổi Lê Điều (một người có tinh thần
chống Pháp) ra Hải – Yên và triệu Phạm Phú Thứ vào kinh. Nhưng mật dụ
quan họ Phạm phải làm “cho yên
ḷng người buôn, dập tắt lời vu vơ, không thế th́ khép vào tội khiêu khích
sinh ra biến mà xử trị” (243)!
Mặc dù Viện
– Bạc nhận định là Phạm Phú Thứ và tướng Pháp không ưa nhau, nhưng ngay
sau đó, cũng vào tháng tám năm Tự Đức thứ ba mươi hai (1879), đ́nh thần
lại căn cứ vào tập tâu khác của Phạm Phú Thứ về cách xử trí Lưu Vĩnh Phúc
của ông ta để cho rằng hầu như xử trí như vậy là có lợi cho Pháp. Buổi
đ́nh nghị không chỉ bàn về tập tâu của Phạm Phú Thứ, mà c̣n của các quan
viên khác. Ư kiến Phạm Phú Thứ trong sự đối sánh với các ư kiến của các
quan khác, đ́nh thần thấy rơ Phạm Phú Thứ lại gần gũi với tên cơ hội chủ
nghĩa, “theo gió xoay buồm”
Nguyễn Hữu
Độ!
“Khi ấy,
phái viên người Pháp cho là đoàn quân của Lưu Vĩnh Phúc đóng giữ ở Bảo
Thắng, hại cho người đi buôn, xin băi các tuần ti. Các quan tỉnh, quan ở
quân thứ Bắc Ḱ cũng tâu bàn về công việc tuần ti và [cách] xử trí với
đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc.
Tuần phủ
Hà Nội là Nguyễn Hữu Độ xin băi tuần ti mười ba (13) tỉnh, [để] chuyên do
sở thương chính thu thuế.
Tổng đốc
Hải Dương là Phạm Phú Thứ [tâu] xin: “Mỗi tỉnh đều đặt quan thu thuế, lại
nghiêm cấm đoàn quân [Lưu] Vĩnh Phúc đi tống tiền nhà giàu. [Lưu Vĩnh Phúc
nên] do quan thống đốc [Hoàng Tá Viêm] nghĩ dời [đoàn quân ấy] đến nơi
khác, cấp phí tổn cho [để] khai mỏ ở Bảo Hà, Bảo Thắng, Hà Dương; nói với
Pháp phái lính Tây đến đóng, để đường
buôn bán được nghiêm. Cửa Trà Lư ở Nam Định th́
đặt đồn lớn, phái nhiều quan quân làm việc thu thuế”.
Tuần phủ
Hưng Hoá là Nguyễn Huy Kỷ nói triệt bỏ tuần ti, th́ đoàn quân Lưu Vĩnh
Phúc không khỏi thất vọng.
Quan ở
quân thứ là Hoàng Tá Viêm tâu xin: “ Đổi bổ [Lưu] Vĩnh Phúc làm đề đốc Cao
– Lạng, [cho ông ta] dời đến đóng ở biên trấn ấy, nhưng lấy đất sở tại
Ngân Sơn thuộc tỉnh Cao Bằng cho làm đất được ăn lộc, lại cấp vốn cho sự
[sinh] sống để dành [giành? tranh thủ?] để dùng [ông ta] làm việc”.
Việc ấy
giao xuống đ́nh thần bàn, rồi nghị dâng lên:
“Đặt ra
tuần ti, [ở] phương nam, phương bắc, [đều] có cả. Điển lệ nước ta ban hành
đă lâu, không can ǵ đến hiệp ước buôn bán, họ [:Pháp] không nói thế nào
để chia lợi được, cho nên [Pháp] mượn cớ là người đi buôn ở Bảo Thắng kêu
khổ, t́m mối yêu cầu ta băi [bỏ] đi, để thoả cái ư lúc [Pháp] mới đến [là]
xin bỏ tuần ti.
Lưu Vĩnh
Phúc tuy chưa thuần thục hẳn, nhưng từ khi chịu ta vỗ về đến giờ, [ông ta]
hết sức lập công, đều v́ thân ḿnh không nghĩ ǵ về sau. Hắn đóng ở thượng
du, người khác [:Pháp] vướng mắc, ta khéo vỗ về, [th́ họ Lưu] có thể giúp
sức được một cánh tay. Hắn đương lúc tiến thoái cùng đường, chưa dám làm
bậy. Nay các tỉnh dâng sớ tâu, hoặc đem chức giữ của ḿnh mà nói thiên một
mặt (như tổng đốc Hải Dương, tuần phủ Hà Nội), hoặc khó giải quyết mà hư
ứng (như tuần phủ Hưng Hoá), hoặc theo lời của tay buôn lăo luyện mưu lợi
(như Nguyễn Hữu Độ), tưởng đều là chưa định được toàn cục. Duy có viên
thống đốc [Hoàng Tá Viêm] xin cho đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc đời đóng chỗ
khác, giành [dành?] đấy để dùng sau này. Tuy đối với khoản tuần ti nên để
hay bỏ, [Hoàng Tá Viêm] chưa có bàn nghĩ đến, nhưng về việc xử trí cho
đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc [như vậy, là] hơi có đầu mối… […] …” (244).
Mặc dù đ́nh
thần xét rơ bản chất cố hữu của Lưu Vĩnh Phúc là phỉ, nhưng qua việc xét
nghĩ các tập tâu xử trí về Lưu Vĩnh Phúc trước yêu sách thâm ác của Pháp,
đ́nh thần vẫn thấy Phạm Phú Thứ rất đáng trách phạt.
Trước đây,
Phạm Phú Thứ lại phạm thêm một lỗi: ra lệnh cho dân đào sông, không cần
tâu lên vua! Đây là một lỗi thuộc về lĩnh vực vi phạm kỉ cương, phép nước,
khó ḷng tha thứ (245)!
Tháng tám
năm Canh th́n (1880) này, vua Tự Đức không cho Phạm Phú Thứ bái yết, mặc
dù ông đă vào Huế lănh án, đă bị buộc phải đóng cửa suy nghĩ về lỗi lầm
của ḿnh. Vua bảo: “[Phạm] Phú
Thứ tuy có tài làm việc nhưng ḷng quá thiên tư [:thiên vị], kiêu ngạo,
phóng túng trái phép, không phải đạo nho thần. Ta thường răn bảo, không
chịu sữa lỗi […]. Không đổi hết lỗi, tất không thể dùng được. Đó là tại
ḿnh tự bỏ, không phải triều đ́nh bỏ” (246).
Nhưng việc
Phạm Phú Thứ tâu báo rằng Pháp chuẩn bị gây biến ở Bắc Ḱ, điều đó, quả
thực, là đúng sự thật. Sự thật là chỉ sau năm năm (1874 – 1879), kể từ
ngày kí kết “hoà” ước, thương ước Giáp tuất 1874, thực dân Pháp đă mưu
toan xâm lược Bắc Ḱ như thế. Nhưng khổ nỗi, vua Tự Đức dẫu biết sự
thật,
vẫn sợ hăi sự thật, muốn chạy trốn sự thật, cứ cho đó là
“hoang báo”, “đồn nhảm”,
mong các quan cứ
nhẫn nại để khỏi khích biến! Vua Tự Đức rơi vào tâm trạng của một
người hoàn
toàn bất lực trước nguy cơ hiểm hoạ, đành trốn vào ảo tưởng, mặc dù hiểu
rơ đó là ảo tưởng!
Không phải
chỉ đối với Phạm Phú Thứ, nhà vua trách mắng như vậy, mà khoảng một năm
sau, đối với tất cả thành viên của Viện Cơ mật, Nha Thương bạc (Trần Tiễn
Thành, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Chính [Chánh], Phạm Thận Duật, Bùi Văn Dị
[Bùi Ân Niên], Trần Thúc Nhẫn) và tham biện Nội các Đào Đăng Tiến [Đào
Tấn], nhà vua cũng cho là toàn thể Viện – Bạc và một tham biện Nội các
giao du với giặc nên nghe tin đồn nhảm,
“tâu nhàm tai trẫm” (247).
Tất cả đều bị
giáng hai cấp, cho lưu nhiệm. Chẳng biết những ai bị nhà vua gọi là
“giặc”? Kẻ sĩ văn thân ở Huế, ở Bắc Ḱ chăng? Các quan ở Bắc vào, như Phạm
Phú Thứ, đă nh́n rơ hoạt động chuẩn bị mưu toan xâm lược Bắc Ḱ lần thứ
hai của Pháp là “giặc” chăng? Tuy vậy, không bao lâu, chính nhà vua lại
phát biểu một điều mà hai chục năm trước nhà vua đă hiểu rất sâu sắc, thấm
thía: “Mọi việc mượn nhờ người
[Pháp], tóm lại như một
giấc mơ mộng, không có ḱ
nào được nên việc” (248), “Trước sau, Pháp chỉ muốn đem chữ “hoà” để đánh
lừa ta chăng!” (249).
Hết
tệp 14
(phân
đoạn 6 truyện kí thứ 8)
Khởi viết truyện kí thứ tám này
vào lúc khoảng 07 giờ sáng,
ngày 17.11.2002 (13.10 Nh. ngọ, HB.2).
Viết đến ḍng chữ cuối của
truyện kí thứ 8
lúc 16 giờ kém 10 phút,
ngày 30.11.2002 (24.10 Nh. ngọ, HB.2).
Sữa chữa xong vào lúc 15 giờ 24 phút,
ngày 04.12.2002 (01.11 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(213)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 104.
(214)
ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 306 – 307.
(215)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 352.
(216)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 176 – 177.
(217)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 279 – 280.
(218)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 304.
(219)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 355 – 356.
(220)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 370.
(221)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 372 – 373.
(222)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 119.(223)
Chúng tôi chỉ căn cứ vào
Đại Nam thực lục,
chính biên,
các tập có liên quan. Tất nhiên, không kể phần cuối tập 36 và hai tập 37,
38, trong đó có những lời nặng nề về Tôn Thất Thuyết sau cuộc Kinh đô quật
khởi do Nguyễn Nhược Thị Bích viết thay Từ Dũ để quở trách, và trong ba
tập ĐNTL. CB. đó, c̣n có dụ, cáo thị do Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ, khâm sứ
Hector, Phan Liêm, Phạm Phú Lâm viết, với những đoạn xuyên tạc, bôi nhọ về
ông (và Nguyễn Văn Tường) một cách quá đáng. Xin xem thêm: Trần Xuân An,
Nguyễn Văn
Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”,
bản in vi tính, 2002 (chưa có điều kiện xuất bản rộng răi).
(224)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 396.
(225)
ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 179 – 180, 198, 201, 212 – 213.(226)
GS. Trần Văn Giàu,
Chống xâm lăng
(CXL.), Nxb. TP. HCM. tái bản, 2001, tr. 327 – 358: Giai đoạn này, giai
cấp tư sản tài chính (tư sản công nghiệp và tư sản ngân hàng) đang xúc
tiến thành lập Ngân hàng Đông dương (Banque de L’Indochine). GS. Trần Văn
Giàu cũng đă trích dẫn F. Engels với câu viết có h́nh tượng con đĩa hai
ṿi, nhằm phê phán giới chóp bu tại Pháp, đại diện chính cống của bộ phận
tư sản tài chính của nước Pháp! Dương Kinh Quốc, VNNSKLS., sđd., tr. 173:
Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập ngân hàng ấy vào ngày 21.01.1875 (Ất
hợi). Theo tư liệu chuẩn cứ là ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 44 – 46:
“Dân trong
hạt [Phú Yên] là Lê Văn Lợi, năm trước tải lậu tiền đồng dị dạng, quan
tỉnh ấy chiểu lệ tịch thu số tiền ấy và giam xét. Tên ấy vượt nhà giam,
trốn đến cửa biển Thi Nại ở B́nh Định nương nhờ viên lănh sự Pháp. Viên ấy
cho khai liều là quê ở Gia Định, rồi nhận là dân Tây [có quốc tịch Pháp],
phải do viên lănh sự ấy xét xử. [Việc ấy vua] đă chuẩn tư cho chủ suư Pháp
[tại Gia Định], đợi chủ suư ấy xét định. [Đinh] Nho Quang không theo đợi,
lại uỷ phái người đến cửa Thi Nại để bắt. Lănh sự Pháp giải thoát cho Văn
Lợi, [lại] đem đánh trói người được phái đi bắt ấy; rồi tư cho quan tỉnh
B́nh Định phải trả lại số tiền đă tịch thu và phạt [Đinh] Nho Quang 20
đồng bạc [!]”.
Qua ba nguồn tư liệu trên, chúng tôi thấy có sự liên quan giữa quốc nạn
tiền sềnh (tiền đồng dị dạng) với Ngân hàng Đông dương của tư sản tài
chính Pháp. Phải chăng, qua tay bọn con buôn người Hoa, người Việt, Pháp
tổ chức sản xuất tiền giả, phá giá đồng tiền nước ta? Hoặc chúng đă lợi
dụng t́nh trạng tiền giả trước đó để nhảy vào tác động, làm lan tràn tiền
giả, gây rối loạn thị trường, tiền tệ thêm? Đó là một trong những thủ đoạn
của thực dân Pháp và tư sản ngân hàng Pháp?
(227)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 318.
(228)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 281 – 282.
(229)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 165 – 167.
(230)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 110 – 111.
(231)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 118.
(232)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 248.
(233)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 65 – 66.(234)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 198 – 199.
(235)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 217 – 218.
(236)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 125 – 126.
(237)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 126 – 128.
(238)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 328, 329 – 330.
(239)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 267; ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr.
20, 64, 108 và 190 – 191.
(240)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 130.
(241)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 216.
(242)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 221 – 223.
(243)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 262.
(244)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 263 – 265.
(245)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 113, 131 – 132.
(246)
ĐNTL.CB.,
tập 34, sđd., 1975, tr. 364 – 365.(247)
TVTĐ., tập 2, 1996, tr. 166 - 167. Xin chú thích rơ hơn: Đó cũng là lúc
Phạm Phú Thứ bị triệu về kinh để chịu trách phạt. Bấy giờ, vua Tự Đức
không muốn các đại thần, đường quan giao du với cả Phạm Phú Thứ (đang bị
giam lỏng để điều tra); nhà vua vẫn không muốn tin việc thực dân Pháp âm
mưu xâm chiếm Bắc Ḱ lần thứ hai là có thật, lại cho là
“hoang báo”, “nói
hăo tin càn”!
Bài dụ trách phạt, vua Tự Đức viết:
“… Vả người bầy tôi ắt phải có đạo [lí], dù muốn giao du rộng răi, cũng
phải chọn người mà chơi, muốn hiến kế sách tất phải cho có sự thực,
chứ có thể nào nói nhiều nghe bậy, không có một mảy may nào là thực tế?
Nay tự hỏi ḷng ḿnh, liệu như thế có an tâm không? Ngay đến như việc viên
Bùi Viện, nếu không có người dẫn tiến, th́ trẫm làm sao biết được? Vậy đă
lầm lỡ một lần rồi, há lại nên để cho xảy ra lần nữa hay sao?…”
(Thơ văn Tự Đức [3 tập], tập 2, Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1996, tr. 167).
Thời điểm Tự Đức viết bản dụ quở trách trên là ngày 24 tháng 02 năm Tự Đức
thứ ba mươi bốn (1881). Chúng ta đă biết rằng, Bùi Viện không những kiếm
t́m sự ủng hộ, viện trợ ở Mỹ (Hoa Kỳ, thời tổng thống Grant) mà c̣n thu
phục các lực lượng hải tặc nước Thanh (Trung Hoa) vào đội quân vận tải do
ông chỉ huy. Cuối cùng, Bùi Viện đă thất bại ở cả hai hướng. Khi Bùi Viện
mất, c̣n để lại sự thâm thủng ngân quỹ của Nha Tuần tải đến vài ba chục
vạn quan! (Xem: Phan Trần Chúc, sđd.).Tất nhiên, đối với các đại thần Viện
– Bạc như trên đă nêu tên, sự mở hướng ngoại giao nhằm t́m lực lượng đối
trọng với Pháp lúc này (1881), không thể là bọn hải tặc, mà chỉ có thể là
Chiêu thương cục do Đường Đ́nh Canh đại diện trong việc giao thiệp với
nước ta…
(248)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 6.
(249)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1975, tr. 118 – 119.
Soạn xong phần chú
thích
vào lúc 19 giờ 24
phút,
ngày 06.12. 2002
(03.11 Nh. ngọ HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 14
(PHÂN ĐOẠN 6 TRUYỆN KÍ THỨ 8)
Xin xem tiếp TỆP 15
(phân đoạn 7 truyện kí thứ 8)