Tệp 12
PHÂN ĐOẠN 4 TRUYÊN KÍ
THỨ 8
TRẦN
XUÂN AN
CUỘC CHIẾN
NGOẠI GIAO
VÀ NGOẠI
THƯƠNG
Truyện kí thứ tám
(phân
đoạn 4)
11
Trong tháng
tám nguyệt lịch trước, triều đ́nh đă đ́nh nghị và được chuẩn định lệ cho
giáo dân được đi thi, được làm quan như bao sĩ phu khác, chỉ có điều, họ
phải tuân theo nghi lễ truyền thống của nước ta như tế lễ, triều mừng, và
cạnh tên tuổi họ phải được chua vào hai chữ “giáo dân”. Mặc dù đă xoá hẳn
sự phân biệt đối xử trên con đường khoa hoạn, giáo dân vẫn không ngớt làm
reo, kêu đ̣i bồi thường trong
cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ – Tĩnh,
và ở Huế, họ vẫn
ra mặt ủng hộ, hậu thuẫn khâm sứ Pháp Rheinart, quyết triệt hạ thượng thư
Bộ Hộ, đại thần Viện Cơ mật, quan Thương bạc, bá tước Ḱ Vĩ Nguyễn Văn
Tường! Vụ triệt hạ Nguyễn Văn Tường của Rheinart và giáo dân Huế chính cố
đạo Pháp về sau cũng gọi là một “mánh khoé” (94), hay đúng hơn là một thủ
đoạn, để vừa triệt hạ quan Thương bạc, vừa làm reo nhằm đạt cho được mục
đích rất tầm thường là có một địa điểm tốt, trên địa điểm ấy Pháp sẽ xây
dựng Sứ quán Pháp. Lúc bấy giờ, mặc dù trách phạt Nguyễn Văn Tường, nhưng
vua Tự Đức vẫn chỉ rơ tính chất của vụ việc: “không nên làm nhục nhau”
(95). Đó là những chữ trong câu nói của nhà vua, khi tướng Pháp Duperré đă
tỏ ư lấy làm hổ thẹn, cử phái viên phụ tá ra Huế thương thuyết hoà giải.
“Việc trước không nói nữa. Từ sau, phàm người hai nước đối xử với nhau, đều đem
ḷng thành thực tin nhau, không nên làm nhục nhau” (95).
Mục đích
chỉ là triệt hạ Nguyễn Văn Tường, nhưng sự thể là thế này:
“Sợ các quan ta, nhất là các
quan ở thương cảng có thể gây trở ngại, trong
thương ước này c̣n nói thêm: Viên khâm sứ có quyền chấp nhận hay không
chấp nhận các viên quan phục vụ tại các hải cảng mở ra để giao thiệp với
Pháp [?]. Như vậy có nghĩa là nhưng kẻ nào chống đối lại người Pháp có thể
bị thải hồi hay đổi đi làm việc ở một nơi khác [?].
Sau hiệp ước Giáp
tuất được kí kết, ngày 15 tháng 01 năm một tám bảy lăm (1875), thượng thư
[Bộ] Hải quân Pháp gởi thư cho thống đốc Nam Ḱ Đuyperê (Duperré), yêu
cầu đề cử một người giữ chức khâm sứ để giao thiệp với Triều đ́nh Huế. Và
Đuyperê đă cử Râyna đề Étxa (Rheinart des Essart), sanh ngày 01.11.1840,
xuất thân đại úy hải quân lục chiến, từng làm tham biện tại Soái phủ ở Sài
G̣n và công sứ ở Hà Nội.
Râyna đi trên
chiếc thuyền Ăngtilốp (Antilope) và tới Thuận An vào ngày 25 tháng 7. Bên
ta phái một viên quan Bộ Lễ về Thuận An nghinh tiếp, sau đó đưa về công
quán. Hai ngày sau, Râyna sang thăm các quan Thương bạc (tức là quan Ngoại
giao của ta) và được thượng thư Nguyễn Văn Tường đón tiếp niềm nở. Cuộc
bang giao ban đầu diễn ra tốt đẹp, (như Râyna bị ốm, vua Tự Đức liền cho
người đến hỏi thăm sức khoẻ), nhưng về sau, giữa viên khâm sứ Pháp và
Triều đ́nh Việt
Nam trở nên thù hằn chỉ
chờ cơ hội để hại lẫn nhau.
Lúc Râyna đến Huế
th́ Ṭa Khâm sứ chưa xây cất nên phải tạm trú tại công quán mà Triều đ́nh
Huế dùng để đón tiếp các nhà ngoại giao các nước. Công quán này tuy bằng
tranh nhưng cũng khá đẹp, trước mặt có cột cờ, chung quanh có tường, viên
khâm sứ ở đây với Priơ (Prieux), quan cai trị hạng nhất, Đôphanh
(Dauphin), thư kí, Xuliê (Souliers), bác sĩ, Phơlơri (Fleury), thợ làm
bánh ḿ, Đôm (Dhomps), quản gia, và một viên chủ Sở Công chánh ra Huế để
lo việc xây cất Ṭa Khâm sứ. Lúc bấy giờ ở Huế chỉ có mấy giáo sĩ và bảy
(07) người Pháp kể trên là được phép lưu trú mà thôi. Ngoài ra, trong Sứ
quán c̣n có một viên thông ngôn, những người đầu bếp và một số ít lính đều
là người Việt.
Công việc trước
tiên của Râyna khi đến Huế là chọn đất để làm Ṭa Khâm. Trong thương ước,
có khoản nói rằng: Chánh phủ Việt Nam nhường không cho Chánh phủ Pháp đất
đai cần thiết để làm nhà cho các viên công sứ hay nhân viên tùy tùng ở.
Tuy thế, Triều đ́nh Huế chỉ bằng ḷng để cho Râyna sử dụng những mảnh đất
thật xa thành phố, lại ẩm thấp, cứ đến mùa mưa th́ ngập nước. Những nơi mà
Râyna vừa ư th́ các quan ta lại không thuận, lấy cớ đất ấy là của riêng
nhà vua hoặc của các ông hoàng bà chúa, hay sắp dùng để xây cất đền này
đài nọ v.v…
Râyna thấy ta làm
khó dễ, nên đă quyết định bảo với viên chủ Sở Công chánh Sămbe (Sambert),
cùng với những người giúp việc đến nhà thờ Lịch Đại (gần ga Huế), đóng nọc
định làm bừa Ṭa Khâm sứ ở đó. Sợ Râyna liều lĩnh xâm phạm nơi thờ phụng,
nên Triều đ́nh Huế bằng ḷng cho mảnh đất nơi công quán, mà Râyna hiện
đang tạm trú. Mảnh đất này nằm tại hữu ngạn sông Hương, gần cầu Trường
Tiền. Dần dần lâu đài, dinh thự lập lên chung quanh vùng này và tạo thành
một khu vực mang tên là khu vực của người Âu (tuy gọi thế chứ phần nhiều
là của người Pháp).
Ṭa
Khâm sứ chiếm một khoảng đất vào lối hai trăm (200) thước vuông. Nhân công
(chừng ba mươi [30] người Trung Hoa) và vật liệu đều đưa từ Sài G̣n ra,
chỉ trừ vôi và cát mua ở Huế. Làm tầng dưới xong, lúc xây tầng trên, Râyna
bị các quan ta phản đối v́ lẽ Toà Khâm dám vô lễ xây cao hơn cung điện của
vua. Và khi lợp mái nhà bằng những lá kẽm th́ lại gây ra dư luận cho rằng
người Pháp sợ ta bắn đại bác vỡ mái nhà nên không dám lợp ngói. [Thật ra,
dư luận không phải không có cơ sở, v́ tôn kẽm rất nóng bức đối với người
ở, nhưng Pháp vẫn cố chịu đựng; như vậy hẳn có lí do; lí do ấy chỉ có thể
là pḥng thủ?].
Nhưng về sau mọi
trở ngại đă được dàn xếp và Ṭa khâm vẫn làm theo họa đồ đă vẽ từ trước.
Râyna là một tay thực dân hạng nặng, v́ thế nên mối bất ḥa giữa ông
với Triều đ́nh Huế mỗi ngày một trở nên trầm trọng. Nhà cầm quyền Pháp
thấy rằng nếu để ông th́ bất lợi cho đường ngoại giao trong buổi ban sơ
nên đă ra lệnh triệu hồi, khiến ông không kịp dự vào lễ khánh thành Ṭa
Khâm sứ”
(96).
Sự
thể cũng không phải là tên thực dân Rheinart không ngang ngược ngay giữa
kinh đô nước ta:
“Nổi tiếng về b́nh tĩnh, thận trọng và cương quyết, ông ta [Rheinart]
được chọn làm công sứ ở Hà Nội [nếu chiếm hẳn được Bắc Ḱ], vào giai đoạn
viễn chinh của Françis Garnier. Nhưng v́ những phản đối của ông không ngăn
cản nổi những vi phạm của nhóm văn thân cũng như không ngăn nổi về sự đầu
hàng của Philastre nên ông xin được triệu hồi […].
Việc đầu tiên là ông chọn một đám đất để đặt trụ sở phái bộ. Đây
chẳng phải là việc dễ dàng. Những sự đi lại của người Pháp xung quanh [kinh]
thành đều bị nh́n với cặp mắt khó chịu. Thương bạc hay Bộ Ngoại giao mong
muốn công sứ [:khâm sứ] Pháp đặt bản dinh càng xa thành phố càng tốt.
Những yêu cầu của ông Rheinart đều bị bác bỏ. Khi th́ đất này thuộc của
vua hoặc là thuộc một người trong hoàng tộc, khi th́ đất được dành cho một
công tŕnh xây dựng tưởng tượng ǵ đó. Thương bạc đề nghị những nơi bị
ngập nước về mùa mưa hoặc ở làng Vân Dương nằm ở hạ lưu của Toà Khâm hiện
nay, hoặc ở một nơi khác nào đó.
Ông Rheinart nghĩ rằng không nên nhận các vị trí ấy và quyết định
dùng một mánh khoé để giải quyết. Một hôm ông đi với ông Sambert, là đốc
công các công tŕnh công cộng, và khoảng ba mươi lao công [giáo dân], đến
vùng lân cận của Lịch Đại là miếu thờ các triều đại ngày xưa của hoàng gia,
gần bên ga Huế, và bắt đầu đóng cọc. Triều đ́nh đă cấp tốc gửi một nhân
viên qua yêu cầu ông Rheinart đ́nh chỉ công tŕnh. Nhưng ông này làm ngơ
và không nhượng bộ, tiếp đó là một sự thương thuyết kéo dài, và căng thẳng
có thể đến đổ vỡ. Nhưng cuối cùng hai bên đă đă chịu chấp nhận đám đất ấy
như hiện nay. Người ta có thể h́nh dung sự xôn xao của triều đ́nh Huế
trước một hành vi phạm thượng táo bạo như thế, măi cho đến khi Thương bạc
chịu hứa hẹn rơ ràng một sự thu xếp.
Giấy tờ nhượng đất ở Trường Thuỷ [quân] là vào ngày mười chín (19)
tháng tư (04) âm lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi chín (29) (12.5.1876). Như
vậy phải một năm thương lượng khéo léo và cứng rắn mới đạt kết quả” (94).
Rheinart càng thích chí lúc biết được, sau khi thượng thư Bộ Hộ
Nguyễn Văn Tường bị một tên đại uư nhăi nhép như y dám tỏ hành vi ngang
ngược, với một cách lừa đầy mánh khoé khá du côn, ông đă bị vua Tự Đức
hiểu lầm và ra dụ giáng đến bốn cấp, lại quở trách rất nặng nề:
“Dụ rằng: Vừa đây
sứ Pháp có gửi thư cho Toà Thương bạc, xin chọn một chỗ khác để tiện chỗ
ở, song không nói rơ là chọn chỗ nào.
Cứ lời tâu của viên Thương bạc, hiện đă chuẩn cho Bộ Công đi khám
xét, xem họ định chọn chỗ nào, có thể y cho được hay không. Nếu phái viên
không biết chỗ nào, th́ phải hỏi tên [linh mục] Nguyễn Hoằng đi chỉ dẫn.
Lại cứ viên Nguyễn Văn Tường phụ trách Thương bạc tâu tŕnh rằng,
viên sứ Pháp xin sẽ đến dinh của y để thương thuyết, và định xin chiều
ngày hai mươi chín tháng trước sẽ đến hội bàn, song Nguyễn Văn Tường cũng
chưa từng tâu xin để đi hội dẫn khám xét. Việc đi khám nay uỷ cho Bộ Công,
hiện đă có phiến tấu ở đó, mà viên này cũng không từng xin cùng đi với Bộ
Công để hội dẫn khám. Vậy không biết chiều hai mươi chín ấy, họ hội thương
với nhau những ǵ, mà bỗng sáng hôm mùng một, [trẫm] thấy phiến tâu lên
rằng, chiều hôm ấy hội thương, sứ Pháp xin cùng với Nguyễn Văn Chất [thuộc]
Bộ Công cùng đi khám hai nơi là làng Nhất Dương Xuân và làng Nguyệt Biều,
mà cũng không nói rơ hai nơi đó là Long Thọ Cương. Trẫm xem xong lấy làm
lạ, công việc họ không hợp lẽ, và cũng chưa hề phân xử, th́ bỗng chốc hôm
mùng bốn, lại tiếp phiến tâu rằng, cứ xă Nguyệt Biều lên báo với Thừa
Thiên phủ thần rằng: Thấy có người Tây dẫn hơn ba mươi tên giáo dân theo
đạo, đến nơi Long Thọ Cương giẫy cỏ, và vẽ địa đồ, vậy viên Thương bạc xin
đưa thư để cản lại. Trẫm đọc qua, càng thêm thấy làm quái gở, bọn người
ngoại quốc kia, không hiểu lễ phép, dám khinh suất đến như thế, mà cũng là
viên Bạc thần vẽ đường cho họ, nay nếu có gửi thư trách họ, th́ cũng đă
muộn rồi.
Vả lại viên
Bạc thần chỉ được đi hội thương với họ mà thôi, chứ chưa từng được phép
dẫn đi khám xét, vậy mà dám vội nghe một lời khinh suất, cùng đi với họ,
để cho họ thấy ḿnh dễ dăi như thế, mới dám lộng hành. Vậy không phải viên
Bạc thần mở đường cho họ hay sao?
Việc làm trái với pháp luật, đạo lí, đáng lẽ phải lập tức cách chức,
nhưng hăy tạm khoan thứ một lần. Viên Nguyễn Văn Tường, nghĩ phạt giáng
bốn cấp về tội không biết lấy lẽ phải mà can ngăn bọn kia, lại c̣n đi theo
họ mà làm liều nữa; viên Nguyễn Văn Chất, nghĩ giáng hai cấp, và nhưng
trách viên Bạc thần từ giờ về sau, cần phải thận trọng, phàm làm việc ǵ
phải ổn thoả chu đáo, để chuộc tội trước mới tránh được tội nặng sau này.
C̣n đám dân đạo, tuy là chúng theo tôn giáo khác, song cũng vẫn là
dân của ta. Để d́u dắt coi sóc cho chúng đă có các chức huyện lệnh kinh
triệu. Vậy mà chúng không theo lệnh người trên, lại đi nghe theo người
khác, thực không hiểu hạng này là hạng dân ǵ? […]. Ngay việc Nghệ An cũng
là do bọn ngươi khiêu khích quá quắt, để cho bọn xấu được vin cớ phiến
động, làm phiền ḷng trẫm… […] … Nay các ngươi lại khơi mào ra lấy điều
phi lễ, th́ sau đây những việc như mở khoa thi chọn người ra làm quan sẽ
ra làm sao? Đó không phải tự ḿnh gạt ḿnh ra ngoài, th́ c̣n đổ lỗi cho ai?…
[…] … Vậy th́ ai chả là dân, can ǵ ham những lợi lạc trước mắt, để mong
cầu những phi vọng không thể có được để làm ǵ? Đó chẳng qua là bọn người
mê muội theo giáo, nên không chịu nghĩ chín mà thôi…” (97).
Sự
thể đă được làm rơ với sự hổ thẹn của Duperré và lời dụ cuối cùng của vua
Tự Đức về vụ việc này.
“Bấy giờ,
sứ nước Pháp (Lê Na [Rheinart]) đến Nha Thương bạc hội thương, yêu cầu
cùng với biện lí Bộ Công là Nguyễn Văn Chất cùng đến địa phận xă Dương
Xuân, xă Nguyệt Biều (hai xă thuộc Hương Thuỷ), khám chọn trụ sở. [Rheinart]
liền đem theo ba mươi (30) giáo dân đến núi Thọ Cương cắt cỏ, vẽ bản đồ.
Việc ấy tâu lên, vua bảo rằng: “Hắn dám khinh thường làm càn, đều do quan
Thương bạc mà ra. Nguyễn Văn Chất không biết giữ lí can ngăn, phủ huyện
không biết dạy dân, đều đáng có lỗi, đều phải giáng lưu, để cho răn sửa”.
(Khi ấy quan Thương bạc chỉ nhận mệnh lệnh hội thương, mà khinh thường
nghe lời cùng đi với). Nhân thế, sai đưa thư trách sứ Pháp. Sau rồi tướng
nước Pháp ở Gia Định biết lấy làm thẹn, sai người giúp việc [:phụ tá, trợ
lí] ở Phủ [suư] đến [kinh đô] giảng thuyết.
Vua [kết luận,] bảo rằng: “Việc trước không nói nữa. Từ sau,
phàm người hai nước đối xử với nhau, đều đem ḷng thành thực tin nhau,
không nên làm nhục nhau”” (95).
Đừng lợi dụng sự tin tưởng của quan Thương bạc, dù là tin tưởng tối
thiểu, vào tư cách văn hoá tối thiểu của một khâm sứ nước Cộng hoà Pháp,
để giở tṛ lừa đảo nhằm mục đích làm nhục, triệt hạ!
Kết luận là thế, nhưng cái chuỗi lập luận theo kiểu quy buộc trách
nhiệm đối phó và trách nhiệm liên đới của hoàng đế nghe mà đau xót! Nhưng
bấy giờ là thế, với kiểu quy buộc trách nhiệm ấy, nếu người có chức trách
được ghi công cùng chiến thắng, thơm lây, thưởng theo, th́ cũng phải chịu
dây phải vết nhục thất bại, phải chịu vạ lây, đều cùng bị phạt.
Rheinart về sau cũng thú nhận theo giọng điệu của y:
“Vai tṛ của người phái viên trong một thời gian dài hoàn toàn như
không có, bởi lẽ đối phương chỉ nhượng bộ trước vũ lực. Riêng bản thân tôi
sẽ gặp muôn vàn khó khăn hơn ai hết để có một nhượng bộ. Tôi đă gặp nhiều
khó khăn với triều đ́nh Huế, và từ thuở ấy, ông thượng thư Bộ Hộ (Nguyễn
Văn Tường) rất có uy tín với vua, đang hận thù đối với tôi sau nhiều
chuyện rắc rối xảy ra giữa chúng tôi” (98).
Một tên thực
dân khác viết một cách thù hận cả sau khi Nguyễn Văn Tường đă phải chết ở
ḥn đảo lưu đày biệt xứ của chính thực dân Pháp:
“Than ôi, ngay ngày hôm sau [tức
là ngày kế tiếp ngày 29.8.1875 (một tám bảy lăm)], những thủ đoạn phá rối
có hệ thống [?!?] của Nguyễn Văn Tường kéo dài cho đến ngày chiếm cảng
Thuận An [8.1883 (một tám tám ba)], và c̣n về sau này, cho đến khi đày kẻ
thù không đội trời chung của chúng ta, và trong thời gian [bị lưu đày tại
Tahiti] đó, [Nguyễn Văn Tường] chẳng chịu hiểu biết ǵ, cũng chẳng chịu
quên ǵ” (99).
Kẻ thù đă viết như
thế về bá tước Ḱ Vĩ Nguyễn Văn Tường, gọi quá tŕnh đấu tranh chống Pháp
trên mặt trận chính trị, ngoại giao của ông một cách khiếm nhă như vậy:
“những thủ đoạn phá rối có hệ
thống”!
Giọng lưỡi thực dân nghe đến kinh tởm.
Nhưng dẫu
sao những lời lẽ phải quấy, đúng sai, này nọ, trong phản ứng tức thời của
vua Tự Đức, hay trong ngẫm nghĩ hằn học của thực dân cố đạo, thực dân cai
trị về sau, hoặc trong b́nh tĩnh nhưng hơi cả nể “tả đạo” của học giả
hoàng tộc về sau nữa, kể cả thuật sự của sử thần thời Thành Thái, cũng đều
nói xa nói gần về thái độ, mánh khoé côn đồ của tên đại uư nhăi nhép
Rheinart, được chính phủ Pháp phong đến chức khâm sứ! Thái độ, mánh khoé
của y đối với thượng thư Bộ Hộ, đại thần Viện Cơ mật, kiêm quản Nha Thương
bạc Nguyễn Văn Tường cũng chẳng khác ǵ Jean Dupuis, Françis Garnier đối
với cố Vũ hiển đại học sĩ, đổng sức tuyên sát đại thần Nguyễn Tri Phương
dạo nào, tuy ở mức độ côn đồ thấp hơn.
Tuy nhiên,
lúc này vẫn đang là tháng chín nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi tám,
Ất hợi (1875).
Khi sự khiêu
khích côn đồ đó xảy ra, triều đ́nh và nhà vua, hoàng tộc cũng như sĩ dân
kinh đô Huế cứ ngỡ Rheinart cùng bọn giáo dân, nói theo chữ của vua Tự Đức,
là bọn “bỏ nước” (ruồng bỏ, phản bội Tổ quốc) ấy, hẳn thực chất cũng như
bọn tướng tá, sĩ tốt của Nguyên – Mông, thậm chí c̣n ngạo mạn một cách
thâm độc hơn. Thượng thư Nguyễn Văn Tường đau đớn nhớ những ḍng Hịch
Tướng sĩ của Trần Hưng Đạo:
“… Huống chi, ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi
gian nan, ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú
diều mà sỉ mắng triều đ́nh, đem tấm thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác
mệnh Hốt Tất Liệt mà đ̣i ngọc lụa, để thoả ḷng tham không cùng, giả hiệu
Vân Nam vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như
đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau!
Ta
thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đ́a;
chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm
thây này phơi ngoài nội cỏ, nh́n xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui
ḷng.
“… Nay
các ngươi nh́n chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết
thẹn, làm tướng triều đ́nh phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc
Thái Thường để đăi yến ngụy sứ mà không biết căm, hoặc lấy việc chọi gà
làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú ruộng
vườn, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc
ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát… ”
(100)
Không có ǵ
xúc phạm cho bằng việc một tên đại uư nhăi nhép người Pháp lại dám xúc
phạm đến Long Thọ Cương, nơi có đền thờ Lịch Đại! Lịch Đại là một bộ sử
của dân tộc Việt, không phải bằng chữ, mà bằng sự phụng thờ từ khởi thuỷ
cho đến các đời Vua Hùng, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lư, Trần, Hậu
Lê, dựng nên nền độc lập của dân tộc suốt bốn ngh́n năm (101). Tất nhiên
không tính đến cách thờ có tính chất ngoại giao, vờ chấp nhận như một
“phiên thuộc” độc lập, trước sức ép của Trung Hoa “thiên triều”. Dẫu sao,
Lịch Đại vẫn là lịch sử dân tộc Việt kiên cường kháng chiến để giữ độc lập
và “nhu viễn” sau những cuộc đại thắng hiển hách. Thật ra, dưới triều
Nguyễn, cái “nhu viễn” kiểu đó cũng làm mất quốc thể và ḷng tự hào, tự
trọng dân tộc không ít! Nhưng lạ lùng thay, nhưng cũng b́nh đẳng thay, nơi
Long Thọ Cương ấy, tại xă Nguyệt Biều, vẫn có cả đền thờ quốc vương Chiêm
Thành, hằng năm đều có tế lễ vào hai tháng trọng xuân và trọng thu (101).
Rốt lại, đấy là thờ kính không chỉ về quan hệ lịch sử mà c̣n thờ kính về
quan hệ trao đổi tương tác văn hoá. Long Thọ Cương là như thế, lại bị một
tên đại uư nhăi nhép côn đồ người Pháp cùng đám giáo dân vô lại xúc phạm
như thế! Nhưng có thể đấy chỉ là “ngỡ”, là “chừng như”!
Xúc phạm của
Rheinart với bọn đồng mưu là đám giáo dân chỉ v́ một lẽ rất tầm thường:
chúng sợ mùa nước lụt sẽ bị ngập nước, lầy lội, muốn t́m một chỗ cao ráo
để dựng Sứ quán Pháp, và chỉ thế thôi? Đó là sự xúc phạm v́ ngu dốt, v́
thói côn đồ của loại người vốn là cặn bă của nước Pháp, chứ không phải là
sự xúc phạm thâm độc?
Dẫu sao, đối
với quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường, vụ xúc phạm, khiêu khích, tṛ lừa
đảo với mánh khoé làm reo ấy của kẻ thù và giáo dân Huế, những tên cùng
loại với ngụy tổng đốc Trương thợ rèn phản quốc ở Hải Dương, khiến ông rất
đau xót.
Và quan
Thương bạc Nguyễn Văn Tường càng đau xót hơn biết bao nhiêu lần trong việc
thực hiện “sách lược thoả
hiệp tạm thời”, “chịu khuất”
này. Thời,
thế, cơ hiện nay chỉ khiến vua Tự Đức vờ ngây thơ với sĩ dân trong việc
lấy sự “giao hảo” với giặc Pháp để tranh thủ “kẻ mạnh”, nhằm chặt đứt chỗ
dựa của bọn nội phản “tả đạo”, “phù Lê” với thói cơ hội “đón gió xoay
buồm” đốn mạt! Hiện tại triều Nguyễn không có tể phụ (tể tướng). Ông chỉ
đứng ở vị trí số hai trong các đại thần tại triều. Trên ông c̣n có Trần
Tiễn Thành, một kẻ chủ “hoà”, lúc này vẫn trễ năi việc chấn chỉnh quân
lực, lại rất được vua Tự Đức sủng ái một cách lạ thường. Mặc dù chẳng có
công lao, chưa hề trải qua gian khổ (ngoại trừ một số tháng ngày đi đánh
dẹp bọn Đá Vách tại Quảng Ngăi!), Trần Tiễn Thành lại được thăng chức đặc
cách vùn vụt. Trần Tiễn Thành chỉ có mỗi một tài khua môi thầm th́ tư
biện. Đến lúc này, thượng thư Nguyễn Văn Tường càng thấy rơ Trần Tiễn
Thành, và càng hiểu ra chính ông cũng có một thời ngộ nhận về ông ấy!
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường hiểu thời, thế, cơ hiện nay, không phải là một hiện thực
khả dĩ cất lên tiếng hịch bi tráng và rất đỗi hào tráng như thời cả dân
tộc phải đương đầu với một lực lượng từng đánh bại cả Á lẫn Âu, chiếm hẳn
một nước khổng lồ là Trung Hoa, biến Trung Hoa thành một kho lương thảo vô
tận cho mưu đồ soải vó ngựa Nguyên – Mông xuống phương Nam. Quân Nguyên –
Mông thiện chiến nhưng cô độc chỉ một ḿnh nó. Quân Nguyên – Mông đánh đâu
thắng đó, “lưỡi gươm Nguyên đâm
lút bản đồ Âu” (102),
nhưng vẫn chỉ là
vó ngựa với thanh gươm, đặc biệt là cung nỏ. Đế quốc vô địch thế giới
Nguyên – Mông đă thảm bại đến ba lần sau bài hịch của Trần Hưng Đạo. Chiêm
Thành cũng phối hợp với Đại Việt để chặn đứng mưu toan tràn xuống xâm lược
phương Nam của đế quốc Nguyên – Mông. Đó là thời, thế, cơ của thuở mà Hịch
Tướng sĩ có một hiện thực đầy khả năng chiến thắng để cất lên, vang vọng
khắp núi sông. Thời, thế, cơ hiện nay, bọn giặc da trắng không những liên
minh với nhau, chúng c̣n biết dùng “chiến tranh thuốc phiện” hoặc tôn giáo
“tả đạo” để làm sức ép, để đầu độc đến mê muội dân ta và dân các nước bị
đánh chiếm ở khắp Á Tế Á, A Phi Lị Gia, Nam Mỹ Lợi Kiên (Asie, Afrique,
Sud Amérique [latin]), và nhất là kĩ nghệ vũ khí, tàu thuyền, vốn vượt xa
ta đến mức ta lạc hậu, rớt lại phía sau trước đà tiến phi thường của
chúng, rớt lại phía sau một cách bi hài đến đau đớn, thảm bại trong kinh
ngạc. Thời, thế, cơ hiện nay chỉ có thể chua xót, tủi hận như thuở Hậu
Trần với nỗi niềm Đặng Dung sao? Không, bi kịch lạc hậu hiện nay thời Hậu
Trần không gặp phải. Nỗi đau hiện nay đau đớn vạn lần hơn, và bi hài xưa
nay chưa từng có!
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường khẽ đọc, cho bao người tâm huyết, tài năng, và cho cả
chính ḿnh:
Thuật hoài
Thế sự du du nại lăo hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ văn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma
Kể nỗi ḷng
Việc nước rối bời,
già được sao!
Khúc say, trời
rộng cũng đong vào
Gặp thời đốn mạt
thành công vượt
Thất thế anh hùng
nuốt hận trào
Có chí pḥ vua,
xoay trục đất
Không đường rửa
giáp, kéo sông sao
Chưa đền nợ nước,
đầu hoen bạc
Mấy độ gươm mài,
bóng nguyệt cao! (103)
Đọc lại đoạn
hịch, ngâm lại bài thơ, thượng thư Nguyễn Văn Tường cảm thấy tim ḿnh bừng
sôi, thấm thía nỗi căm hận ngút trời xen lẫn với niềm bi phẫn đắng ḷng!
Cố nhiên liên tưởng, cảm nhận nào đó của ai đó, cũng như sự so sánh, đều
có so le, mấy khi trùng khít đến tuyệt đối. Hai câu thực của bài thơ, nếu
hiểu một cách quá cụ thể, không hoàn toàn đúng với thời vua Tự Đức trị v́,
một triều đại có đến hàng chục bản chiếu, dụ tiến cử người hiền tài ra
giúp nước với phương châm của người xưa:
“Tiến được người tài, sẽ được thưởng
hậu; che giấu người tài, sẽ bị giết”.
Đây không phải là
sự gặp thời, thất thế trên bước đường công danh của cá nhân, mà là thời,
thế, cơ của cả thời đại. Ấy là thời giặc Tàu nhà Minh xâm lăng, quân Việt
thời Hậu Trần (thời Hồ Quư Ly soán đoạt) tuyệt vọng trong chiến bại. Ấy là
thời Pháp, “tả đạo” xâm lược này, xét trong tương quan lực lượng Việt –
Pháp, Á – Âu… Tâm trạng và không khí chung của bài thơ Thuật hoài sao
giống y như nỗi ngút trời căm uất, bi phẫn ở những tháng năm này đến thế!
12
Với chức
trách quan Thương bạc, thượng thư Nguyễn Văn Tường biết trước những vết
nhục bởi côn đồ, lưu manh, ông sẽ chạm phải, nên một lần ông với thượng
thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản đă xin từ chối, nhưng không được vua Tự Đức cho
phép. Giờ đây, quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường vẫn đành phải làm tiếp
công vụ ấy.
Những năm
này, Pháp đang thua sút các nước khác, như Anh, Đức, kể cả những khách
thương người Hoa trong việc thương mại. Ở cảng sông Cửa Cấm (Ninh Hải), ở
Hà Nội, tàu thuyền treo cờ Anh, Đức và nước Thanh vẫn chiếm tỉ lệ nhiều
hơn tàu thuyền treo cờ Pháp. Sự sa sút này không phải do Pháp không đủ sức
mạnh vũ lực và không lợi dụng thế mạnh ở “hoà” ước, thương ước để chiếm
độc quyền trên thị trường Bắc Ḱ và cả tại cửa biển Thi Nại thuộc B́nh
Định (khai thương từ ngày 01.11.1876; theo khoản XI “hoà” ước và khoản I
thương ước Giáp tuất 1974). Nguyên nhân sa sút ấy, chính là do sự suy đốn
ở chính nước Pháp.
Bọn thực dân
Pháp lại mở ra hướng mới một cách trái phép, không đếm xỉa ǵ đến “hoà”
ước. Nói đúng hơn, chúng lợi dụng điều khoản
“du học bác vật”
(đi thực địa để sưu tầm, nghiên cứu, học tập khoa học) nhằm thực hiện việc
thăm ḍ các tài nguyên khoáng sản của ta!
Ngay sau khi
sự cố Rheinart khích biến tại Huế, quan Thương bạc đại thần Nguyễn Văn
Tường lại cùng các thành viên Viện – Bạc bàn thảo để tâu tŕnh lên vua về
văn thư xin phép lên du thám vùng thượng du Bắc Ḱ của lănh sự Pháp tại
Hải Dương. Nhà vua không đồng ư. Nguyễn Văn Tường được dụ viết thư cho
tướng Pháp tại Gia Định để y tự xét lại và ngăn cản ư đồ du thám đó của
tên lănh sự ngoài kia. Ông viện dẫn ư của chính tướng Pháp, “chưa nên sang
Vân Nam (Trung Quốc)” (104), và cả ư của Dujardin,
“thượng du chưa yên, đâu nên đi vào
nơi nguy ấy” (104).
Đúng là thượng du
Bắc Ḱ c̣n rất nhiều phỉ, c̣n việc lên Vân Nam, muốn xuôi ḍng sông Hồng,
khá thuận lợi, nhưng muốn ngược ḍng, rất khó, v́ lắm ghềnh thác. Nhưng
dẫu sao, Pháp vẫn thừa hiểu triều đ́nh không muốn bị xâm phạm chủ quyền
Đất nước. Quan Thương bạc vẫn cố giữ phương thức “cương trong nhu”, lời lẽ
mềm mỏng nhưng ư tưởng vẫn rất cứng cỏi, không những kiên mà c̣n rất định.
Rheinart
cũng đă bước vào công việc khâm sứ của y. Y thương thuyết với Nguyễn Văn
Tường yêu sách thay đổi tuần phủ Thuận – Khánh Lê Đ́nh Tuấn. Quan Thương
bạc lại cùng Viện – Bạc bàn luận. Rất tiếc, Viện – Bạc và nhà vua đều nhân
nhân nhượng, thay bằng bố chính sứ Hà Nội Trương Gia Hội. Vua Tự Đức chỉ
dặn Trương Gia Hội: “C̣n như
người trong Nam, trẫm cũng để ư bồi dưỡng, ngươi đối xử cũng nên ổn thoả,
chớ để [lộ] h́nh tích [:dấu vết] ǵ là được” (85).
Tuy vậy, một
vụ việc đau ḷng lại sẽ xảy ra vào những ngày trước khi bước qua tháng năm
nhuận, năm Bính tí (1876), sau hôm Trương Gia Hội nhậm chức khoảng tám
tháng:
“Trước
[đây], người trong Nam khởi nghĩa, bị nước Pháp bắt được, phát giam làm
việc ở Côn Luân [Côn Đảo], [gần đây, các nghĩa sĩ ấy] lẻn trốn hai mươi
bốn người. Tướng Pháp [tại Gia Định] bắt phải nă bắt. Đến nay, bọn Trần
Ngọc Trúc, bảy (07) người, trốn về B́nh Thuận. Quan tỉnh là Trương Gia Hội
đem việc tâu lên [vua]. [Vua] sai bảo [cho các nghĩa sĩ đó] phải
[ẩn] lánh xa. Sau v́ tiếng tăm khó che, [vua] sai giam ngay, giải giao cho
tướng Pháp” [!!!] (105).
Lúc này,
Trương Gia Hội chỉ mới từ Hà Nội vào kinh đô Huế, đang chuẩn bị vào nhậm
chức mới tại [B́nh] Thuận – Khánh [Hoà].
Lúc này, đại
thần Thương bạc Nguyễn Văn Tường lại phải tiếp giám mục Gauthier từ Nghệ
An vào kinh đô (106). Y vào để khiếu kiện về việc lương – giáo lại nghi kị
nhau. Lệnh chuẩn của vua đă cho quan tỉnh xét xử, nhưng vẫn chưa xét xử
ngay. Rheinart lại gửi văn thư qua Nha Thương bạc với lời lẽ bất măn
(106)! Phạm Huy Khiêm, tả phó đô ngự sử Viện Đô sát, phải lên đường ra
Nghệ để điều tra vụ thiêu sát (đốt nhà, giết người) mới đây (106). Quan
Thương bạc họ Nguyễn càng nhận thấy rơ mâu thuẫn lương – giáo ở Nghệ, và
nói chung trên Đất nước, là vô phương hoà giải. Ông biết căn nguyên là tại
đâu. Đó không phải chỉ là xung đột tôn giáo xét trong khía cạnh văn hoá,
mặc dù văn hoá là một khía cạnh quan trọng.
Tháng chín
nguyệt lịch đă qua, tháng mười đến.
Nguyễn Hữu
Độ, người Thanh Hoá, thị độc học sĩ, sung quản lí Thương chính Hải Dương
kiêm việc hải pḥng, xin nghỉ phép giả hạn, vào kinh đô Huế thăm nhà,
viếng mộ (107). Nhân dịp này, ông ta xin vào chầu vua. Vua Tự Đức rất mong
nghe chuyện thương chính ở Bắc Ḱ, liền chuẩn y lời sớ xin. Nguyễn Hữu Độ
liền tâu về ba việc khó giải quyết (107): lưu dân vốn là người nước Thanh
tràn sang Hải – Yên; việc thương
chính,
“phái viên nước Pháp ở đấy chi dùng đă nhiều, lại thêm làm kho tạm, đắp
đất ở, công tŕnh phí tổn không biết bao nhiêu mà kể. Hiện nay việc buôn
tuy thi hành, [nhưng] thuế buôn chưa được dồi dào, việc làm như thế, chắc
hẳn có thâm ư ǵ khác… Thần thường từ chối là đường [lên thượng du] nghẽn,
họ tuy tạm hoăn, nhưng ḷng cầu mong tưởng không chịu bỏ…” (107);
việc khai mỏ:
“… Ngay khai mỏ, việc tất phải làm. Nếu cố chấp từ chối, đến lúc ấy, thế
khó ngăn được. Xin tạm thời phái nhiều viên có tài cùng với họ chia đi coi
làm, cốt để ta nắm quyền lợi, mà họ không dám khinh thương bừa băi, tưởng
là được cả hai việc” (107).
Vua Tự Đức khen
lời tâu và chuẩn thăng thự hồng lô tự khanh, biện lí Bộ Lại, sung làm cả
công việc Nha Thương bạc (107) với đại thần Nguyễn Văn Tường.
Hôm Nguyễn
Hữu Độ vào tâu trực tiếp với vua, có sự hiện diện của các thành viên Viện
– Bạc. Quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường thấy lời y không phải là không
quan tâm đến Đất nước, và không phải không có ư tố cáo âm mưu của bọn xâm
lăng Pháp, nhưng quan Thương bạc vẫn thắc mắc là tại sao y lại sớm thoả
hiệp với Pháp trong việc khai mỏ, chia chác cho chúng, một khi đó là tài
nguyên của nước ḿnh, ḿnh có thể học tập và tự khai thác lấy. Hay y muốn
ta phải chia cho chúng ngay, nếu không, trước sau ǵ chúng cũng cướp lấy,
và đến khi ấy tất chiến tranh phải nổ ra? Lời tâu miệng và bản tập tâu, ẩn
ư và minh văn, thật khó xét! Nhưng đó cũng chỉ là thoáng nghi ngờ của ông
về y, với trực giác nhiều hơn là do sự phân tích trí tuệ, có cơ sở. Quan
Thương bạc vội tự xua đi thoáng trực giác ông cho là đen tối, đó là sự hồ
nghi về một người sắp là thuộc viên và đồng sự của ông ở Nha Thương bạc.
Hồ nghi người khác nhị tâm (hai ḷng), một cách vơ đoán bằng trực giác,
chẳng phải là tội lỗi sao (108)?
Sau một vài
cuộc bàn thảo ở Viện Cơ mật – Thương bạc và đ́nh nghị, vua Tự Đức ra dụ
cho Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết, bảo phải dẹp hết giặc cỏ, giặc Cờ c̣n
lại, và nghĩ định cùng quan nước Thanh về việc cùng
“chọn người khai mỏ để chiếm quyền
lợi; đường buôn, các chỗ trọng yếu liệu đặt pḥng thủ; chọn nơi yên lành
cho đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc ở”
(109).
Đại thần
Viện – Bạc, thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường cũng xác quyết trong các
cuộc họp Viện và đ́nh nghị, nếu tham vọng Pháp như thế th́ ta cũng không
thể không t́m đối tác là nhà Thanh để đối trọng.
Bấy giờ, ở
Viện Cơ mật – Thương bạc, ông c̣n biết rơ bọn Pháp vừa đang cho tàu binh
đến tận địa phận Sơn Tây để đo mực nước, ḷng sông (110)!
T́nh h́nh
như thế là đă rơ âm mưu của Pháp: tham vọng của chúng không dừng lại ở
“hoà” ước, thương ước Giáp tuất vừa mới hỗ giao mấy tháng!
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường suy tư trong bao nhiêu hoài niệm về một vùng đất cũ, quê
hương thứ hai của ông, để đắn đo và đi đến quyết định viết bản sớ đề
xuất:
“Đồn Trấn Lao, huyện Thành Hoá [Cam Lộ, Quảng Trị], giáp giới với Long Giang
[:Khung giang, Mê Kông], đất tốt, lợi nhiều, có thế khống chế. Trước vâng
lệnh kinh lí nhưng không chuyên trách, sau không thành công. Xin châm
chước công việc sơn pḥng ở Sơn Tây, đặt sơn pḥng [ở Trấn Lao] để được
thực tế”
(111).
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường đă tâu xin cho hai huyện Hướng Hoá, Thành Hoá được trực
thuộc Sơn pḥng Cam Lộ, để mở rộng quy mô của sơn pḥng ấy (111).
Ông không
thể quên được kế hoạch pḥng thủ, nhất là việc mở thượng đạo nối Tây Sơn
(B́nh Định) với Nghệ An mà hồi làm tri huyện, bang biện khâm phái Thành
Hoá ông đă trăn trở suy tư, vạch kế hoạch, tấu tŕnh lên vua và đă được
chuẩn y. Bấy giờ, suốt bao nhiêu ngày tháng ông đă dầm mưa, ngâm suối, lội
bùn, đội nắng để thực hiện. Đâu phải không thành công trong suốt chín năm
hơn là tri huyện ở đấy, rồi mặc dù chỉ hai năm làm bang biện, sau đó phải
ra Bắc tiễu phỉ một cách khẩn cấp! Ông viết tập bản sớ, tất nhiên phải
khiêm tốn, không nên kể công lao. Cũng sá ǵ một chút công lao trong quá
khứ tít mù tắp! Điều quan trọng nhất là ông nhấn mạnh hai chữ thực tế. Để
rơ nghĩa hơn: t́nh h́nh này, Pháp vẫn đang nuôi dưỡng dă tâm, phải đặt sơn
pḥng để được thực tế, nhược bằng không, sẽ không trở tay kịp với sự lật
lọng tất yếu sẽ xảy ra của chúng. Và “hoà” để làm ǵ, nếu không tăng cường
pḥng thủ, chấn chỉnh binh lực, chờ thời cơ để chiến, chiến đấu quật khởi
để đuổi cổ bọn Pháp, bọn thực dân “tả đạo”, rửa hận cho nước, cho dân và
cho chính triều đ́nh, quan chức, binh lính? Lúc này, t́nh thế này, không
thể viển vông!
Đầu tháng
mười một nguyệt lịch, Hoàng Văn Tuyển mới được thăng thượng thư Bộ Công,
nay liền được bổ sung vào Viện Cơ mật – Thương bạc (112). Như thế, Viện –
Bạc đại thần đă gồm năm thành viên: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Lê
Bá Thận, Trần B́nh và thượng thư họ Hoàng. Phiên họp đầu tiên có Hoàng Văn
Tuyển, bàn về việc tàu binh Pháp lên thẳng thượng du, vẽ bản đồ, t́m quặng
mỏ trái phép, lại là mỏ vàng, tại núi Kim Bôi (Chợ Bến) (113)! Năm đại
thần t́m cách đối phó trong sự suy nghĩ, bàn thảo căng thẳng. Trong phiên
họp ấy, Nguyễn Văn Tường tŕnh bày với đồng sự về những khó khăn gặp phải
khi giữa ông và khâm sứ Pháp Rheinart đă có một sự cố đáng tiếc do chính
bản chất du côn thực dân của Rheinart, kiểu khích biến, triệt hạ uy tín
như Jean Dupuis, Françis Garnier đă gây ra đối với Nguyễn Tri Phương ở Hà
Nội dạo nào. Đến nay, ông thấy cần giảm lại công tác, một khi nhà vua đă
quyết định bổ sung thêm Nguyễn Hữu Độ làm tham biện Nha Thương bạc.
Viện – Bạc
đồng ư tâu lên vua. Trần Tiễn Thành cũng đồng ư với cái cười nhạt kín đáo
của ông ta, không một ai trông thấy. Không phải đến lúc này Trần Tiễn
Thành mới hiểu Nguyễn Văn Tường không thể đồng quan điểm chủ “hoà” với
ḿnh được, nhưng trước đây, ông ta chưa hiểu rơ. Nguyễn Văn Tường lâu nay
chỉ ẩn nhẫn trước cánh chủ “hoà”! Nếu Nguyễn Văn Tường chủ “hoà”, sao lại
một lần nữa muốn khước từ công việc kiêm quản Nha Thương bạc, một công
việc phải thường xuyên tiếp xúc với khâm sứ Pháp? Và sao Nguyễn Văn Tường
lại không thể chịu nổi những tên thực dân xấc láo như Rheinart? Rơ là
Nguyễn Văn Tường muốn Nguyễn Hữu Độ làm đúng cái việc cầu thân với Pháp,
bởi Nguyễn Hữu Độ có khả năng cầu cạnh ấy? Trần Tiễn Thành suy nghĩ theo
cách của ông ta, sau khi cuộc họp Viện – Bạc vừa tạm chấm dứt. Có điều,
những ư tưởng ấy ở trong óc Trần Tiễn Thành với loại ngôn từ có sắc thái
biểu cảm hết sức chủ “hoà”!
Hôm sau,
theo lệ thường, buổi thiết triều vẫn được tiến hành tại Điện Văn minh với
sự hiện diện của các thượng thư (có năm đại viên Viện – Bạc), tả hữu tham
tri lục bộ và Nội các. Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường liền bước đến chỗ
tấu sự, sau khi Trần Tiễn Thành tâu về các ư kiến trong buổi họp Viện –
Bạc hôm qua.
Bên cạnh chỗ
tấu sự, luôn luôn túc trực một viên ngự sử, để có thể can gián quan viên,
khi cần thiết, và một viên sung Nội các để ghi lời vua ban.
Quan Thương
bạc thi lễ và thưa:
- Tâu hoàng
thượng, “thần sung làm việc ở
Viện – Bạc, ngoài số lương thường, hàng năm được thêm tiền bổng sáu trăm
(600) quan. Viện: thêm được ba trăm (300); Thương bạc: thêm ba trăm (300).
[Nguyễn] Hữu Độ chưa dự hàng đại thần nhưng việc công cùng giúp đỡ lẫn
nhau, đều có san sẻ khó nhọc. Thần xin vâng lănh tiền Viện [Cơ mật] ba
trăm (300) quan, c̣n tiền bổng ba trăm (300) quan [do việc phụ trách]
Thương bạc [mà] thêm cho, xin chờ chỉ chuẩn cho chia cấp cho tham biện
[Nguyễn] Hữu Độ” (115).
Vua Tự Đức
lắng nghe, mỉm cười:
- Thế là y
ngươi muốn từ chức đại thần kiêm quản Nha Thương bạc đó sao? Thật là khéo
từ khước chức trách đă được ban cho? Hay ngươi vẫn c̣n giận trẫm về bản dụ
giáng phạt, lưu nhiệm vừa rồi? Này, Nguyễn Văn Tường, trẫm không nghe đâu!
Ngươi phải nhận đủ lương và bổng, cố làm việc như lâu nay vẫn làm. Nói rơ
ra, trẫm không thể cho ngươi từ chức. – Vua Tự Đức lại nói sau cái đằng
hắng khẽ ở cuống họng để lấy giọng –. Trẫm nói thế, đại thần, đường quan
lục bộ có thấy trẫm bắt ép quá không?
Những tiếng
tâu “bẩm, không” cùng cất lên.
Vua Tự Đức
cười hơi lớn tiếng:
- Thôi, thế
này, trẫm đồng ư cấp thêm cho Nguyễn Hữu Độ hàng năm hai trăm (200) quan
tiền bổng. C̣n Nguyễn Văn Tường vẫn phải nhận đủ sáu trăm (600) quan.
Ngươi đă dùng lương bổng để nói khéo việc từ chức. Trẫm cũng dùng lương
bổng để nói ǵ, ngươi và các đại thần, đường quan đă hiểu. Không từ chức
được (115)!
Sau một vài
viên đại quan tấu sự nữa, buổi thiết triều lắng lại. Thấy đă quá giờ và
không ai tâu tŕnh ǵ thêm, vua Tự Đức phác một cử chỉ để viên thị vệ hô
lớn: “băi triều”.
Lúc này, cả
vua Tự Đức lẫn đ́nh thần, trong đó có Nguyễn Văn Tường, chưa một ai hay
biết chính Nguyễn Hữu Độ lại là kẻ
“nghe theo lời bọn con buôn lăo luyện
mưu lợi” (116),
ngay từ năm Nhâm
thân (1872), lúc Jean Dupuis mới đến Hà Nội gây hấn bằng cách quấy phá,
khiêu khích. Chính Jean Dupuis đă viết về tên phản quốc, cơ hội,
“đón gió xoay buồm”
(117), vốn là quan của Đại Nam ta nhưng làm tay sai cho Pháp:
“… Một
ông quan hiếm có, tận tụy với người Pháp, tên là Nguyễn Hữu Độ… […] …
Tháng 11.1872 [:một tám bảy hai], Nguyễn Hữu Độ là phó tỉnh trưởng [thương
biện tỉnh vụ, đóng tại] Pha Long, khi tôi đến Quảng Yên. Từ đó chúng tôi
có những liên hệ tốt và càng được củng cố về sau” (118).
Lúc này,
cũng không ai biết rằng, Nguyễn Hữu Độ xin nghỉ phép giả hạn để về
“nơi ngụ ở kinh, thăm nhà, thăm mộ”
(107), là do sự câu kết ngấm ngầm với Pháp, nhằm vận động cho chúng, trong
đó có việc được xây dựng Sứ quán Pháp theo địa điểm chúng chọn!
“Nhân có
vấn đề xây dựng Toà Khâm tại Huế, toàn quyền Pháp đ̣i hỏi là Toà Khâm phải
được xây dựng trên đất Long Thọ, trên bờ phải sông Hương và ở vị trí phía
trên một chút so với làng Phường Đúc.
Đất ấy
vốn là nơi để dành cho hoàng đế dạo chơi [?!?], nên ngài giao nhiệm vụ cho
Nguyễn Văn Tường liên hệ với quan chức Pháp và đồng thời đề nghị một vị
trí khác.
Mọi cuộc
thương lượng do quan phụ chánh thứ nh́ [đại thần Viện – Bạc ở vị trí thứ
hai] tiến hành đều không có kết quả. Thế rồi Nguyễn Hữu Độ, với một sự can
thiệp thành thật và thẳng thắn, đă làm cho tướng Pháp chịu thoả thuận
(tháng giêng năm 1877). Biết được tin tốt, vua Tự Đức ban khen và tưởng
thưởng Nguyễn Hữu Độ lụa và quế” (118).
Đó là những
ḍng của tên trùm mật thám Trung Ḱ L. Sogny (118)!
Nhưng lúc
này ở triều đ́nh, Nguyễn Hữu Độ chưa bị phát hiện! Y vẫn làm tham biện tại
Nha Thương bạc cho đến tháng tám năm Tự Đức thứ ba mươi (1877) (119).
Kẻ “nghe
theo lời bọn con buôn lăo luyện mưu lợi” đó, măi đến vài năm sau (tháng
tám nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi hai [1879]), trong đ́nh thần mới
có người nói thẳng ra trong một buổi đ́nh nghị (116)! Nhưng càng về sau sự
thật đốn mạt ấy của Nguyễn Hữu Độ mới được chính y bộc lộ trắng trợn,
trâng tráo, không cần che giấu, dưới lớp ngôn từ mị dân!
Cuộc đời của
mỗi con người về lâu về dài mới rơ, như một cuốn sử biên niên, như một pho
tiểu thuyết chương hồi cổ điển, sự việc đến đâu, được chép hoặc viết đến
đó, với các thủ pháp “mở gút”.
“Xin xem hồi sau sẽ rơ”
là câu thường thấy cuối mỗi chương của loại tiểu thuyết ấy.
C̣n lúc này,
sau buổi thiết triều trên ít hôm, tham biện Nha Thương bạc Nguyễn Hữu Độ
được lệnh dụ vào Gia Định thăm hỏi và tiễn chân Duperré, y sắp về nước
Pháp (120).
Quan Thương
bạc lại nhận được thư của một người Ư Đại Lợi (Italia), bàn về việc thông
thương ở Địa Trung Hải, và thư một người khác tên là Ba Răng (?), nội dung
xin coi sóc việc ở tàu thuyền (121). Viện – Bạc, đ́nh thần và nhà vua đă
nghĩ định, nếu phía Pháp đồng ư kết nhận (bảo lănh) th́ triều đ́nh sẽ thuê
làm. Rheinart ban đầu cho là không rơ lai lịch hai người ấy, lần sau lại
nói chúng đều là cừu thù (một tên vốn đă làm thuỷ thủ cho Jean Dupuis),
tưởng không nên thuê. Quan Thương bạc tâu đúng sự thật về thái độ của
Rheinart để nhà vua xử trí: “Cứ
như sứ ấy tŕnh bày th́ hai người ấy không nên gọi thuê, thư của bọn ấy
cũng không nên trả lời” (121).
Đó là một ḍng
thông tấn lạnh lùng về bọn Pháp, thể hiện qua tên khâm sứ Rheinart! Như
thế là càng rơ thêm, Pháp muốn cô lập ta trong ngoại thương, ngoại giao.
Triều đ́nh lại bị bó buộc bởi thương ước, nên phải hội ư với Pháp về việc
thuê người nước ngoài! Châu phê:
“Nước ta giao tiếp, hiểu biết rất hẹp,
nên bị họ hạn chế. Họ cũng chẳng muốn người [nước khác] đến. H́nh như
người các nước cũng muốn đến mà bị họ ngăn lại thôi. Hoặc nên: chúng đă
đến, nếu [đích] thân thấy hỏi, xét thực là dùng được, cũng nên gọi đến
dần, may ra có ích. Nếu nhất khái cự tuyệt, cô lậu nào bằng. Nhưng bọn
[Pháp,] chúng hoạnh nhiều, tất phải tiến thoái không ngại mới được. Nên
phải nghĩ kĩ” (121).
Pháp lại vi
phạm “hoà” ước, cấp giấy phép một cách trái phép từ năm ngoái cho một thầy
thuốc nước Đồ Bà (Java). Nha Thương bạc đă tâu tŕnh và viết thư theo dụ
chuẩn, bảo Pháp tuân giữ “hoà” ước (122). Trương Gia Hội ở B́nh Thuận nay
lại tâu:
“Giữ ước chống cự, sợ
có [sự cố] không tốt. Xin cho hắn ở lại, sức [:bảo] cho phải ḍ xét”
(122)! Vua
lại y cho. Trong lúc ấy, nguyên tuần vũ Thuận – Khánh Lê Đ́nh Tuấn bị Pháp
phát hiện việc ông che chở, giúp ngầm quân khởi nghĩa Nam Ḱ, và ông đang
rơi vào trường hợp khó sắp xếp cương vị mới. Nay ông mới thực nhận chức
tuần vũ Trị – B́nh với lời dặn ḍ: Phải chú tâm đến Cam Lộ, được xem là
vùng đất xung yếu, “sinh điểm” cũng là “tử điểm” (huyệt đạo sống – chết)
(123).
Đến tháng
hai nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi chín (1876), Duperré về nước. Kế
nhiệm y tại Gia Định là Bossant (124). Đến cuối tháng năm, sau ba tháng,
Duperré lại sang Gia Định làm thống đốc Nam Ḱ! Sau đó, là Lapont (từ
16.10.1877) và Le Myre de Vilers (từ 07.7.1879) thay nhau kế nhiệm (125).
Trong những năm sau “hoà” ước, thương ước Giáp tuất, Nha Thương bạc của
đại thần Nguyễn Văn Tường lại trực diện đối phó, đấu tranh với những tên
khâm sứ tại Huế: Rheinart (từ 28.7.1875), Philastre (từ 14.12.1876), lại
Rheinart (từ 03.7.1879), De Champeaux (01.10.1881), lại Rheinart một lần
nữa (từ 15.8.1881) (126)… Và tại Hải Pḥng, lănh sự tạm thời tại đấy là
Turc (127). Lănh sự ở Hà Nội, măi đến tám năm trời (từ 1875 đến 1883), vẫn
một tên: De Kergaradec (128). Những tên khâm sứ, lănh sự Pháp này báo cáo
vào Gia Định và nhận chỉ thị từ Gia Định. Tất nhiên các tên tướng Pháp lại
báo cáo về Bộ Hải quân và Thuộc địa tại Pháp, cũng có khi báo cáo trực
tiếp về chính phủ Pháp. Các tướng Pháp đều nhận chỉ thị từ nơi chúng báo
cáo, ấy là Paris.
Trong các
tên khâm sứ Pháp tại Huế (Rheinart, Philastre, De Champeaux…), Philastre
là tay khôn khéo, trí thức nhất. Philastre không thuộc loại thực dân thô
bạo, và đôi khi y c̣n thấy rơ y bị rơi vào guồng máy thực dân mà chút
lương tri c̣n sót lại đă giúp y phản tỉnh, đồng thời cũng nhờ sự đánh thức
của Nguyễn Văn Tường vào lương tâm, vào trái tim c̣n chút chất người ở y,
Philastre trở nên một tên khâm sứ được nhà vua và triều thần ít nhiều
thiện cảm hơn những tên khâm sứ khác (129). Nhưng dẫu thế, y vẫn là một
tên thực dân hoàn tất nhiệm vụ thực dân được cấp trên của y giao phó
(129)! Y hoàn tất nhiệm vụ thực dân theo cách của y với phẩm chất trí thức
Pháp mà y c̣n giữ được ít nhiều. Nhưng Philastre chưa từng trăn trở, dằn
vặt trong bi kịch tội ác thực dân dù muốn hay không y cũng rơi vào đó, cho
dẫu y có ư thức y là kẻ gây tội ác trong guồng máy thực dân vốn bạo hành
một cách độc ác.
Dẫu tên này
hay tên kia có khác nhau về quan điểm, tính cách, và cách làm việc ít
nhiều có khác nhau, nhưng tất nhiên chúng vẫn là một giuộc trong guồng máy
xâm lược của chủ nghĩa thực dân Pháp (và Phương Tây nói chung). Trong thực
tế, chúng vẫn chưa có thể làm được ǵ đúng như tham vọng của chúng, cũng
là tham vọng của giới chóp bu tại Paris.
Hết
tệp 12
(phân
đoạn 4 truyện kí thứ 8)
Khởi viết truyện kí thứ tám này
vào lúc khoảng 07 giờ sáng,
ngày 17.11.2002 (13.10 Nh. ngọ, HB.2).
Viết đến ḍng chữ cuối của
truyện kí thứ 8
lúc 16 giờ kém 10 phút,
ngày 30.11.2002 (24.10 Nh. ngọ, HB.2).
Sữa chữa xong vào lúc 15 giờ 24 phút,
ngày 04.12.2002 (01.11 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(94)
Tập san Những người bạn cố đô Huế
(NNBCĐH)
(Bulletin
des amis du vieux Huế,
Cadière làm chủ bút.), bài
“Phái bộ Pháp ở
Huế và những phái viên đầu tiên” của linh mục Aldophe Delvaux, Đặng Như
Tùng dịch, Phan Xưng, Bửu Ư, Đỗ Hữu Thạnh, Hà Xuân Liêm hiệu đính, tập III
(1916), Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 32 – 33.
(95)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 232.
(96)
Bửu Kế,
Chuyện triều Nguyễn
(CTN.), Nxb. Thuận Hoá, 1990, tr. 79 – 80.
(97)
TVTĐ., tập 2, sđd., 1996, tr. 28 – 33.
(98)
NNBCĐH (BAVH.), Delvaux, bài đă dẫn, tập III (1916), sđd., 1997, tr. 48.
(99)
Tập san Những người bạn cố đô Huế
(NNBCĐH) (Bulletin
des amis du vieux Huế,
Cadière làm chủ bút.), bài
“Vị đại biện đầu
tiên của nền
bảo hộ đến Huế”
của H. Le Marchant de Trigon,
Đặng Như Tùng
dịch, Tôn Thất Hanh hiệu đính, Nhị Xuyên, Lê Văn biên tập, tập IV (1917),
Nxb. Thuận Hoá, 1998, tr. 273.
(100) Nhiều tác giả,
Hợp tuyển thơ văn
Việt Nam,
thế kỉ X – thế kỉ XI, bài Hịch Tướng sĩ, Bùi Văn Nguyên dịch, Nxb. Văn
Hoá, 1962, tr. (?).
(101) ĐNNTC., tập 1, sđd., 1992, tr. 33 – 34.
(102) Thơ Hồ Dzếnh.
(103) Trần Xuân An dịch thơ từ bản dịch nghĩa…
(104)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 233.
(105) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 296.
(106) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 240.
(107) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 253 – 254.
(108) “Xin xem hồi sau sẽ rơ”.
Trong bộ sơ thảo truyện sử kí này, chúng tôi rất ít sử dụng các thủ pháp
tiểu thuyết. Trong dự định, ở lần xuất bản thứ hai,
chúng tôi sẽ nỗ lực
gia công nâng cao
tính
h́nh tượng, để tác phẩm sinh động, hấp dẫn hơn.
(109)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 254.
(110)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 255.
(111)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 255.
(112)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 238, 256.
(113)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 257 – 258.
(114)
Trần Trọng Kim,
Việt Nam sử lược
(VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 472 – 473.
(115)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 258.
(116)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1976, tr. 263 – 265.
(117)
ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 157 – 158.
(118) Tập san Những người bạn cố đô Huế
(NNBCĐH) (Bulletin
des amis du vieux Huế,
Cadière làm chủ bút.), bài
“Các gia đ́nh thế
gia vọng tộc
ở nước Nam: ngài Nguyễn Hữu Độ”
của chánh mật thám Trung Ḱ L. Sogny, Phan Xưng dịch, Nguyễn Vy
hiệu đính, tập XI (1924), Nxb. Thuận Hoá, 2002, tr. 264 – 265, 261.
Nhân đây, xin một lần nữa nói rơ: Qua tập san
Những người bạn cố
đô Huế
(NNBCĐH., BAVH.), ta thấy thực dân cố đạo, thực dân viễn chinh, cai trị
thể hiện quan điểm, thái độ địch – ta rất rơ rệt. Những tên tay sai đốn
mạt như Nguyễn Hữu Độ được chúng ca tụng hết lời, theo giọng lưỡi mị dân
trơ trẽn!(119)
ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1976, tr. 63 – 64.
(120) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 259.
(121) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 262 – 263.
(122) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 271.
(123) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 275.
(124) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 273.
(125)
Yoshiharu Tsuboi,
Nước Đại Nam đối
diện với Pháp và Trung Hoa
(NĐNĐDVP. & TH.), UB.KHXH. TU. Tp. HCM. xb., 1993, tr. 106.
(126)
VNNSKLS., tập 1, sđd., 1981, tr. 175.
(127)
VNNSKLS., tập 1, sđd., 1981, tr. 191.
(128)
VNNSKLS., tập 1, sđd., 1981, tr. 175 – 176; NĐNĐDVP. & TH, sđd., 1993, tr.
113.
(129)
NĐNĐDVP. & TH, sđd., 1993, tr. 116 – 122.
Soạn xong phần chú
thích
vào lúc 19 giờ 24
phút,
ngày 06.12. 2002
(03.11 Nh. ngọ HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 12
(PHÂN ĐOẠN 4 TRUYỆN KÍ THỨ 8)
Xin xem tiếp TỆP 13
(phân đoạn 5 truyện kí thứ 8)