Tệp 11
PHÂN ĐOẠN 3 TRUYÊN KÍ
THỨ 8
TRẦN
XUÂN AN
CUỘC CHIẾN
NGOẠI GIAO
VÀ NGOẠI
THƯƠNG
Truyện kí thứ tám
(phân
đoạn 3)
8
Thượng thư
Bộ H́nh, đại thần Viện – Bạc, cũng là quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường bàn
luận t́nh h́nh, công việc và sau đó tuân chỉ dụ của vua, viết văn thư cho
Phủ súy Pháp tại Gia Định (60). Trong bản văn thư tháng ba nguyệt lịch này,
ông chỉ nêu lên bốn vấn đề:
1.
Yêu cầu
Pháp tiễu trừ giặc biển từ B́nh Thuận đến Hải – Yên (theo “hoà” ước).
2.
Yêu cầu
Pháp cho khách thương buôn gạo Nam Ḱ ra Bắc Ḱ, v́ ở miền ngoài, dân đang
thiếu đói.
3.
Không
nên căm thù Lưu Vĩnh Phúc, Lưu cũng như Françis Garnier.
4.
Chưa có
thể cho tàu thuyền thông thương lên Vân
Nam, v́ thương ước
chưa có hiệu lực thi hành (thời hiệu) (60).
Với yêu cầu
thứ hai, quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường gián tiếp khẳng định sẽ không
thể nào “bồi thường” như các giám mục, linh mục Nghệ – Tĩnh và chánh, phó
sứ Brossard de Corbigny, Regnault de Premesni kêu đ̣i! Yêu cầu ấy, c̣n oái
oăm, bi kịch là ở chỗ khác nữa: vựa lúa Nam Ḱ vốn nuôi sống cả Trung Ḱ,
có thể trợ cấp cho Bắc Ḱ, nhưng nay đành phải yêu cầu ở Pháp chở ra để
bán cho Bắc Ḱ thiếu đói!
Một yêu cầu
khác, văn thư lần này cũng xác định Lưu Vĩnh Phúc đă quy phục, được xem
như thần tử (tôi con) trong nước (mặc dù vẫn là “hiệp sĩ phi chính phủ,
hành đạo trừ tà”, “ngoài ṿng cương toả”);
“nay “hoà” ước đă định, đều bỏ hết chớ
ngờ để khỏi sinh hiềm khích” (60).
Và hậu quả
chua xót cũng là kết quả “lật tẩy” thắng lợi từ cuộc Pháp gây biến Bắc Ḱ
vẫn c̣n phải giải quyết tiếp. Triều đ́nh phải trị tội bọn quan lại của ta
tự “lật tẩy”, trơ trẽn phô bày thói cơ hội “theo gió xoay buồm” khi giặc
Pháp khích hấn, xâm lược và bốn tỉnh thất thủ. Đó là tên tri phủ Kiến
Xương Đào Trọng Kỳ (61) (người xă Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương,
kẻ làm xấu hổ quê hương Trạng Tŕnh! (62)); hai tên khác là quan vơ, đều
sung làm hiệp quản, Lê Đ́nh Quyên và Nguyễn Văn Quy (61). Đồng thời, tiếp
tục khen thưởng nhiều xă, như Trung Năng thuộc huyện Phổ An, Bá Vân thuộc
huyện Đại Từ, đều ở tỉnh Thái Nguyên, tự đem quân đoàn luyện (hương binh)
chống bọn phỉ và có khả năng chống cả bọn Pháp, khiến chúng không thể đánh
chiếm được các huyện, làng ấy.
Việc ở Bắc
Ḱ c̣n thêm nặng nề khi bước vào tháng tư năm Ất hợi này, ấy là đê Văn
Giang lại vỡ! Thế là nạn đói lại đe doạ, nạn đói mà quan Thương bạc Nguyễn
Văn Tường mới viết thư yêu cầu Pháp phải chở gạo ra bán! Lănh tuần vũ Nghệ
An Vũ Trọng B́nh mới được chỉ dụ về kinh nhận chức tả tham tri Bộ Lại với
lời khen của vua, “để đem thói
[:đức tính] liêm chính sẵn có, làm phép cân nhắc, chắc được xứng chức”
(63) như
Nguyễn Văn Tường năm nào dâng sớ đề nghị, nhưng, tiếc thay, v́ vỡ đê Văn
Giang là việc khẩn cấp, ông lại tất tả ra ngoài ấy “phát chẩn và sửa đê
điều cho vững” (63).
Và bi kịch
Ông Ích Khiêm lại xảy ra!
“[Vua] sai giải [giao] nguyên quyền
tán tương quân thứ Bắc Ninh là Ông Ích Khiêm về kinh đợi án.
Bấy giờ
Ích Khiêm đem quân đánh giặc ở An Định (thuộc Bắc Ninh), tự thu quân về.
Tổng đốc Bắc Ninh Tôn Thất Thuyết cho là Ích khiêm đánh giặc [mà] thương
tổn [:hao quân, tổn lính ta] nhiều, tự tiện đem quân về, không theo tướng
lệnh, [nên] bắt xích giam ngay, tâu xin xử trí. Quan tỉnh Hải Dương Phạm
Phú Thứ [lại] nghe người nói Ích Khiêm đánh thắng, đă tŕnh, rồi [mới] về,
[nên ông] xin phái quan to đến tra xét và xin điệu [Ích Khiêm] về Hải
Dương để trấn áp [phỉ]. Vua sai giải giao [Ích Khiêm] cho tỉnh Đông [:Hải
– Yên] phái đi làm việc. Tôn Thất Thuyết lại tâu: “Tỉnh Đông hiện có phái
viên nước Pháp ở đấy bàn bạc [việc thương chính], [và] sự thể tỉnh Đông,
tỉnh Bắc cùng quan trọng, mà Ích Khiêm th́ tâm t́nh, ngôn ngữ không phải
là người yên thường giữ phận, sợ đến dỗ dành người khác sinh sự, tưởng
quan tổng đốc tỉnh Đông không áp chế được. Xin chuẩn cho đem Ích Khiêm về
kinh xử trị, để khỏi trở ngại”.
Vua nghe
theo, sai giải giao [Ích Khiêm] cho Hà Nội xét qua, giải thẳng về kinh chờ
án. (Sau Ích Khiêm đến kinh, mắc bệnh tâm hoả [lo phiền], liền cho về quê)”
(64).
Chả là Tôn
Thất Thuyết mặc dù đang chất chứa trong tim mối căm thù giặc Pháp, mối căm
thù sùng sục khôn nguôi, ông cũng đành phải lo âu về việc làm vỡ không khí
nghị “hoà” bất đắc dĩ, chẳng đặng đừng ở Hải – Yên. Danh tướng Tôn Thất
Thuyết ngại rằng, chính danh tướng Ông Ích Khiêm sẽ không ḱm chế được
ḷng căm thù Pháp như ḿnh, gây ra khích biến.
Ở kinh đô
Huế, thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường không biết nói sao, khi Ông Ích
Khiêm được giải vào, cơn bệnh tâm hoả ăm ắp lo phiền của ông ấy lại phát
ra. Nguyễn Văn Tường không ngờ số phận thần đồng văn chương cũng là danh
tướng quân sự của Ông Ích Khiêm lại bi kịch đến thế! Ông chỉ biết cùng
triều đ́nh miễn nghị, và tiễn Ông Ích Khiêm vào lại làng quê Phong Lệ,
huyện Diên Phước ở đất Quảng Nam tả trực ḱ. Khi tiễn chân vị danh tướng
họ Ông, thượng thư Nguyễn Văn Tường chỉ biết nói với con người bi kịch ấy:
“Gắng chữa khỏi bệnh, rồi lại ra kinh đô, cùng nhau làm việc tại Bộ. Chẳng
có ǵ phải nản chí”.
Chỉ mươi,
mười lăm hôm sau, với chức năng quan Thương bạc, Nguyễn Văn Tường lại phải
cùng Viện – Bạc hội bàn về chính mắc mứu giữa phái viên Pháp Dujardin với
tổng đốc Bắc Ninh kiêm thống lĩnh quân vụ Ninh – Thái – Lạng – Bằng Tôn
Thất Thuyết (65).
Bấy giờ,
Pháp đang làm dinh thự Nha Thương chính ở xă Gia Viên, tỉnh Hải Dương, gồm
trụ sở cho lănh sự, quan thu thuế và bọn lính Pháp hộ tùng, cũng cho cả
linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư, kẻ đang được giữ chức tham biện, một
chức quan của triều đ́nh (66). Bấy giờ, hai trăm (200) bản thương ước Giáp
tuất đă được in ra phát hành cho các tỉnh, những người buôn Trung Hoa, để
có cơ sở làm công tác thuế quan và thuận lợi trong việc thương mại (67).
Và cũng bấy giờ, Nha Thương bạc của triều đ́nh Huế đang được làm tạm bằng
tranh tre ngoài Thành Nội, phía bên trái cửa Đông Nam (Thượng Tứ), nơi
nh́n ra bờ sông Hương (68). Những tưởng những thù oán, hiềm khích trước
khi kí kết “hoà” ước, thương ước
đă dịu hẳn,
nhưng thực tế không phải thế.
Tháng mười
nguyệt lịch năm ngoái (1874), tướng Pháp tại Gia Định vẫn c̣n ra lệnh cho
Dujardin cùng tàu Sắc Tê (La Sarthe? Le Salteé?) chở thức ăn đến cung cấp
cho Jean Dupuis. Tất nhiên, có lẽ Tôn Thất Thuyết không thể làm ngơ. Ông
phải chuẩn bị quân binh và không thể không nói cho chúng biết, không phải
chúng muốn làm ǵ th́ làm. Tướng Du (?)và những tên viễn chinh đi theo tàu
ấy hiện vẫn đồn trú tại Hải Dương. Đến nay, tên tướng Du (?) này lại cùng
Dujardin (La Đăng) đều gửi thư hoặc tỏ ư bằng lời, bảo rằng chúng rất nghi
kị Tôn Thất Thuyết, một khi Tôn Thất Thuyết c̣n chỉ huy các quân thứ đóng
ở Bắc Ninh. Chúng sợ sẽ bị Tôn Thất Thuyết bất ngờ tấn công. Do đó, mắc
mứu ấy phải được giải minh cho rơ, mặc dù giải minh một cách ngoại giao!
Quan Thương bạc đă phải trả lời cho Phủ suư Pháp tại Gia Định về mắc mứu,
thực chất là cái gờm nhau ấy (68).
“Hoà” ước,
thương ước ư? Thật ra Pháp vẫn giết hại những ai đă từng chống đánh chúng,
nếu chúng có thể bắt được và giết được. Nguyễn Hữu Huân (69), một cử nhân
thủ khoa người Định Tường, ra vùng tị địa ở B́nh Thuận, trước đây mộ quân
đánh Pháp. Pháp bắt dược, lưu đày ra nước ngoài (đảo Réunion), lại phóng
thích cho về. Khi về lại Đất nước, thủ khoa Huân lại kết nghĩa đồng chí
với cử nhân Âu Dương Lân (69), người đồng tỉnh Định Tường, cùng kẻ sĩ văn
thân lục tỉnh Nam Ḱ, trong đó có một số người nước Thanh (Hoa kiều). Cả
thảy khoảng ba ngàn (3.000) nghĩa sĩ (69). Nhiều cuộc tấn kích vào chính
bọn Pháp đă được tiến hành, đạt nhiều thắng lợi. Những nghĩa sĩ ấy chiến
đấu ngay cả trong những năm gần đây (1872 – 1874). Đến nay, trong những
ngày tháng tư Ất hợi (1875) này, Pháp bắt được, đă tử h́nh hai ông cùng
hơn trăm người thủ lĩnh nghĩa quân ở Mỹ Tho (Định Tường). Có người bảo
Nguyễn Hữu Huân đă cắn lưỡi tử tiết trên pháp trường (70).
Quốc sử quán
triều Nguyễn chỉ c̣n biết ghi tên hai ông với sự hi sinh của hơn một trăm
liệt sĩ khác, cùng công trạng của ba ngàn nghĩa quân cho ngh́n thu ca ngợi,
tôn vinh! Lịch sử măi măi ca ngợi, tôn vinh ư chí chiến đấu chống ngoại
xâm, cho dẫu chiến đấu trong tuyệt vọng.
Chính những
trận tấn công như thế vào chính binh tướng Pháp viễn chinh, cố đạo Pháp
viễn chinh, vốn đă làm bọn thực dân Pháp rúng động, sợ hăi, cũng là một
cách chiến để đàm, mặc dù có thể không có một mật ước, mật dụ nào cho các
anh hùng, nghĩa sĩ.
9
Những ngày
hạ tuần tháng sáu, thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường, thượng thư Bộ Lại
Nguyễn Tư Giản được sung chức đọc quyển trong ḱ thi phúc hạch cử nhân
trúng cách (thi hội và thi đ́nh) (71). Đó là hai giám khảo chính. Ngoài ra,
tả thị lang Bộ Lại Trần Văn Chuẩn, hồng lô tự khanh sung làm việc ở Nội
các Bùi Ân Niên (Bùi Dị) được sung vào chức duyệt quyển (chấm lại những
quyển bài thi đă được lấy đỗ) (71).
Trong bốn ḱ
thi hội và một ḱ thi phúc hạch cuối cùng, gọi là thi đ́nh, khoá Ất hợi
này, có những đề thi rất sát với thời sự. Ḱ thi đ́nh do chính vua Tự Đức
sát hạch các sĩ tử, để chọn thám hoa, bảng nhăn (không có lệ lấy trạng
nguyên!). Chính bài chế sách của nhà vua nổi tiếng uyên bác cổ văn là Tự
Đức, cũng hướng tới việc canh tân Đất nước theo “Tây
học vi dụng, Đông học vi thể”.
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường là người đă từ lâu đề xuất việc cải cách thuế ruộng ở
Đàng Ngoài, nhất là ở Bắc Ḱ, trong các phiên họp Viện Cơ mật – Thương bạc.
Những ư tưởng này h́nh thành từ những năm c̣n làm tri huyện, phủ doăn (72)
và nhất là những năm tiễu phỉ ở phía bắc Đất nước. Việc thống nhất hai
miền, Đàng Trong và Đàng Ngoài, về mặt hành chính, vốn đă được thực thi từ
thời Quang Trung, và rơ rệt nhất là dưới thời Gia Long, rồi trải qua ba
triều kế tục, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Tuy nhiên, thực trạng kinh
tế (gồm cả tài chính) vẫn có những khác biệt lưu cữu. Đến năm Tự Đức thứ
hai mươi tám, Ất hợi (1875), trước kiến nghị cải cách về thuế ruộng công,
ruộng tư Nam – Bắc để thống nhất về thuế vụ trong cả nước nhà vua hơi dè
dặt. Nội dung cốt lơi của cải cách này là, giảm thuế ruộng công, tăng thuế
ruộng tư, nghĩa là nghiêng về phía ưu đăi cho người nghèo (tá điền, cố
nông) thiếu ruộng công để cày cấy. Thực chất đó cũng là một cách ổn định
t́nh h́nh chính trị – xă hội, cụ thể là giảm bớt bao nông nỗi đau ḷng,
như sự loạn lạc, xiêu tán của nông dân, do đói kém, thiếu ruộng để canh
tác. Trước khi ban hành chủ trương ấy, trong ḱ thi hội, thi đ́nh này, một
đề thi đă được ra cho các cử nhân sắp sửa là phó bảng, tiến sĩ, như một
cách thăm ḍ, tham khảo và cũng là cách tuyển chọn. Đó là đề thi ḱ thứ
hai, cho những sĩ tử đă đỗ ḱ thi thứ nhất:
“Nghĩ kim linh Bắc Ḱ quân điền phú
chiếu” (nghĩ làm bài chiếu nay khiến Bắc Ḱ chia đều thuế ruộng) (73).
Chỉ trong
ṿng chưa đầy nửa tháng sau, chính Nguyễn Văn Tường đă được chuẩn cho để
thực hiện chủ trương này, trên cương vị mới là thượng thư Bộ Hộ (74). Và
suốt nhiều năm sau đó ông vẫn tiếp tục đấu tranh với các cường hào ác bá
và các quan tỉnh để thực hiện.
Trong ḱ thi
hội và thi đ́nh này, ngoài ra, c̣n có những đề thi khác rất thời sự, ngoài
những đề về kiến thức và thái độ, nhân cách, đạo đức kẻ sĩ (73):
1.
“Như hà tư khả
vị sĩ hĩ” (thế nào gọi là kẻ sĩ).
2.
“Lai bách công
dă, nhu viễn nhân dă” (gọi trăm quan lại,
ôn hoà với người phương xa [:người nước ngoài]).
3.
“Tứ giao đa
luỹ, thử khanh đại phu chi nhục dă, địa quảng đại hoang nhi bất trị, thử
diệc sĩ chi nhục dă” (bốn cơi
nhiều hào luỹ là nhục của các quan khanh và đại phu, đất rộng bỏ hoang
nhiều mà không dùng cũng là nhục của kẻ sĩ vậy).
4.
“Nghĩ giảng
hoàn tứ tỉnh thần dân hạ biểu” (nghĩ làm bài
biểu thần dân mừng về việc trả lại bốn tỉnh).
5.
“Ngự nhung vô
thượng sách” (bài luận về câu “chống giặc
không có kế sách nào hay nhất”).
6.
“Phú đắc bất
tham vi bảo thi” (bài thơ theo câu “Giàu [?]lại
được thêm mà không tham là báu”, lấy vần “tham”).
7.
“Phú sứ lai
triều tu hảo hợp lễ phú” (làm bài phú nói sứ
thần nước Pháp đến triều để tu sửa sự giao hảo [:quan hệ ngoại giao tốt
đẹp] cho hợp lễ [đạo thường]).
8.
Trích
chế sách ḱ thi đ́nh của vua Tự Đức:
“Vả sao gần đây càng suy tôn phương pháp của Phương Tây? Vậy phương pháp
ấy có quả thấy xác thực hơn hẳn cổ nhân, hay cũng chỉ là một loại ồ ạt nói
liều mà thôi? […].Thậm chí các việc dẫn điện, thu lôi, chế hơi để dùng,
các sự quái dị ấy, cơ hồ đoạt được quyền tạo hoá, th́ làm sao nà tiến được
đến như thế? […]. Hoặc là muốn biến đổi tất cả văn hiến từ ngàn năm, mới
có thể làm nên phú cường được? Có phải thế chăng? Tất là có thể thừa biện
được? Hoặc là theo như nước Nhật Bản cấp thiết về công việc gần trước mắt
mà bắt chước được không? Xưa kia có người biến đổi quần áo rợ Hồ [phía tây
bắc Trung Hoa] mà được hưng thịnh, có người vất bỏ phong tục rợ Hồ mà bị
suy vong. Hai đằng khác nhau. Vậy biết lấy ǵ làm chuẩn đích? Những điều
này là trẫm đều muốn t́m hiểu và muốn được nghe biết vậy” (73).
Hai giám
khảo chính là Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tư Giản đă cẩn trọng, cân nhắc rất
kĩ khi chấm các quyển bài thi, để chọn những người xứng đáng được chọn vào
các thứ hạng trúng tuyển. Hai giám khảo khác, Trần Văn Chuẩn và Bùi Ân
Niên, đă duyệt lại các quyển. Kết quả: mười một (11) tiến sĩ, đồng tiến sĩ
xuất thân (có thứ bậc); sáu (06) phó bảng (71).
-
Tiến sĩ: Phạm Như Xương
(Quảng Nam), Nguyễn Hữu Chính
(Chánh,
Nghệ An).
-
Đồng tiến sĩ: Đinh Nho Điển,
Đinh Văn Chất
(Nghệ An), Phan Du, Hoàng Hữu Thường,
Tống Duy Tân
(Thanh Hoá), Lê
Duy Thụy, Vũ Hữu Lợi
(Nam Định), Trần [Văn] Dư
(Rư, Quảng Nam), Cao [Đăng] Đệ.
-
Phó bảng: Lê [Đăng] Trinh (Quảng Trị),
Hồ Bá Ôn
(Nghệ An), Đỗ Thiện Kế, Phạm Xuân, Đỗ Huy Điển, Tạ Thúc Đĩnh (71).
Phạm Như
Xương, Nguyễn Hữu Chính, Đinh Nho Điển, Phan Du nguyên là hạng thứ trúng
cách trong bốn ḱ thi, được gia ân cho vào thi đ́nh. Nhưng ở ḱ thi đ́nh,
họ lại vượt lên, hầu như chiếm đầu bảng. Chen vào giữa hai đồng tiến sĩ
dẫn dầu danh sách này chỉ có mỗi một Đinh Văn Chất.
Có một điều
rất đáng lưu ư để suy nghĩ: trong mười bảy vị được trúng tuyển ḱ thi hội
và thi đ́nh này, về sau, có đến bảy vị là anh hùng, liệt sĩ (75).
Sau khi niêm
yết bảng kết quả, đầu tháng sáu nguyệt lịch, thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn
Tường liền được đổi bổ làm thượng thư Bộ Hộ, vẫn sung đại thần Viện Cơ mật,
kiêm quản lí công việc Nha Thương bạc (Nha Ngoại giao và Ngoại thương)
(74). Thượng thư Bộ Hộ Trần B́nh chuyển công tác sang Bộ H́nh, kiêm quản
cả Bộ Công giúp cho Phạm Ư (ông đang được phép về quê cư tang ba tháng)
(74).
Đó là một sự
sắp xếp lại nhân sự rất xứng hợp. Thượng thư Nguyễn Văn Tường rất vui mừng
v́ ông sẽ kiên quyết thực hiện cho bằng được kế sách mới về thuế ruộng đất
Đàng Trong – Đàng Ngoài để thực sự thống nhất Đất nước về chiều sâu và
thêm một bước lo toan cho nông dân nghèo khó, thiếu đất cày, bị địa chủ
bóc lột, phải lưu ly xiêu tán.
Sau những
công việc b́nh thường nhưng không phải không quan trọng ở những ngày tiếp
theo, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại quay trở lại với chủ trương ông rất
tâm huyết từ lâu là cải cách
thuế ruộng công, ruộng tư bằng nhau trên khắp Đàng Trong, Đàng Ngoài ấy.
Trong khi
chuẩn bị và chờ một thời điểm gần nhất để công bố văn bản, ông cùng các
quan trong bộ mới nhậm chức, các quan Viện – Bạc và các quan ở Bộ Công bàn
việc định lệ phái tàu thuyền đến các nước phương xa với mục đích mua bán,
lấy thu bù chi, đồng thời chú ư thăm xét, t́m hiểu t́nh h́nh ở các nước đó,
nhất là việc các nước Âu Mỹ (Phương Tây) đang hội họp với nhau (76) ở
nhượng địa Hương Cảng… Đó là một việc thường xuyên trước đây, nhưng lâu
nay tất cả sức lực đều chỉ giải quyết t́nh thế trong nước, nên bỏ bẵng.
Một việc khác thuộc Bộ Hộ là bắt đầu thu lại thuế thiếc, một loại hàng hoá
khoáng sản được khai thác từ các mỏ ở Vân Nam (Trung Quốc), trước đây
thường xuôi thuyền về Hà Nội trên tuyến sông Hồng để lại chở sang Quảng
Đông, với mức thuế thường niên lên đến bảy vạn ba ngàn (73.000) quan (77).
Đó là tuyến đường vốn từ lâu đă có, gần đây Jean Dupuis cố khai thác và
xem như một phát hiện mới! Và việc b́nh thường nhưng quan hệ đến mức sống
nông dân là nạn sâu bọ ở Hải Dương. Phạm Phú Thứ tâu về Bộ Hộ, Bộ Hộ tâu
lên vua, nhà vua quở trách các quan lớn nhỏ ở tỉnh ấy không tự chủ động
giải quyết nổi nạn thường gặp ấy, với thói tật và ngôn từ quân phụ (vua
cha) – thần tử (tôi con) rất hoàng đế của ḿnh (78)! Một sự kiện khác, tuy
nhỏ nhưng có tính chất chính trị – ngoại giao lớn, đó là việc khâm sứ Pháp
đến Huế (79). Nhưng sự lệ đón tiếp đă có Bộ Lễ (79) của thượng thư Lê Bá
Thận đảm trách.
Sau những vụ
việc b́nh thường nhưng không thể xem là không quan trọng ấy, thượng thư Bộ
Hộ Nguyễn Văn Tường được chuẩn y để công bố chủ trương cải cách thuế ruộng
công, ruộng tư bằng nhau trên khắp Đàng Trong, Đàng Ngoài (80):
“Cho thuế ruộng công, tư, từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, chiểu theo thuế lệ từ Quảng
B́nh trở vào Nam, bắt đầu từ năm sau.
[Trước
đây, từ] Quảng B́nh trở vào Nam, ruộng công [, ruộng] tư mỗi mẫu hạng nhất:
[lấy thuế là] bốn mươi (40) thưng thóc, hạng nh́: ba mươi (30) thưng, hạng
ba: hai mươi (20) thưng. Mà [trong khi đó, từ] Hà Tĩnh trở ra Bắc, ruộng
công hạng nhất: thóc thuế tám mươi (80) thưng, hạng nh́: năm mươi sáu (56)
thưng, hạng ba: ba mươi ba (33) thưng, [và] ruộng tư hạng nhất: hai mươi
sáu (26) thưng, hạng nh́ hai mươi (20) thưng, hạng ba: mươi ba (13) thưng.
[Như vậy,
qua sự so sánh, thấy rơ: thực trạng mức thuế ruộng công, ruộng tư chênh
lệch nhau ở Đàng Ngoài, từ sông Gianh trở ra,] so với [mức thuế ruộng công,
ruộng tư đều nhau ở Đàng Trong, từ sông Gianh] trở vào Nam [, th́ ở Đàng
Ngoài] ruộng công rất nặng [thuế], ruộng tư rất nhẹ [thuế]. [Do đó] cho
nên [cần phải] cho đều nhau [về thuế]” (80).
Tất nhiên,
kích thước để tính đơn vị đất ruộng cũng phải thống nhất (sào, mẫu đất
ruộng Bắc Bộ đương nhiên phải không khác sào, mẫu Trung Bộ).
Đó chính là
chủ trương cải cách thuế ruộng để thống nhất Đất nước về chiều sâu, ấy là
về nền tảng cơ bản nhất của xă hội nước ta, một xă hội trọng nông, xưa đến
bấy giờ đều khẳng định “nông vi bản”. Chính chủ trương được công bố trong
những ngày đầu tháng bảy năm Ất hợi (1875) là một trong những đề thi hội
vào cuối tháng sáu nguyệt lịch trước đó. Thăm ḍ ư kiến sĩ tử ưu tú nhất,
thấy họ đều biểu đồng t́nh với cách luận giải riêng rẽ nhưng đều vẫn chung
nhất, ngay lập tức thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường được chuẩn cho
chuyển đổi sang làm thượng thư Bộ Hộ, để thực hiện một chủ trương ông từng
ấp ủ nhiều năm.
Và từ khi
chủ trương này được thực thi, trong một vài vụ mùa sau, người ta nghe trên
những cánh đồng, dưới bao mái nhà nông thôn vang lên tiếng hát ca dao, chê
trách một cách sắc ngọt những “bà” địa chủ, những “ông” phú nông bóp nặn
bao tá điền, bao nông dân không c̣n một tấc đất cắm dùi:
“Từ nay tôi cạch đến già
Tôi không dám cấy ruộng bà nữa đâu
Ruộng bà vừa xấu vừa sâu
Vừa bé hạt thóc vừa lâu đồng tiền
Tôi về cấy ruộng công điền
Hạt thóc đă lớn, quan tiền trao tay”.
Nhưng rất
tiếc, mặc dù không phải không đúng, khi xảy ra việc người bạn đồng triều
của thượng thư Nguyễn Văn Tường cũng là giám khảo của cuộc thi hội, thi
đ́nh lần này lại gặp phải một sự cố, đành phải lạc chức. Nguyễn Tư Giản,
đang là thượng thư Bộ Lại, bị biện lí Tôn Thất Phan tâu hặc (81): Chính
quan Bộ Lại Nguyễn Tư Giản đă kí tên vào tờ đơn đóng ấn giả mạo, nộp ở Bộ
Lại, cùng với chữ kí tham tri Nguyễn Văn Thuư, thị lang Nguyễn Mậu Đạo! Tờ
đơn ấy lại là của tên xảo trá Phan Văn Nhă, một học tṛ của Nguyễn Tư
Giản! Ti Tam pháp cùng Nội các xét xử. Cả ba viên quan cùng Bộ đều bị
giáng, cách. Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản bị vua Tự Đức phê phán:
“Tư Giản thiên tư [:thiên vị],
dong túng, rất phụ ḷng tin yêu của trẫm, phải cách chức ngay, chuẩn cho
đến miền núi mộ dân khẩn hoang, làm việc chuộc tội” (81).
Thượng thư Bộ Lễ
Lê Bá Thận được phân công kiêm quản chức trách Nguyễn Tư Giản mới rơi khỏi
(81). Đó là một vụ việc rất đáng tiếc nhưng không phải không đúng! Biết
làm thế nào được! Phải “thượng
tôn luật pháp”.
Thượng thư
Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường đành tiễn chân Nguyễn Tư Giản ra Sơn pḥng Chương
Đức (huyện Ứng Hoà, huyện Mỹ Đức) thuộc tỉnh Hà Nội (82), với lời hi vọng
vào một ngày sớm nhất ông ấy lại về triều, để tiếp tục ủng hộ Nguyễn Văn
Tường trong việc thực hiện chủ trương rất tâm huyết, ấy là cải cách thuế
đất ruộng: thuế ruộng công bằng thuế ruộng tư, trên khắp Đàng Trong, Đàng
Ngoài.
10
Nha Thương bạc
nhận được liên tiếp hai văn thư của Phủ suư Pháp tại Gia Định do tên tướng
Duperré viết và kí tên, đóng dấu. Một văn thư về việc hỗ giao thương ước
Giáp tuất (83). Một văn thư khác, với nội dung phê phán tổng lí thương
chính đại thần Phạm Phú Thứ:
“Viên ấy không có ḷng tốt” (84)!
Việc tiến hành lễ
hỗ giao thương ước, vào giữa tháng bảy nguyệt lịch, năm Ất hợi
(26.8.1875), được tiến hành rất giản dị tại dinh Nha Thương bạc. Như vậy
cũng tiện cho Pháp và cả cho nước ta. Đầu tháng tám, Phạm Phú Thứ lại dâng
sớ xin từ chức, về triều! Hoá ra, Duperré cũng đă trực tiếp gửi bản văn
thư ra Hải Dương cho ông! Vua Tự Đức ra dụ, bảo Phạm Phú Thứ phải cố lưu
lại, hết sức nỗ lực giao hảo và làm việc cho xứng đáng với chức trách giao
phó (84).
Mặc dù đă hỗ
giao “hoà” ước lẫn thương ước Giáp tuất, Pháp vẫn muốn lấn ép triều đ́nh
nước ta trong việc bố trí quan chức cấp cao để chúng có thể thao túng về
thương chính. Đối với thượng thư Nguyễn Văn Tường, chúng càng quyết dùng
thủ đoạn để triệt hạ ông. Không những Nguyễn Văn Tường, Phạm Phú Thứ mà
một vài viên quan đầu tỉnh khác cũng thế, như tuần vũ Thuận – Khánh Lê
Đ́nh Tuấn, chẳng hạn. Bọn Phủ suư Pháp cho rằng Lê Đ́nh Tuấn và điển nông
sứ Phan Trung, qua một người Hoa là Trần Khai Kim, vẫn c̣n ngầm hỗ trợ
quân khởi nghĩa của Thủ khoa Huân (văn thân lục tỉnh vốn liên kết với
nhóm “người Thanh tóc dài”)
ở Nam Ḱ (85).
Rơ ràng tâm
địa của bọn Pháp là không bao giờ có thiện chí. Và triều đ́nh cùng các
quan ta cũng không bao giờ nguôi quên kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm là
Pháp, trong đó “tả đạo” Pháp là một lực lượng của chúng. Điều đó không một
ai ngây thơ để không biết. Ngay cả vua Tự Đức, một người cơ hồ như luôn
nuôi ảo tưởng về thiện chí của Pháp trong một số sắc dụ, cũng không phải
không nhận ra, có điều nhà vua không tiện nói thẳng, ngại chính ḿnh cũng
“thiếu t́nh hữu hảo (!)”, gây khích biến với Pháp.
T́nh h́nh
như thế, không thể khác hơn, nên triều đ́nh và các quan phải “hai mặt” (bề
ngoài vẫn làm ra vẻ “hữu nghị”, bên trong phải luôn chống cự thủ đoạn xâm
lược “tàm thực”, tằm ăm lá dâu của Pháp) để đối phó với chúng. Từ t́nh
h́nh đó, vua Tự Đức cho rằng từ nay, phải chú trọng việc tối cẩn mật (86):
Những tờ mật tâu của các quan, kể cả đ́nh thần, đều phải do Viện Cơ mật
lưu trữ bản gốc, sau khi Viện đă lược ghi một cách tóm tắt vào phiếu tâu.
Ngay cả đ́nh thần hoặc Nội các khi gặp việc đúng chức năng, cần xét nghĩ,
làm phiếu tâu, cũng phải đến tại Viện Cơ mật để nghiên cứu tại chỗ. Lệ này
được định lại khác với trước. Trước đây, những tập tâu mật rất quan trọng
này, có khi chỉ được lược ghi, xét nghĩ và lưu trữ bởi Nội các, không nhất
định ǵ cả. Phải định lại lệ bảo mật như vậy (86).
Có lẽ hai
tập sớ, tấu của Nguyễn Chính và Trương Quang Đản là đầu tiên theo lệ mới
định lại. Tập sớ của tổng đốc An – Tĩnh Nguyễn Chính tŕnh bày về số lượng
nhà dân trong cuộc nội chiến
lương – giáo Giáp tuất 1874
bị thiêu sát (đốt, giết) là khủng khiếp: chín ngàn lẻ năm mươi (9.050) hộ;
các hộ dân ấy xin chiểu lệ hoả hoạn cứu giúp, miễn thuế, cho khỏi trả thóc
vay (87)… Tập tâu của Trương Quang Đản về việc tổ chức lại, tăng cường
thêm về hệ thống sơn pḥng khắp nước
“tuy nói rằng để vững bờ cơi ta, thực
để pḥng bị mối lo không ngờ”
(88), đó là sự tấn công của Pháp.
Và như thế,
đâu phải “hoà” là để thúc thủ, đầu hàng từng bước.
“Hoà” là để thủ, thủ là phải chấn
chỉnh binh lực, cải cách
nội trị, và để canh tân công
nghệ. Tuy
nhiên, cả đ́nh thần không ai không biết về thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn
Thành, đến lúc này, ông ta lại trễ năi việc luyện binh (89). Vua Tự Đức
trách Bộ Binh của ông ta:
“Hiện nay việc binh là rất trọng yếu,
mà súng ống lại là đồ dùng cho việc binh trước nhất. Nên trước hết phải
luyện tập cho đều tinh thạo, khi cần đến mới mong được việc. Nếu có sai
phái [đi đến các nơi], cũng liệu để lại [để] học tập, đâu có thể uỷ cho
việc nhiều mà bổ [đi], không luyện tập được” (89).
Trong t́nh
h́nh cuộc chiến ngoại giao, thương mại đă bước đầu khởi sự, thượng thư Bộ
Hộ Nguyễn Văn Tường phải tâu xin định lại thật chặt chẽ điều lệ biên thu
thuế quan (90) trên mặt trận thương chính, đồng thời chuẩn bị công bố vào
tháng chín sắp tới về định lệ tâu báo theo ḱ hạn nhất định cho
Nha Thương chính (90):
“Mỗi tháng thuyền hạng nào xuất nhập bao nhiêu, thu thuế bao nhiêu, đến cuối
tháng làm bản tư về Bộ [Hộ, để Bộ Hộ] tŕnh lên [nhà vua] xem. Cả năm làm
bản tâu một lần. C̣n t́nh trạng đ́nh hay báo, kiểm thu, phát mại, khó hay
dễ, thường hay phức tạp, [phải] xét cho thực, không ẩn giấu. Từ sau, Hà
Nội, B́nh Định [nơi có cửa biển Thi Nại] cũng theo thế” (90).
Đó cũng là
cách để nắm chắc t́nh h́nh ở các sở thương chính, nơi cả bọn Pháp lẫn quan
ta cùng đối tác, làm việc theo theo
thương ước Giáp tuất 1874.
Và để khích
lệ việc canh tân, thành lập các cơ xưởng, tăng gia sản xuất các mặt hàng
dệt, nhuộm như nhung vải ở Hà Nội, các mặt hàng cơ khí như xe, thuyền,
đồng hồ, các sản phẩm công cụ cho nghề nghiệp (cày, khung dệt…), cả súng
ống và các loại khí giới khác ở các tỉnh trong nước, Bộ Hộ của thượng thư
Nguyễn Văn Tường đă tâu bày để có những lệ định được chuẩn và có các sắc
dụ ban ra:
“… Khuyên bảo dân xă Sam Cầu, người nào tinh xảo th́ tạm cấp cho ṭng cửu
phẩm, hộ trưởng th́ mộ dân lập hộ. Trong một năm dệt được tốt đẹp, hộ
trưởng được thưởng thụ ṭng cửu phẩm, hộ phu được miễn binh đao, thuế
thân. Cả năm mỗi tên nộp thay [thuế] bốn (04) thước [ta] nhung sợi” (91).
“Lập
xưởng thợ làm thành đồ, là để có lợi cho cả nước. Nước ta đồ dùng đều có
thể làm được, nếu biết hết ḷng t́m ṭi, nhân xấu đến tốt, th́ lo ǵ nghề
nghiệp không mở rộng mà cam chịu kém người… Phàm việc ǵ ích quốc lợi dân
th́ khuyên bảo sĩ dân trong hạt hết ḷng suy nghĩ, không chỉ các nghề dệt
nhuộm, nung đúc mà thôi. Phàm máy móc như xe, thuyền, súng, khí giới, đồng
hồ, cho đến các đồ dùng về cày, dệt, có thể bớt được sức người mà dùng
được tiện lợi, th́ hết thảy phải khuyên bảo người khéo. Có người có tài
năng th́ đều đem tâu lên, không cứ hạng người nào. Nếu muốn thân hiển vinh
để tiếng về sau, tính nghề ǵ thạo có thể giúp ích cho thực dụng, đều cho
không ẩn giấu; đợi lại xét thực thêm, tuỳ được ích lợi nhiều hay ít,
[triều đ́nh sẽ] liệu thưởng cho chức quan, để biết được khuyến khích…”
(91).
“… Từ
sau, phàm các tỉnh có tỉnh liên quan đến việc buôn [:thương mại] và các
việc giao thiệp [:ngoại giao] mà là khẩn cấp, th́ trừ việc rất trọng đại
quan ngại, tâu ngay đợi chỉ ra, c̣n th́ chuẩn cho được cùng ḷng dựng
nước, châm chước tuỳ theo t́nh thế, đều chiểu theo ước cũ trước, tuân theo
ư chỉ, làm cho thoả đáng, cốt phải trong yên, ngoài tin, rất có lợi ích.
Một mặt làm ngay cho kịp việc, một mặt tâu gấp để biết…” (92).
Trong các
lĩnh vực quốc kế dân sinh thuộc Bộ Hộ và ngoại giao thuộc Nha Thương bạc,
rơ ràng thượng thư Nguyễn Văn Tường đă tham mưu, tư vấn cho nhà vua, người
ở địa vị tập quyền cao nhất, bằng những phiếu tâu trên cơ sở những tấu, sớ
các địa phương gửi về với những kiến giải, đề xuất của bản thân. Tất cả
đều được bàn luận ở Viện – Bạc và ở những buổi thiết triều bàn việc nước,
trước khi trở thành định lệ và sắc dụ.
Có những điều
rất mới mẻ so với trước. Đó là ư thức tự hào không chịu thua kém nước
người trong sản xuất. Đó là quan niệm cũng là hướng mở trong việc lập thân
(lập đức, lập công, lập ngôn) bằng các nghề thực nghiệp chứ không chỉ tu
hành đắc đạo, làm việc thiện tận tâm, tận lực, thành công hiển hách trong
chiến trận hoặc trên chính trường, hoặc ở sự nghiệp văn sử từ chương. Quan
niệm về con đường tiến thân của kẻ sĩ, nhân dân không chỉ là khoa cử độc
đạo.
Có một điều
là triều đ́nh vẫn duy tŕ “hoà” ước Nhâm tuất
1862, nếu
các quan tự chủ động giải quyết, ứng xử trước t́nh huống cấp thời, nhưng
không quan trọng, khi chưa kịp tâu báo và chưa có sắc dụ chỉ đạo cụ thể.
Nh́n chung
là t́nh h́nh ít lâu sau khi “hoà” ước, thương ước đă được hỗ giao với sự
phê chuẩn của hoàng đế Đại Nam và tổng thống toàn quốc Cộng hoà Pháp là
thế. Đó là sự lấn ép của Pháp qua việc chúng yêu sách thay đổi quan chức.
Đó là việc triều đ́nh mở rộng quy mô sơn pḥng trên toàn quốc (trong sự
trễ năi của Trần Tiễn Thành). Đó là việc triển khai đối sách trong cuộc
chiến không tiếng súng, về ngoại thương và ngoại giao. Cuộc chiến ngoại
thương và ngoại giao? H́nh thái ấy là một loại h́nh chiến tranh chưa từng
có trước đó. Không phải cường điệu mà đấy là sự thực.
Nhưng lại
nổi bật lên là nguồn tin về tên giặc Cờ vàng Hoàng [Sùng] Anh đă bị bắt
sống bởi quan quân quân thứ Tuyên Quang, với sự hỗ trợ của quân nhà Thanh
do Triệu Ốc chỉ huy (93). Hoàng Anh là một trong vài tên tướng giặc Cờ
gian giảo và hung ác nhất. Y liền bị xử lăng tŕ bêu đầu, đóng ḥm thủ cấp
chuyển giao đến các tỉnh (93). Tuy vậy, t́nh h́nh phỉ ở biên giới bắc vẫn
chưa phải đă thanh toán hết!
Hết
tệp 11
(phân
đoạn 3 truyện kí thứ 8)
Khởi viết truyện kí thứ tám này
vào lúc khoảng 07 giờ sáng,
ngày 17.11.2002 (13.10 Nh. ngọ, HB.2).
Viết đến ḍng chữ cuối của
truyện kí thứ 8
lúc 16 giờ kém 10 phút,
ngày 30.11.2002 (24.10 Nh. ngọ, HB.2).
Sữa chữa xong vào lúc 15 giờ 24 phút,
ngày 04.12.2002 (01.11 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(60)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 60.
(61)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 61.
(62)
Nhiều
tác giả, Từ điển văn học
(TĐVH.), tập 2, Nxb. KHXH., 1984, tr. 49: quê quán Nguyễn Bỉnh Khiêm là
làng Trung Am, Vĩnh Lại, Hải Dương (nay là Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải
Pḥng). Theo chúng tôi, không ai khác, chính Nguyễn Bỉnh Khiêm là người
đầu tiên có ư tưởng chia cắt Đất nước ra làm ba: Cao Bằng thuộc hậu duệ
nhà Mạc, Đàng Ngoài thuộc vua Lê chúa Trịnh, Đàng Trong thuộc chúa Nguyễn.
Xin khẳng định như thế, nếu giai thoại về
“sấm kí Trạng Tŕnh”
là đúng với sự thật đă xảy ra trong cuộc đời Trạng Tŕnh. Hoặc, gạt đi
những huyền thoại thêu dệt, th́ sấm kí tiên tri Trạng Tŕnh không thể giải
thích cách nào khác, nếu không xem đó là nhận thức chính trị có tính dự
kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm, trên cơ sở t́nh huống hiện thực lịch sử khách
quan, và ông cũng phát biểu một cách khách quan, không có ư tưởng khuyến
khích việc chia cắt Đất nước, khởi đầu của bi kịch Sông Gianh và hậu quả
thảm khốc trong thời Tự Đức…
(63)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 196, 198 – 199.
(64)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 198.
(65)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 208.
(66)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 202.
(67)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 207.
(68)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 208.
(69)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 203.
(70)
Nguyễn
Bá Thế và Nguyễn Q. Thắng, Từ
điển nhân vật lịch sử Việt Nam
(TĐNVLSVN.), bản
in lần thứ 5, Nxb. Văn Hoá – Thông Tin, 1999, tr. 13, 551 – 552.
(71)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 208 – 209.
(72)
ĐNTL.CB., tập 30, sđd., 1974, tr. 186 – 188.
(73)
Tự Đức,
Tự Đức thánh chế văn tam tập,
tái bản với tên sách: Thơ văn
Tự Đức
(TVTĐ.), tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1996, tr. 372 – 380.
(74)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 221.
(75)
Những
chữ ghi tên họ in nghiêng có gạch dưới, hoặc in đậm. Phạm Như Xương có
tham gia khởi nghĩa Cần Vương (1885) và không được tin dùng dưới ngụy
triều Đồng Khánh (ngụy vương đầu tiên của triều Nguyễn, do Pháp dựng lên).
(76)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 213.
(77)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 217.
(78)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 218.
(79)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 214.
(80)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 220.
(81)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 220 – 221.
(82)
Quốc sử
quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt
truyện
(ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 251.
(83)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 222.
(84)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 224.
(85)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 236 – 237.
(86)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 222 – 223.
(87)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 222.
(88)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 226 – 227.
(89)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 224.
(90)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 223 – 224.
(91)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 230 – 231.
(92)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 231.
(93)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 225 – 226.
Soạn xong phần chú thích
vào lúc 19 giờ 24 phút,
ngày 06.12. 2002 (03.11 Nh. ngọ HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 11
(PHÂN ĐOẠN 3 TRUYỆN KÍ THỨ 8)
Xin xem tiếp TỆP 12
(phân đoạn 4 truyện kí thứ 8)