Tệp 10
PHÂN ĐOẠN 2 TRUYÊN KÍ
THỨ 8
TRẦN
XUÂN AN
CUỘC CHIẾN
NGOẠI GIAO
VÀ NGOẠI
THƯƠNG
Truyện kí thứ tám
(phân
đoạn 2)
4
Thơ BÁ TƯỚC K̀ VĨ
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
Nguyên đán tảo cứ Quảng Yên tuần phủ
Hồ Trọng Liễn mă đệ triệp tự quan binh đạp b́nh Phù Long phỉ sào, nhân chí
ḱ sự
1. Ngă hoàng
phủ thử chước khoan nghiêm
Thiên đạo
âm dương hỗ hiển tiềm
Hàn uy phủ
khước đông tiền lạp
Xuân dương
dĩ phổ đồng nhân chiêm
5. Lí đoan vạn
tượng chính tân sảng
Si mị tận
tiêu thiên nhật lăng
Đ́nh liệt
bái khánh sâm y quan
Thúc văn
tiệp tấu b́nh tặc đảng
Tu lai mă
đệ Quảng Yên đồng
10. Hỉ kiến biên
thần tự chiến công
Ngưỡng duy
miếu đường thụ thành toán
Kháp trị
thái vận phương hưởng thông
Ngă quốc
hải đông dữ Thanh tiếp
Nhất đới
cát đồ liên u chung
15. Thanh lại kế
cùng lân vi hác
Tŕ ngư vô
đoan tao bỉ hung
Thanh tướng
lưỡng lâm vô thốn hiệu
Đạn nan
chung thị di khấu sao
Ḱnh nguyệt
thố quật một gian xuất
20. Niên lai biên
manh khổ náo sao
Thuấn đức đản phu giác giă mê
Tự tây tự
đông ngật (cật) thanh giáo
Tranh nại
động đ́nh chướng kí thâm
Nan cách
nhĩ tâm dịch nhĩ mạo
25. Chu sư ninh
hoăn tiêm cừ khôi
Phù Long
nhất cổ thiên hiểm thôi
Tướng biền
dụng mệnh vô kiên địch
Thanh linh
hách trạc vơ công khôi
Kỉ công hựu
thích hành khánh điển
30. Phàm bách
nhung thần thị chi miễn
Thùy vị ba
đào bất khả khai
Vạn lí
trùng dương tương tận quyển
Văng phục
hóa cơ thuấn tức chuyển
Tương cơ
yếu tại lượng thâm thiển
35. Tự cương duy
thánh thể càn nguyên
36.
Ngu thần thiết nguyện sách nô khiển
(trại).
Tự
Đức nhị thập bát niên,
chính
nguyệt, nhị thập nhật,
thần
Nguyễn, phụng ứng chế.
Sáng sớm đầu năm,
theo tuần phủ Quảng Yên Hồ Trọng Liễn
(Đĩnh) qua các tập tấu sớ đệ tŕnh bằng ngựa về việc quân binh dẹp yên ổ
phỉ tại Phù Long, nhân đó ghi chép lại việc ấy
1. Vua vỗ yên
giặc, khoan và nghiêm
Đạo trời âm
dương, kín và rơ
Trước chạp,
oai lạnh đă xua đông
Ánh xuân
vốn rộng, dân ngẩng trông
5. Sửa trị vạn
điều, đúng, mới, sáng
Ma quỷ hết
sạch, ánh trời tươi
Lệ triều
lạy mừng, nghiêm áo măo
Chợt nghe
tin thắng, giặc vỡ rồi!
Bỗng ngựa
dâng ống, tấu Quảng Yên
10. Vui thấy
chiến công quân vùng biên
Ngẩng suy,
Triều đ́nh trao kế dẹp
Vừa gặp vận
tốt, vinh nối liền
Nước ta
biển đông kề biển bạn
Chung ngọn
cỏ bùn tiếng chuông chung
15. Thanh cạn,
láng giềng thành hang hốc
Cá ao vô cớ
gặp ác ngông!
Tướng Thanh
hai lần không chút thắng
Ngại khó,
rốt cùng sót giặc cắn
Hang ḱnh
lỗ thỏ cướp phục hầm
20. Năm trước,
dân ải qua, gào đắng!
Đức Thuấn
lắm lừa?! Mê là tỉnh!
Vắng tiếng
dạy khuyên, đông sang tây
Sao tranh
sân, rào? Đành khắc đậm!
Khó đổi dạ
mày, khuôn mặt mày!
25. Quân ta hoăn
diệt đầu mục sao?
Tiếng trống
Phù Long muôn hiểm: Nhào!
Tướng vơ
tuân lệnh, hết giặc mănh
Oai giọng,
rửa hờn, lừng công cao
Ghi công
đúng dịp mừng khánh lễ
30. Trăm quan
được rơ, thêm mạnh kế
Ai bảo sóng
to không thể êm?
Bể vạn dặm
cuốn cùng sạch bể!
Qua – lại,
máy huyền, chuyển chớp mắt
Thế cơ, lẽ
trọng ở nông sâu
35. Nghĩ trong
giới hạn: Càn – thánh thể
36. Tôi mong quất tôi, ngựa đua lâu.
Ngày 12 tháng giêng năm Tự Đức thứ 28
(1875),
thần: Nguyễn, kính cẩn đáp lại bài thơ
của nhà vua (34).
Hạnh Thúy Vân sơn
1. Thúy Vân hà
xứ thị
Đột ngột
quần phong tiền
Quần phong
nhất tề hạ
Độ thủy độc
hoành phiên
5. Hành cung
bàng ḱ trắc
Linh tích
trĩ ḱ điên
Đôi nhiên
ngọa thạch lăo
Sâm nhiên
cổ (a) mộc tiên
Lục âm vô
hạ thử
10. Thúy sắc hữu
xuân yên
Điểu ngữ
thần chung minh
Tịch dương
mê (mi) lộc miên
Hoàn liệt
mạc phỉ sơn
Thúy Vân hà
ḱ nhiên
15. Thẩn hữu thần
thao chu
Nhất hoằng
thanh thả nghiên
Thừa hứng
phục đăng lâu
Nhất đới
lạc b́nh điền
Mỹ tai danh
thắng địa!
20. Thần du lịch
hữu niên
Ngự kiều
liễn lộ xứ
Cửu dĩ tĩnh
trần quyên
Phùng kim
hạ ngũ nguyệt
Tích (b) dư
nguyệt phục viên
25. Thiên tử mệnh
duyệt vũ
Chu sư hàm
tỉ kiên
Triêu phát
Hương Giang tân
Tiền hậu
như thiền liên
Văn khai
Thuận Trực áp (sạp)
30. Thiều thiều
vân thủy thiên
Vạn trạo
phù trung lưu
Quân khí mộ
ích kiên
Chu khinh
phong tự sinh
Phong vi thủy tự liên
35. Thúy Vân tiệm
giác cận
Ngật lập
như trữ diên
Đăng hoa
thủy tạ măn
Nhiêu (nghiêu)
tử nghỉ lâu thuyền
Tiên trượng
quang như họa
40. Bồng đảo bất
tiêu thiền.
(a) Phụng
châu điểm.
(b) Phụng châu điểm.
Nhà
vua đi thăm núi Thúy Vân
1. Nơi đâu là
Thúy Vân
Riêng vút
giữa dăy trước
Dăy núi,
thấp một lần
Vượt nước,
một núi văn
5. Cạnh hành
cung, chênh chếch
Dấu đỉnh lẻ,
linh san!
Đá xưa
chồng, nằm vững
Cây cổ (a)
rậm đẹp ngàn
Bóng xanh
không nắng hạ
10. Sắc biếc ngút
khói xuân
Lời chim,
chuông sớm vang
Nắng chiều,
hươu nai ngủ
Không phỉ
núi, quân giăng
Thúy Vân!
Thúy Vân!
–
mây biếc – sao biếc thế!
15. Thuyền thao
luyện có tâm
Nước sâu,
trong một vẻ
Lên lầu,
hứng càng nhân
Một dải
rơi: ruộng bằng!
Đẹp quá nơi
danh thắng!
20. Năm nay vua
hoài thăm
Đường vua,
cầu vua sang
Đă lâu sạch
bụi lá
Gặp nay
tháng năm hạ
Dấu xưa (b)
lại tṛn trăng
25. Lệnh duyệt
quân, vua ban
Sánh vai,
thế lính vững
Sớm, từ bờ
Hương Giang
Đàn ve:
tiền, hậu quân!
Chiều, mở
đập Thuận Trực
30. Trời, mây,
nước mênh mang
Vạn chèo
trên ḍng lướt
Hùng khí
chiều hiên ngang
Gió tự
sinh, thuyền vút
Gió khẽ,
sóng tự lan
35. Dần đến gần
Thúy Vân
Núi đứng
nghiêm đợi đón
Thủy tạ đèn
hoa giăng
Ghe tiều
ghé thuyền tầng
Như tranh,
gươm bụt múa
40. Đảo Bồng:
thiền không tan! (35)
5
Trước khi
duyệt binh, quan Bộ Binh Trần Tiễn Thành đă khỏi hẳn bệnh lị hay cũng
thuyên giảm nhiều. Trong ngày đầu năm mới, ông cũng đến chúc tụng vua và
đọc thơ ngự chế (36). Sau đó, hai lần ông ta bái tạ khiến vua Tự Đức rất
áy náy (37). Trần Tiễn Thành vẫn là vị quan, lạ lùng thay, lại được nhà
vua sủng ái nhất!
May thay,
những ngày Tết Nguyên đán với tin chiến thắng (38) và tiếp đến là sự chuẩn
bị cho cuộc duyệt binh lớn (39) sẽ rất hào tráng đă lấy lại sự phấn chấn
cho kinh đô Huế.
Giữa tháng
giêng Ất hợi (1875), thượng thư Nguyễn Văn Tường, thượng thư Nguyễn Tư
Giản đều hơi thất vọng khi biết linh mục Nguyễn Hoằng vẫn không dịch được
những từ ngữ khoa học – công nghệ từ tiếng Pháp, các tiếng Âu Mỹ khác, và
cả giám mục Đăng (Dangelzer) cũng thế (40). Quả thật, đây là một khó khăn
có thật trong t́nh h́nh chung của sĩ phu vốn rất khinh bỉ lẫn ác cảm với
ngôn ngữ Tây phương! Đến lúc cần mở rộng tầm nh́n và cần phải học tập Tây
học, lại vấp phải hàng rào, chướng ngại vật là ngôn ngữ Tây, nên có những
lúng túng, thiếu chủ động.
Cũng khoảng
giữa tháng giêng Nam lịch, Ông Ích Khiêm mới ra kinh đô lănh lại chức
trách cũ. Ông vẫn được giữ chức tán tương quân thứ ở Bắc Ḱ. Đến nay, Ông
Ích Khiêm đă khoẻ hẳn, căn bệnh tâm hoả, hay c̣n gọi là bệnh lo phiền, đă
thật sự khỏi. Vua “lại thấy Ích
Khiêm vốn hăng hái mà vô lễ, nhân đấy răn rằng: “Người ta có lễ th́ yên
tâm chăm đọc thi thư, mới làm [được] nho tướng”” (41).
Giọng điệu hoàng
đế đối với bầy tôi bao giờ cũng thế!
Trong những
ngày Ông Ích Khiêm đợi chỉ dụ, chưa ra Bắc, các đại thần, đặc biệt là
thượng thư Nguyễn Văn Tường, có nhiều lần gặp gỡ thân mật, chuyện tṛ hỏi
han Ông Ích Khiêm, một thần đồng đă đỗ cử nhân từ năm mười lăm tuổi, được
vua Thiệu Trị vời vào đại nội, ban thưởng, thử lại sức học và tài làm thơ
(42). Ông Ích Khiêm là một danh tướng không kém thua Tôn Thất Thuyết.
Trong các lần ấy, Nguyễn Văn Tường thường cùng Ông Ích Khiêm ôn lại những
năm tháng cùng quân thứ, có nhiều trận sát cánh cùng nhau tiễu phỉ.
Ở Viện Cơ
mật – Thương bạc, thượng thư Nguyễn Văn Tường c̣n có đủ những tin tức trên
cả nước và cố nhiên, không thể thiếu tin tức về Bắc Ḱ, việc thương chính
cũng như quân thứ. Ông chỉ hơi ngại Ông Ích Khiêm và Tôn Thất Thuyết sẽ
khắc tính nhau, v́ cả hai danh tướng này đều rất giỏi về thao lược, không
ai chịu bị ai chỉ huy! Nhưng dẫu sao, Ông Ích Khiêm đă có bên cạnh là tổng
lí đại thần Phạm Phú Thứ, án sát Ma Xuân Vinh. Đang suy nghĩ về Tôn Thất
Thuyết, thượng thư Nguyễn Văn Tường liền nhận được lệnh dụ của vua Tự Đức
cho Nguyễn Uy (Oai) giải chức (43) v́ toán giặc ở Bắc Ninh chưa dẹp nổi,
hai đoàn giặc Cờ đă quy thuận của hai tên họ Chu, họ Triệu lại làm phản
(43). Đó là quyết định của vua sau khi Viện – Bạc và Bộ Binh tâu tŕnh về
t́nh h́nh trong tháng trước. Đồng thời Vua Tự Đức cũng đă quyết định đổi
bổ tham tán Tôn Thất Thuyết làm tuần phủ, hộ lí tổng đốc Ninh – Thái, kiêm
tổng đốc các việc quân bốn tỉnh [Bắc] Ninh – Thái [Nguyên] – Lạng [Sơn] –
[Cao] Bằng (43). Chức trách của Tôn Thất Thuyết rất lớn và quyền hạn rất
rộng, cả về dân chính cũng như về quân thứ. Vua lại cho Bắc Ninh đang phải
việc khẩn cấp, nên đặt thêm tuần phủ Bắc Ninh, và bổ Phạm Thận Duật thăng
thụ chức ấy (43). Không lâu sau, tham tán thuộc tôn thất lại tâu vào một
cách khiêm tốn: “Học thức ít,
bệnh tật nhiều, xin vẫn theo chức cũ” (43).
Vua liền liền tham
khảo ư kiến Viện – Bạc, và ban dụ:
“Trẫm đă xét rơ cả rồi, tất phải quân
thứ và tỉnh hợp nhất, việc và quyền mới chuyên. Ở Sơn Tây [Hoàng Tá Viêm]
cũng thế. Huống chi lại đặt thêm tuần phủ [Phạm Thận Duật], đủ để làm được
việc […]. Ngươi nên cố gắng, nghĩa không nên từ. Chớ để trẫm lo nhục”
(43).
Ở Bắc Ḱ c̣n
có vụ tiến sĩ Phạm Văn Nghị, một kẻ sĩ yêu nước, rất căm thù giặc Pháp,
nay bị bọn Pháp làm sức ép, nên phải đi ở ẩn. V́ tuổi Phạm Văn Nghị cũng
đă già, vua Tự Đức đành biếu tặng ông một trăm lạng bạc, không nỡ trách cứ
việc ông đánh Pháp thất trận ở đồn Độc Bộ (Nam Định) (44).
Tháng hai
nguyệt lịch, lại xảy ra một việc rất trầm trọng v́ phát hiện được một
trường hợp không ngờ. Đó là vụ Vũ Duy Trinh (45). Giám sát ngự sử Chu Duy
Tĩnh (thân sinh của Chu Mạnh Trinh (46)) tâu hặc y nguyên là một thống
lănh ngụy, đă ra đầu thú, lại được lục dụng làm bang biện ở Hải Dương, dần
dà y thăng đến chức viên ngoại lang Bộ Công. Có điều
“xem ngôn ngữ cử chỉ hắn không giống
sĩ phu, huống chi lại nịnh nọt, đưa đón, tài giỏi của kẻ tiểu nhân, quân
thứ tạm cho chức tán tương, Bộ Lại dâng tờ tâu cho dự hàng án sát!… [Hắn]
đă bị nguyên thống đốc Lê Bá Thận nêu hặc. Vua chuẩn giao cho Bộ Binh xét
lại. Bộ Binh vẫn để tŕ trệ. Bộ Lại làm tờ tâu chỉ tŕnh bày là sĩ nhân ở
Hải Dương, giấu việc theo giặc” (45).
Và v́ vậy, y bị
tước hàm chờ xét; hai bộ Lại và Binh (Nguyễn Tư Giản và Trần Tiễn Thành)
bị giao cho Nội các xét xử (45). Đ́nh nghị: Vũ Duy Trinh phải bị cách
chức, cho y đi làm việc chuộc tội ở sơn pḥng Quảng Nam. Cuối cùng, y bị
xử chém v́ đă bị phát hiện thêm, khi ở Hải Dương, y c̣n mưu việc cướp bóc
(45)! Thật là một vụ án động trời!
Triều đ́nh
vào những tháng đầu năm Ất hợi (1875) đă dồn dập bao chuyện vui buồn!
Thượng thư
Bộ H́nh Nguyễn Văn Tường có một niềm vui riêng của ḿnh cũng là niềm vui
chung của Bộ, đó là những dự kiến trong năm về cải cách một số điều khoản,
sửa định luật lệnh nói chung đă được đ́nh thần bàn nghị, và nhà vua duyệt
y, chuẩn cho thi hành. Nhất là vào hạ tuần tháng ba,
“Hưng Yên, Thanh Hoá theo lệ (tiết
đông rét theo lệ có cấp phát), trích tiền nộp chuộc tội phạt roi, phạt
trượng, cấp cho tù phạm, [thông] tư Bộ [H́nh] làm phiếu tŕnh lên. Vua y
cho nhưng phê bảo rằng: “… Ngoài ra chớ quá lạm. Đều [trích] lục, sức
[:truyền] cho biết cả”” (47).
Điều đó với thượng
thư Nguyễn Văn Tường là niềm vui thật ngọt ngào trong công tác.
6
Tháng ba
nguyệt lịch, ngày mậu tuất trong tháng, trời đất bỗng tối sầm như Khâm
thiên giám dự tính:
Nhật thực
(48)!
Mười một
tháng ba Nam lịch (14.04.1875), theo thư thông báo của Nước Cộng hoà Pháp,
của Phủ suư Gia Định, và với sự đồng ư của triều đ́nh nhà Nguyễn, lễ hỗ
giao “hoà” ước Giáp tuất 1874 được cử hành tại kinh đô Huế (49). V́ thế,
ḱ thi hội năm nay phải đ́nh hoăn (50).
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường, Ḱ Vĩ bá, nguyên phó sứ, được phong làm khâm phái đại
thần, cùng với thượng thư Bộ Công Phạm Ư, sung làm phó khâm phái, đă đón
tiếp sứ bộ Pháp do bá tước thiếu tá hải quân Brossard de Corbigny (Ba Long
Bô) dẫn đầu, Regnault de Premesni (Lê Nho) làm phó sứ. Đó là buổi lễ đại
diện hai nước trao cho nhau “hoà” ước Giáp
tuất 1874,
bản “hoà” ước đă được hoàng đế Tự Đức và quốc trưởng (tổng thống toàn
quốc) Pháp phê chuẩn. Và “hoà” ước bắt đầu được tính thời hiệu từ ngày đó.
Buổi lễ được
tổ chức hết sức long trọng trước sân bên ngoài lầu Ngọ Môn (49), bên trong
kinh thành Huế.
Sau đó là
nghi thức lưu niệm ngoại giao, hai bên trao tặng các thứ quà biếu của hai
nước cho hoàng đế và quốc trưởng cũng như các quan chức tham dự vào việc
kí kết, hỗ giao “hoà” ước Giáp tuất 1874. Tất nhiên trong đó có quà tặng
bằng khánh vàng cho “tướng mới
Du Bi Lê [Dupré], một chiếc; lại nghĩ Du Bi Lê năm trước đă sung làm tướng
cũ, [lại] tặng riêng [thêm] một chiếc” (49),
thành hai!
Có một điều
rất lạ là tên tướng Pháp Dupré, sau một thời gian về nước, tên tướng
Krantz thay, nay y lại đổi tên (?) là Duperré, qua Gia Định tiếp tục làm
thống đốc Nam Ḱ lục tỉnh.
Sau lễ hỗ
giao, sứ bộ Pháp được vào triều yết. Đối với nghi lễ nước ta, việc cho sứ
thần nước ngoài được triều yết là một sự lệ đặc biệt, tỏ sự ưu ái về ngoại
giao. Hôm ấy, trong lúc thân phiên, đ́nh thần đang nghiêm trang tham dự
buổi lễ, có lẽ không nén được ḷng ṭ ṃ, hiếu ḱ v́ lần đầu trông thấy
người Pháp, nên Ṭng Hoá quận công Miên Trữ, Trấn Tĩnh quận công Miên Dần
và hai viên tri huyện kinh sư khác
“cúi xuống nḥm trông” (51), “ngẩng
trông, nói nhỏ, cười sẽ” (51).
Chẳng qua, vốn lâu nay trong hoàng tộc, quan chức, dân gian cũng ít người
có dịp gặp gỡ người Âu Mỹ, “da
bạch tạng, tóc râu ngô, mắt xanh, mũi lơ”,
nhất là không thể
có dịp đứng gần để nh́n cho thật rơ da dẻ mắt mũi họ! Vả lại, mặc dù từ
lâu trong nước ta đă có bóng dáng các cố đạo Tây dương, nhưng thật ra họ
chỉ được tiếp xúc rất hạn chế, hầu như chỉ với giáo dân.
Khi chấm dứt
nghi lễ triều yết, bốn vị ấy và những quan chức, hoàng thân có chức trách
liên quan hoặc liên hệ gia đ́nh liền bị vua Tự Đức quở trách và giáng
phạt, v́ thiếu lịch sự tối thiểu, khiến sứ thần Pháp có thể chê cười người
Việt ta về cung cách giao tiếp (51)!
Dẫu sao, lễ
hỗ giao “hoà” ước Giáp tuất 1874 cũng hoàn tất.
Dĩ nhiên,
một cách rất ngẫu nhiên, tháng ấy, vào ngày mậu tuất, hiện tượng thiên văn
nhật thực đă xảy ra. Trong dân gian có lắm người giải thích một cách thần
bí, ngây ngô, nhưng không phải sai lầm trong thực tế, rằng Đất nước đang
bị ma quỷ ám chướng! Hiện thực lịch sử và hiện tượng thiên văn theo cái
nh́n thần bí, một đôi khi, lại trùng hợp, mặc dù chỉ t́nh cờ.
Đối với vua
Tự Đức, triều đ́nh, quan lại và sĩ phu, trước ngày hôm nay một năm hai
mươi chín ngày (15.03.1874), tại Gia Định, quả thật, là một ngày quốc hận
thứ hai, sau ngày kí kết “hoà” ước Nhâm tuất (05.06.1862). Lễ hỗ giao này
chỉ là chính thức hoá ngày quốc hận ấy mà thôi. Và thế là trận chiến ngoại
giao, thương mại đă đến ngày diễn ra trên cả nước, nhưng chủ yếu là ở
tuyến sông Hồng và các cửa biển phải mở cửa, mở cửa trong vận bỉ của dân
tộc. Bấy giờ, triều Nguyễn, kẻ
sĩ và toàn thể nhân dân ta hẳn không ngờ Tổ quốc c̣n lắm ngày quốc hận,
măi cho đến một trăm năm sau (ba mươi tháng tư, một chín bảy lăm:
30.04.1975), non sông mới thống nhất thành một mối!
Sau khi tiến
hành lễ hỗ giao xong, Brossard de Corbigni và Regnault de Premesni c̣n ở
lại tại Sứ quán Huế, nơi gần sông An Cựu (52), để cùng hai khâm phái đại
thần Nguyễn Văn Tường, Phạm Ư bàn định một văn bản quy ước về phạm vi hoạt
động và chức năng giới hạn của khâm sứ Pháp tại kinh đô nước ta.
1.
“Xe ngựa, vơng
lọng của khâm sứ nước ấy giống như tham tri nước ta.
2.
Khâm sứ nước
ấy đóng ở nước ta không phải nộp hạng thuế lệ nào.
3.
Người nước ta
không được tự tiện dự việc ǵ trong dinh thự viên khâm sứ ấy; bộ thuộc của
viên ấy cũng không được tự tiện dự vào việc ǵ ở dinh thự các quan nước
ta.
4.
Người theo hầu
của khâm sứ nước ấy hoặc can phạm khoản ǵ, ta bắt giao cho viên khâm sứ
[để] theo lẽ công bằng xử trị.
5.
Văn thư của
viên khâm sứ ấy giao cho người nước ta, không được bóc ra tự tiện xem.
6.
Khâm sứ nước
ấy đến công thự của Thương bạc đại thần, phải đưa giấy thông báo cho biết.
7.
Nước ấy đưa
thư cho nước ta, [nếu nội dung thuộc về] việc nước ấy, do khâm sứ ấy xét
trước, chuyển sang; [nếu nội dung thuộc về] việc nước ta, do viên lănh sự
nước ta [tại Gia Định] xét trước, chuyển sang.
8.
Tham biện của
khâm sứ ấy bằng lang trung nước ta, kí lục bằng tư vụ.
9.
Quan đại thần
đóng ở kinh [đô] của hai nước, làm việc công ǵ, đều chiểu theo lễ tục
nước ấy.
10.
Sắc thư nước
ấy đưa đến cho đại viên đóng ở kinh thành nước ta, th́ đại viên ấy phải
mặc triều phục bưng đến giao cho Thương bạc đại thần nước ta xem xét.
11.
Khâm sứ nước
ấy mua gỗ làm dinh thự, thứ nào là hạng cấm, không được mua bán.
12.
Người theo hầu
của khâm sứ ấy không được tự tiện vào trong kinh thành, [kể] cả nơi cấm ở
ngoài thành.
13.
Nước ta đặt
quan lănh sự đóng ở Gia Định, cũng giống như với các nước đặt ra.
14. Binh
thuyền nước ấy đến cửa biển Thuận An, th́ chiểu theo khoản thứ hai mươi
sáu (26) của thương ước đă định (không được quá một chiếc thuyền, không
được chở binh khí)”
(53).
Văn bản quy
ước này dẫu không thật quan trọng, nhưng cũng phải tranh luận rất gay gắt
để giữ được quy cách làm việc của quan chức hai bên lẫn vẻ tôn nghiêm và
thể thống của kinh đô một Đất nước có chủ quyền.
Trong những
ngày sau đó, tại Hải Dương, triều đ́nh đồng ư cùng người Pháp tạm làm dinh
thự Sở Thương chính (54). Và Sở Lănh sự Hà Nội cũng như vậy, tại khu vực
Đồn Thuỷ thuộc tỉnh cố đô. Bởi thương ước Giáp tuất chưa làm lễ hỗ giao
với sự phê chuẩn của vua Đại Nam và tổng thống Pháp, nghĩa là chưa có hiệu
lực (thời hiệu), nên vật liệu chỉ là tre tranh, địa điểm cũng tạm thời,
không phải Đồn Thuỷ mà là Trường thi Hà Nội (54).
Trước đó,
nguyên là phó sứ rồi chánh sứ, trực tiếp bàn định, kí tên, đóng dấu vào
hai cưỡng ước “hữu nghị” và thương mại 1874, nay thượng thư Nguyễn Văn
Tường hiện đang kiêm quản Nha Thương bạc, do đó ông phải theo dơi, chỉ đạo
việc kí kết quy ước giữa Trần Đ́nh Túc và Varaigue (tổng chỉ huy lực
lượng viễn chinh Pháp tại Nam Ḱ) vào cuối năm Giáp tuất (11.01.1875), về
địa điểm xây dựng Lănh sự quán Pháp tại Hà Nội (55). Địa điểm quy định là
“vùng Đồn Thuỷ, ven sông Hồng”. Nhưng rồi Lănh sự quán Pháp lại tạm đặt
tại Trường thi tỉnh cố đô, mặc dù cũng phải có thêm một quy ước về chỗ
đóng tạm này, sẽ kí kết giữa Trần Hy Tăng và Brionval (đại diện của
Varaigue) vào ngày 30.05.1875 (55), tức là mười sáu hôm sau ngày làm lễ hỗ
giao cưỡng ước “hữu nghị” Giáp tuất tại Huế (14.04.1874).
Việc thành
lập, xây dựng Sở Thương chính Hải Dương, Lănh sự quán Pháp tại Hà Nội và
Sứ quán Pháp tại kinh đô Huế trong thực tế không phải là việc đơn giản.
Không đơn giản là bởi, trong quan hệ ngoại giao ngh́n xưa đến nay, giữa
nước ta và các nước châu Á Tế Á (Asia) cũng như các châu lục khác, không
hề có việc chấp nhận khâm sứ, lănh sự. Không kể một ngh́n năm bị Tàu với
các thái thú chiếm đóng, bóc lột. Không kể thời Hồ Quư Ly để mất nước vào
tay nhà Minh Trung Hoa. Từ khi Ngô Quyền mở ra kỉ nguyên độc lập, từ khi
Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh đến nay, ngay cả đối với “thiên triều” (!),
nước ta cũng không chấp nhận có khâm sứ, lănh sự Trung Hoa thường trú trên
Đất nước ḿnh, chứ đừng nói việc thành lập Nha Thương chính Pháp – Việt!
Sở Thương chính là ǵ? Thực chất đó là cơ quan hải quan và thuế vụ. Can cớ
ǵ người Pháp lại đóng vai tṛ song song với người Việt ta trong lănh vực
ấy, vốn thuộc chủ quyền nước ta? Thực chất, đó là sự nhân nhượng. Ta chấp
nhận cho Pháp cùng ta chia đôi thuế thương chính để bù vào số tiền “bồi
thường chiến phí” ngạo ngược, kể cả “bồi thường” cho Tây Ban Nha! Nhưng
thuế ấy không chỉ đánh vào tàu thuyền xuất nhập khẩu của người buôn Việt
mà cả người buôn Hoa, Pháp, Đức, Anh và nhiều quốc tịch khác. Mới xem qua,
thấy Pháp đâu bóc lột ǵ người Việt, mà chỉ thu thuế của khách thương
không phải người Việt. Thực chất, mọi nguồn thu thuế ngoại thương từ các
khách thương bất ḱ nước nào đến buôn bán trên nước ta đều thuộc chủ
quyền, sở hữu nước ta, mà người Pháp đă dùng bạo lực súng đạn và sức mạnh
thập giá “tả đạo” để cướp lấy. Cửa hải quan và nguồn thu thuế ngoại thương
từ ngàn xưa trên nước ta đă được tổ chức, thực thi. Đâu phải mới mẻ ǵ!
Vấn đề là tại sao cửa hải quan và trạm thu thuế ngoại thương hiện tại lại
có sự hiện diện của Pháp và chia đôi với Pháp!?!
Vấn đề là
thế đó! Đă bị bức chiếm, bị bức ước, phải đành đoạn mất đứt, mất “vĩnh
viễn” (!) Nam Ḱ lục tỉnh, ấy là cả một nỗi phẫn hận lớn và khôn nguôi.
Lại c̣n bị một thực trạng đau xót thường xuyên đập vào mắt: Dinh Khâm sứ
thường trú (tại Huế), Sở Lănh sự thường trú (tại Hà Nội, lại có một trăm
[100] tên lính Pháp bảo vệ đóng đồn) và Sở Thương chính thường trú Việt –
Pháp (tại Hải Dương, cũng có một trăm [100] tên lính Pháp), thu thuế chia
đôi! Đó là cả một sự bạo ngược phi lí về phía Pháp, là một sự nhân nhượng
đến mức phải nói là nhẫn nhục, quá đỗi đau xót về phía Đại Nam. Chính v́
sự thể đó, nên sĩ phu, nhân dân, quan chức, triều đ́nh và cả vua Tự Đức
đều thấy bị xúc phạm, bị cướp bóc trắng trợn, trắng trợn một cách công
nhiên, ngay trên phần lănh thổ c̣n lại thuộc vương quốc Đại Nam (từ B́nh
Thuận đến Cao Bằng)! Đă thế, bọn thực dân Pháp vẫn cứ t́m đủ cách, đủ mánh
khoé để lừa đảo, bắt bí, lấn ép các quan tỉnh, Nha Thương bạc, triều đ́nh
Huế từng chút một.
V́ vậy, vấn
đề mới xem qua là rất đơn giản, nhưng thực chất không đơn giản chút nào.
Những quy ước về địa điểm đóng Sứ quán, Lănh sự quán và Sở Thương chính
(c̣n gọi là Sở Thuế đoan) diễn ra không đơn giản v́ thế!
“Sách lược thoả hiệp tạm thời”,
hay theo cách nói của vua Tự Đức và đ́nh thần,
“dùng người Man đánh người Man”,
có nghĩa là dùng người nước Thanh đánh người nước Thanh (tiễu phỉ), dùng
người Pháp để đánh bọn tay sai ôm chân Pháp
(“phù Lê”, “tả đạo”),
có thể kể cả việc
thuyết phục tên thực dân trí thức ít nhiều c̣n nhân bản là Philastre nhằm
ngăn cản bọn Pháp, để dập tắt nguy cơ thù trong, giảm bớt nguy cơ giặc
ngoài. Sách lược ấy phải đành trả giá khá đắt như vậy đó. Trong sách lược
này, vai tṛ “hiệp sĩ phi chính phủ, hành đạo trừ tà” Lưu Vĩnh Phúc rất
đáng kể. Sách lược ấy là đối sách vừa nhằm mục đích thanh toán thù trong
vừa không gây khích biến với hai thế lực Pháp và Trung Hoa, một đang xâm
lược trắng trợn, một đang liên minh nhưng có nguy cơ lật lọng, nguy cơ đầy
đe doạ là sẽ “ăn chia” với Pháp! Hơn ai hết, thượng thư Bộ H́nh Nguyễn Văn
Tường, đại thần Viện – Bạc, trực tiếp kiêm quản Nha Thương bạc, thấm thía
những khó khăn và nỗi đau nhân nhượng ấy, nhưng ông cũng tự hào phần nào
khi sách lược “dùng người Man đánh người Man” có hiệu quả thực tế: các lực
lượng xuẩn động ở Bắc Ḱ dần dần im bặt, sau khi mười hai ngàn (12.000)
tên “lính bản xứ” cùng hàng trăm tên khác, cỡ như ngụy tổng đốc thợ rèn
tên Trương, bị rơi vào thế “tự
lật tẩy”.
Tháng ba Ất
hợi, Khâm thiên giám đă dự đoán sẽ xảy ra nhật thực!
Quả thật,
đúng như thế. Mặt trời bỗng dưng tắt hẳn. Đất trời bỗng dưng tối sầm.
Thượng thư
Nguyễn Văn Tường b́nh tâm nh́n nhận, cân nhắc lại hai cưỡng ước “hữu nghị”
và thương mại Giáp tuất 1874: Được những ǵ và mất những ǵ? Tất nhiên,
phía ta, không ai lại không đau ḷng khi kí kết hai cưỡng ước như thế! Tất
nhiên, không ai chấp nhận cái gọi là cưỡng ước trong một t́nh h́nh khác,
thuận lợi hơn và sáng sủa hơn, ấy là không có giặc Cờ, thổ phỉ, hải tặc,
“phù Lê”, “tả đạo” ở Bắc Ḱ, và binh lực ta hùng mạnh hơn. Năm Tự Đức thứ
hai mươi mốt (1868), khi c̣n làm việc chuộc tội với chức năng khâm phái ở
huyện Thành Hoá, được gia hàm thị độc học sĩ để sung vào sứ bộ dự định
sang Pháp và các nước châu Âu, Nguyễn Văn Tường đă chẳng phản đối quyết
liệt, đồng thời vạch trần âm mưu Pháp lừa ta ngồi vào bàn “hoà” nghị đó
sao (56)?
Trong t́nh
thế ngặt nghèo, bị bức bách, sự chuyển nguy làm yên, chuyển bại hẳn thành
thắng lợi với chừng mức nhất định, chỉ đến thế, nhưng ông tự nhủ đă gắng
gỏi hết sức ḿnh cho Đất nước Đại Nam ruột thịt, yêu dấu.
7
Những tên
giám mục, linh mục mang bản chất thực dân cuồng bạo như Gauthier (Ngô Gia
Hậu), Croc (Phê Chính Hoà), nghe tin phái đoàn Pháp do Brossard de
Corbigny và Regnault de Premesni làm chánh, phó sứ đến Huế, chúng liền tới
dinh tỉnh Nghệ An, dinh đạo Hà Tĩnh để làm reo, kêu đ̣i bồi thường cho
giáo dân trong cuộc nội chiến
lương – giáo Nam Đàng Ngoài (57)!
Cũng như những đời
giáo hoàng La Mă đích thực là trùm thực dân (58), cũng như giám mục
Pugnier ở Hà Nội, với Gauthier, Croc, không thể gọi chúng là ǵ nếu không
chỉ đích danh là thực dân, một thứ gián điệp khoác áo tu sĩ Thiên Chúa
giáo, biến tôn giáo này thành “tả đạo” xâm lược, nô dịch.
Trước t́nh
h́nh ấy, Viện – Bạc, đ́nh thần cùng vua Tự Đức đă nhận định, bàn luận.
Cùng với bốn bản sắc dụ quan trọng trong hai tháng cuối năm ngoái, Giáp
tuất (1875):
1.
Dụ sĩ
dân Bắc Ḱ,
2.
Dụ về
t́nh trạng lính xuất thân từ Bắc Ḱ,
3.
Dụ mở
rộng ngôn luận,
4.
Dụ về
chiêu bài “phù Lê” mị dân (13) (14),
lúc này, nhà vua
lại ban thêm một sắc dụ thứ năm, đập mạnh và sâu vào “tả đạo”:
5.
Dụ về
việc đ̣i “bồi thường” cho giáo dân (trong
cuộc nội chiến lương – giáo Nam Đàng
Ngoài!)
(57).
Tuy thế,
ngay sau khi đạo dụ thứ năm đă ban ra, chính cả Brossard de Corbigny và
Regnault de Premesni cũng với các tên giám mục, linh mục thực dân Gauthier
(Ngô Gia Hậu), Croc (Phê Chính Hoà) tiếp tục kêu đ̣i “bồi thường” (59)!
Hết đ̣i “bồi thường chiến phí”
cho chúng
để chúng mua sắm, sản xuất súng thép, tàu đồng và nuôi dưỡng bọn viễn
chinh cướp nước ta, cướp các đất nước khác, nay chúng lại đ̣i “bồi thường”
cho bọn phản quốc nội loạn, lực lượng hậu thuẫn cho quá tŕnh xâm lăng của
chúng! Trong khi đó, thực chất của cuộc nội chiến lương giáo Nghệ – Tĩnh
lại được bản dụ chỉ rơ: “Như
việc năm trước, dân lương gây ra trước [v́ dân giáo theo giúp Françis
Garnier], rồi dân giáo nối theo trong đám náo loạn, ai phân biệt cong
thẳng? Hoạ tự làm ra th́ oán lại ai? Dân lương hay dân giáo đều là dân ta,
th́ đều là con đỏ của ta. Tự thù hằn nhau, đă là không nên, lại thù hằn
với người Pháp, c̣n ra thế nào? […] Huống chi lại chống cả người Pháp,
chống cả quan… […] … Việc ấy cốt nhiên có kẻ xướng xuất mà dân ta bị lừa
dối mà thôi. Ôi! Ai xướng xuất là bất nhân quá lắm […]. Lại nghe nói dân
giáo hoặc c̣n kêu bậy không thôi. Không biết dân [theo tôn giáo] của ngươi
[:Gauthier, Croc] sao lại nói thế? Ngươi chỉ ngang ngược để gây ra biến,
nên mới đến thế. Chúng [:dân lương] cũng chỉ v́ dân [giáo] của ngươi để
đến bị hại. Ngươi sao c̣n có không công bằng? Như bảo, dân giáo của ngươi
nhiều người bị chết, dân lương há không chết nhiều ư? Bảo rằng của cải dân
giáo mất nhiều, dân lương bị mất, so với ngươi há lại chẳng gấp đôi ư? Nếu
hết thảy phải đền [cho] ngươi, th́ dân lương bị mất, sẽ ai phải đền?…
Trong khi chiến tranh, ngọc, đá đều cháy […]. Triều đ́nh xử trí cho hai
bên không ngờ ghét nhau…” (57).
Đồng thời
với những kêu đ̣i “bồi thường” ngược ngạo đó, Pháp lại một mực nằng nặc
yêu sách triều đ́nh Đại Nam loại trừ
“hiệp sĩ phi chính phủ, hành đạo trừ
tà” Lưu Vĩnh Phúc.
Kêu đ̣i ngược ngạo
đó lại diễn ra trong khi nhiều tỉnh ở Bắc Ḱ, nhân dân đang bị mất mùa,
lâm vào cảnh thiếu đói!
Hết
tệp 10
(phân
đoạn 2 truyện kí thứ 8)
Khởi viết truyện kí thứ tám này
vào lúc khoảng 07 giờ sáng,
ngày 17.11.2002 (13.10 Nh. ngọ, HB.2).
Viết đến ḍng chữ cuối của
truyện kí thứ 8 lúc 16 giờ kém 10 phút,
ngày 30.11.2002 (24.10 Nh. ngọ, HB.2).
Sữa chữa xong vào lúc 15 giờ 24 phút,
ngày 04.12.2002 (01.11 Nh. ngọ, HB.2).
TRẦN XUÂN AN
(28)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 146 – 147.
(29)
Nguyễn Đắc Xuân (biên soạn),
Phụ
chính đại thần Trần Tiễn Thành,
bài của Đào Duy Anh trong
Bulletin des amis du vieux Huế
(1941), Bùi Trần Phượng dịch, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 25.
(30)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 157.
(31)
ĐNTL.CB., tập 29, sđd., 1974, tr. 59 – 60, 307.
(32)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 164.
(33)
Câu đối của Nguyễn Văn Tường do nhà thơ Lương An sưu tầm. Xin xem: KVPCĐT.
NVT. T. VNVCNTH. & TT., bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản),
bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch vần của Trần Xuân An, tr.
77 – 79.
(34)
KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. & TT., sđd., thơ Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886),
bài số 62, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch vần của Trần
Xuân An, sđd., 2000, tr. 369 – 376.
(35)
KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. & TT., sđd., thơ Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886),
bài số 59, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch vần của Trần
Xuân An, sđd., 2000, tr. 355 – 361.
(36)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 159.
(37)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 161.
(38)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 159.
(39)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 163.
(40)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr.164 – 165.
(41)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 163 – 164.
(42)
Quốc sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam liệt truyện
(ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 276 – 277.
(43)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 170.
(44)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 176.
(45)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 169 – 170.
(46)
QTHKL., sđd., 1993, tr. 309.
(47)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 189 – 190.
(48)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 177.
(49)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 177 – 178.
(50)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 168.
(51)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 179 – 180.
(52)
Sứ quán cũ vốn ở gần sông An Cựu, nơi để tiếp sứ thần các nước. Đến tháng
tư, năm Tự Đức thứ 29 (1876), Sứ quán Pháp mới được phép xây dựng tại chỗ
đất của Trường Thuỷ quân (nay là Đại học Sư phạm Huế).
(53)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 180 – 181.
(54)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 181.
(55)
Dương Kinh Quốc,
Việt Nam, những sự
kiện lịch sử
(VN., NSKLS.), tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 176 – 177.
(56)
ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 202 – 204.
(57)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 186 – 189.
(58)
Machiavel,
Quân vương
(Le Prince), Phan Huy Chiêm dịch, Nxb. Quảng Hoá, 1968, tr. 48 – 53; Trần
Tam Tĩnh (linh mục, giáo sư, viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia
Canada),
Thập giá và lưỡi gươm
(Dieu et
Céçar,
[dịch thoát]), Vương Đ́nh Bích (linh mục) dịch, Nxb. Trẻ, 1988, tr. 14 –
15. Theo Machiavel, cha đẻ của Céçar Borgia là giáo hoàng Alexandre VI.
Nhân vật lịch sử Céçar Borgia cũng giống như h́nh tượng Tào Tháo trong Tam
quốc diễn nghĩa ở thủ đoạn sử dụng “bung xung”. Theo linh mục Trần Tam
Tỉnh, giáo hoàng Alexandre VI đă ra sắc chỉ
“Giữa những điều
khác (Inter caetera, 04.5.1493)”
và trước đó, giáo hoàng Nicolas sắc chỉ
“Giáo hoàng Rôma
(Romanus Pontifex, 08.01.1454)”
để cho phép và ủng hộ Tây ban Nha, Bồ Đào Nha đi xâm lược tất cả những
nước “ngoại đạo”, khởi đầu của những thế kỉ chủ nghĩa thực dân Phương Tây
hoành hành trên các châu lục Á, Phi, Mỹ, Úc (châu Đại Dương). Nguyên văn
sắc chỉ 08.01.1454 được dịch và trích dẫn như sau:
“Toàn quyền tự do
xâm lăng,
chinh
phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Xaradanh
(Sarrasins tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của giáo
hội, gặp bất cứ nơi nào; được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc,
lănh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt
tất cả của nổi và của ch́m của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh
viễn” (sđd., tr. 15).
(59)
ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 190.
Soạn xong phần chú
thích
vào lúc 19 giờ 24
phút,
ngày 06.12. 2002
(03.11 Nh. ngọ HB.2).
TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 10
(PHÂN ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 8)
Xin xem tiếp TỆP 11
(phân đoạn 3 truyện kí thứ 8)