TỆP 1
phần “lời giới thiệu”
và “lời thưa đầu sách”
Phụ chính đại thần
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)
THÁNG TÁM
HAI KHÔNG KHÔNG
HAI
THÁNG BẢY NHÂM
NGỌ
NĂM THỨ HAI CÔNG NGUYÊN HOÀ B̀NH
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ư TƯỞNG
TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN
Tác giả:
TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai
(cửa hiệu Phan Huyên)
Phường 3,
quận Tân B́nh
Thành phố Hồ Chí Minh
ĐT.: [08] 8453955
& 0809 803908
Khởi viết từ 12.8.2002 [HB.2]
tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm hoàn tất tập I vào chiều ngày 10.10.2002 [HB.2].
TRẦN XUÂN AN
PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN
VĂN
TƯỜNG
(1824 – 1886)
truyện – sử kí
TẬP I
(TRỌN BỘ BỐN TẬP)
bản sơ thảo hoàn chỉnh, 08.2002
bản tự nhuận sắc, 02.2004
NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. HCM.
2004
(trong bản đă xuất bản,
có gác lại một số đoạn chú thích)
Xin tạ ơn ngọn bút,
biểu tượng của sự công chính và liêm khiết trí tuệ.
Xin yêu thương, trân trọng
và bảo vệ
từng ḍng chữ mồ hôi nước mắt
của chất xám và trái tim.
TXA.
DƯƠNG TRUNG QUỐC
LỜI GIỚI THIỆU
Tôi nhận lời giới thiệu mà ḷng vẫn
băn khoăn, không biết bộ sách này có được nhiều người đọc hay không, và
có nhiều người mua hay không.
Nói lên nỗi băn khoăn đó, để tôi
muốn giới thiệu với bạn đọc rằng, đây là một bộ sách được viết rất công
phu, và việc đầu tư để in bộ sách dày dặn như thế này, vốn liếng thật
không nhỏ.
Công phu của người viết sách trước
hết là đă chọn một đề tài không dễ: về một nhân vật mà tính phức tạp ở
sự đánh giá đă kéo dài nhiều thập kỉ trong giới sử học và trong xă hội
nói chung.
Với một vị quan to, đầu triều, như
phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, vào thời triều chính và đất nước
đứng trước hoạ xâm lăng của chủ nghĩa thực dân, th́ thái độ giữa chiến
hay hoà luôn là cái thước đo quan trọng nhất để phân định đúng sai,
chính tà, chân ngụy… đối với mỗi một nhân vật lịch sử cùng thời (một bên
là Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, Trương Văn Đễ, Hàm Nghi…; một bên là
Trần Tiễn Thành, Dục Đức, Hiệp Hoà, Hồng Hưu…).
Thế mà, chỉ một ḍng nhận định rằng,
trong khi cả nước đánh Tây, thậm chí đă có một ông vua xuất bôn lập
chiến khu chống giặc mà quan phụ chính Nguyễn Văn Tường lại chủ hoà, ở
lại kinh đô, đi lại với giặc, là đủ để cho một vài thế hệ người Việt
Nam, những người phải trải qua hơn nửa thế kỉ của một cuộc cách mạng
“phản đế – phản phong”, rồi cầm súng đánh mọi thứ giặc ngoại xâm, chẳng
tốn nhiều giấy mực cũng gạt viên quan đầu triều này sang hàng ngũ những
kẻ đi ngược lại lợi ích cũng như truyền thống dân tộc, để chịu sự lên án
truyền kiếp…
Những năm
Đổi mới đă tạo ra một không khí cởi
mở và một nhu cầu nh́n nhận lại lịch sử một cách công bằng, biện chứng
hơn. Công bằng là thoát ra khỏi những định kiến, và biện chứng là làm
cho những nhân vật của lịch sử được nh́n nhận như những con người mà
không phải là các biểu tượng.
Thoát ra khỏi định kiến, người ta
nhận ra một Nguyễn Văn Tường không những không cách biệt mà gắn bó
làm một tuyến riêng – chủ chiến – như vua Hàm
Nghi hay Tôn Thất Thuyết… Cách nh́n nhận này nhờ vào những phát hiện
về sử liệu cũng như những phân tích mà nhiều cuộc hội thảo sử học đă
được tiến hành trong một thập kỉ vừa qua.
Nh́n nhận nhân vật lịch sử một cách
biện chứng, làm cho nhân vật Nguyễn Văn Tường trở nên sống động trong
cái không gian và thời gian của một tấn bi kịch lớn – tấn bi kịch của cả
một dân tộc và một triều đại đang phải đối diện với hoạ xâm lăng dày xéo.
Cái kết cục bi thương, chấm dứt cuộc
đời nơi chốn lưu đày ở đất khách quê người, một ḥn đảo xa tít mù khơi,
cùng gương mặt khắc khổ, đau đớn về tinh thần, héo hắt về thể xác trong
tấm ảnh di thể Nguyễn Văn Tường, khiến người ta không thể nghi ngờ vào
những kết luận của giới sử học về vị trí chủ chiến của nhân vật này
trong pho sử chống Pháp bi hùng của dân tộc ta cuối thế kỉ XIX.
Tác giả bộ sách
“Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường”
không chỉ nương theo những kết luận của giới sử học, mà c̣n bằng một
thể loại ông tự phát kiến là “truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch
sử”, để chứng minh với người đọc rằng, cuộc đời của Nguyễn Văn Tường
như ông thuật lại trong bộ sách là một cuộc đời thực như thế. Tác giả
lại quả quyết: phần hư cấu chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ. Khó ai định
lượng được là bao nhiêu, nhưng dễ nhận ra công sức của tác giả khi ông
dành thêm phần khảo cứu sử liệu gồm rất nhiều chú thích, viết kèm
theo phần sáng tác. Phần khảo cứu – chú thích sử liệu ấy không
phải chỉ để dẫn chứng, trưng dẫn xuất xứ sử liệu, thẩm định tư liệu,
tŕnh bày thêm một cách minh xác nhằm tiện cho việc đối chiếu với phần
sáng tác, mà c̣n để minh chứng: hư cấu nghệ thuật có khả năng tiếp cận
với sự thật lịch sử (**).
Nếu ai đó đă từng ví rằng, với thể
loại tiểu thuyết lịch sử, lịch sử chỉ là một cái đinh để móc cái áo, th́
với tác giả bộ sách này, cái áo tiểu thuyết (phần kết cấu truyện) được
đem giăng trên một cái mắc (phần sử kí, tư liệu lịch sử) – cái mắc ấy
vốn được thiết kế để người ta có thể nhận ra từng chi tiết, từ đường kim
mũi chỉ… đến cái vóc dáng hoàn chỉnh của cả tấm áo. Nói cách khác, tác
giả (nguyên là một nhà giáo) muốn thể hiện một quan niệm cổ điển (chuẩn
mực) về sự “bất phân” của hai ngành, văn và sử, hai phương thức tư duy,
khoa học và sáng tác, trong một bộ sách viết về một nhân vật lịch sử gắn
với một thời đại lịch sử.
Tôi muốn nhấn mạnh tính độc đáo của
bộ sách, cái công phu của người viết, để giới thiệu với bạn đọc một bộ
sách đáng xem, đồng thời cũng để biểu dương sự cần cù, quả cảm của tác
giả, là đă làm một việc có ích cho cả sử học lẫn văn chương, trong t́nh
h́nh có sự giảm sút số lượng người đọc nên rất khó khăn trong việc phát
hành này.
Xin được nói thêm rằng, tác giả có
một ư định về bổn phận riêng tư bên cạnh những mục đích chung, như ông
đă có lời đề từ ở trang đầu sách, là tác phẩm được viết để “kính dâng
lên bàn thờ cao tổ phụ Nguyễn Văn Tường” với ḷng thành của tác giả (một
người thuộc hậu duệ thế hệ thứ 5). Điều đó có làm cho người đọc nghi ngờ
về tính khách quan của bộ sách hay không? Chính cách viết xem trọng
việc khảo cứu sử liệu của tác giả đă giải toả điều đó. Hơn thế nữa,
người viết bộ sách này cũng muốn thể hiện cái đạo hiếu nghĩa của người
đời nay đối với người xưa. Đó là một việc đang rất cần cho đời nay, để
chúng ta có được một tấm gương lịch sử trong trẻo mà soi lại việc
xưa, nhằm làm sáng rơ cho cuộc sống đời nay. Giữ bổn phận chính đáng với
tổ tiên của ḿnh cũng là một cách góp phần hun đúc cho t́nh yêu Tổ quốc.
Như thế th́ bộ sách này đáng mua và
đáng đọc lắm.
IX. 2004
DƯƠNG TRUNG QUỐC
Tổng thư kí Hội Khoa học lịch sử Việt
Nam
HỘI KHOA HỌC LỊCH
SỬ VIỆT NAM
25 Tông Đản, Hà
Nội
ĐT. / Fax.:
04.8256588
Ư KIẾN GIÁM
ĐỊNH BẢN THẢO SÁCH:
“PHỤ CHÍNH
ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG”
của tác giả
Trần Xuân An
Kính gửi:
Nhà Xuất bản Văn Nghệ TP. HCM.
Hội Khoa học
lịch sử Việt Nam (H.KHLS.VN.) đă nhận được công văn của quư Nhà Xuất bản
(NXB.), đề nghị Hội đồng Giám định của Hội chúng tôi đánh giá nội dung
lịch sử và khả năng xuất bản bản thảo của tác giả Trần Xuân An (TXA.) –
bản thảo viết về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường.
Do Hội KHLS.VN.
đă tham gia, tổ chức một số cuộc hội thảo về nhân vật lịch sử này, và
tác giả TXA. đă tặng bản thảo này cho một số đồng
nghiệp của Hội, nên xin được có một số ư kiến thẩm định như sau:
- Về nhân
vật lịch sử Nguyễn Văn Tường:
Đây là một nhân
vật đóng một vai tṛ chủ chốt của một giai đoạn lịch sử rất phức tạp;
tính phức tạp của t́nh h́nh giai đoạn lịch sử này gắn liền với sự phân
hoá giữa nội bộ các tầng lớp quan lại triều đ́nh Huế, trong bối cảnh
thực dân Pháp xâm lược và từng bước áp đặt ách thống trị lên đất nước ta.
Đă có một thời gian, nhân vật phụ chính Nguyễn Văn Tường bị đánh giá như
người đứng đầu phe “chủ hoà”, có xu hướng cộng tác với chế độ
thực dân xâm lược. Nhưng cùng với sự đổi mới nhận thức, đặc biệt là nhờ
những phát hiện mới về tư liệu của giới chuyên môn, trong đó có nỗ lực
của các hậu duệ nhân vật lịch sử này, nên sau nhiều cuộc hội thảo được
tổ chức bởi nhiều trung tâm nghiên cứu và giảng dạy lịch sử (Đại học Sư
phạm TP. HCM., Viện Đại học Huế, Hội Sử học Thừa Thiên – Huế, Hội
KHLS.VN….), giới sử học đă đạt tới sự đồng thuận cao trong quan điểm
đánh giá: Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường là một người yêu
nước, hoạt động trong phong trào Cần vương vũ trang chống Pháp.
Giải thích việc phụ chính Nguyễn Văn Tường không ra sơn pḥng cùng vua
Hàm Nghi và các văn thân chủ trương kháng chiến chống Pháp, đứng đầu là
Tôn Thất Thuyết, đă được nhiều sử gia cho rằng, đó là sự phối hợp
hành động v́ mục tiêu chung. Qua nhiều tài liệu của thực dân,
giới nghiên cứu sử học thấy rơ: thực dân Pháp từ chỗ tỏ ư nghi ngờ đến
phê phán quyết liệt thái độ của vị phụ chính đại thần này, và chung cục
lịch sử là phụ chính Nguyễn Văn Tường đă bị thực dân Pháp bắt đày ra đảo
Tahiti, rồi qua đời ở đấy. Đó là bằng chứng có giá trị thuyết phục để
làm cơ sở đánh giá nhân vật lịch sử này.
- Về thể
loại sáng tác:
Tác giả đă xác
định rơ là “truyện kí – khảo cứu tư liệu lịch sử”. Đó là một loại
h́nh mới mẻ. Tác giả tỏ ra rất nghiêm túc trong việc bám sát
những sử liệu, đặc biệt là chính sử của triều Nguyễn, để dựng lại kết
cấu và các chi tiết của truyện kí. Đây là nét độc đáo của tác phẩm, tỏ
rơ thái độ nghiêm túc, công sức đầu tư của tác giả. Nguồn tư liệu phong
phú do công sức sưu tầm, việc khai thác triệt để các kết quả nghiên cứu
của giới sử học qua các cuộc hội thảo về nhân vật Nguyễn Văn Tường mà
tác giả tham gia, đă tạo nên độ tin cậy về lịch sử trong khuôn khổ một
sáng tác mang cả yếu tố văn học vào sử học. Điều đó có nghĩa là, trong
phần sáng tác – hư cấu của một truyện kí về một nhân vật lịch sử, tác
giả luôn có ư thức bám sát những sử liệu có được để kết cấu sao cho
lô-gic. Đương nhiên với một sáng tác có tính chất văn học, những hư cấu
nằm ở khoảng trống giữa những sự thực đă được sử liệu minh chứng là
thuộc về quyền và năng lực sáng tạo của tác giả; sự kết đính ấy luôn cần
thiết cho mọi sáng tác.
- Một vài
ư kiến góp thêm:
Tác giả không
sai khi phản ánh một t́nh h́nh rất phức tạp ở nước ta vào nửa sau thế kỉ
XIX. T́nh h́nh ấy tồn tại một sự xung đột quyết liệt giữa những người
truyền giáo Phương Tây với triều đ́nh nhà Nguyễn, và nguyên nhân cùng hệ
quả của nó tạo nên sự mâu thuẫn lương – giáo trong nội bộ nhân dân ta.
Thực dân Pháp luôn nhấn mạnh đến chính sách đàn áp Thiên Chúa giáo của
triều đ́nh Việt Nam bấy giờ để làm áp lực, tạo lí do can thiệp quân sự,
dẫn đến việc chiếm đóng Việt Nam. Và trong chính sách cai trị thuộc địa,
chúng luôn luôn khai thác mối mâu thuẫn này để áp dụng chính sách “chia
để trị”. Giới sử học Việt Nam đă phân tích đến mặt sai lầm trong chính
sách của triều đ́nh Huế, những sai lầm khiến bị thực dân lợi dụng, và
vạch trần bản chất xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân là không
v́ lí do tôn giáo. Đối với nhân dân, v́ yêu cầu chung luôn đặt ra là mục
tiêu đoàn kết dân tộc, nhất là trong bối cảnh hiện nay, nên khi đề cập
tới những vấn đề lịch sử, ta vẫn nêu rơ sự thật nhưng hạn chế tối đa
những yếu tố gợi lại một cách không cần thiết sự xung đột dẫn đến hận
thù. Do vậy, mặc dầu tác giả rất có ư thức đối với vấn đề này, và ngay
trong phần cuối sách, cũng nhắc lại sự tế nhị, nhưng theo chúng tôi nên
giảm bớt về số lần và về t́nh tiết liên quan đến những hành vi của triều
đ́nh Huế đối với Thiên Chúa giáo (nhà truyền giáo và giáo dân).
Trên đây là một
số ư kiến đóng góp cho một bản thảo mà chúng tôi đánh giá cao về công
sức, thái độ nghiêm túc của tác giả. Công sức, thái độ nghiêm túc ấy thể
hiện trong một tác phẩm viết về một nhân vật và một thời đại mà sự đánh
giá lịch sử chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp, tế nhị, nhưng đă và đang
được giới sử học làm sáng tỏ. Bản thảo này nếu được xuất bản sẽ có
tác động tích cực vào quá tŕnh làm sáng tỏ đó. Mong tác giả cũng chỉnh
sửa trên sự góp ư của chúng tôi .
Xin gửi tới quư
NXB. lời chào trân trọng.
Hà Nội, ngày 01
tháng 7 năm 2004
TM. Hội KHLS.VN.
Tổng Thư kí,
(đă đóng dấu
và đă kí tên)
DƯƠNG TRUNG QUỐC
TRẦN XUÂN AN
VÀI LỜI THƯA TRƯỚC
1
Khác với các
bộ sử kí và các công tŕnh nghiên cứu sử học, vốn lấy tính khoa học,
minh xác (minh bạch và xác thực) làm tiêu chí quan trọng bậc nhất, tác
phẩm văn chương nghệ thuật bao giờ cũng biểu hiện bằng h́nh tượng, mời
gọi người đọc đồng sáng tạo. Tuy nhiên, đó là đặc trưng của những loại
h́nh văn chương hoàn toàn hư cấu (fiction). Ở đây, mặc dù vẫn thuộc lĩnh
vực văn nghệ, nhưng truyện kí về đề tài lịch sử (sự kiện và nhân vật
lịch sử) vẫn phải được sự bảo chứng của khoa học lịch sử. V́ thế, theo
quan niệm riêng của tác giả, truyện kí lịch sử phải hết sức gần gũi với
thể loại kí (non-fiction), đậm đặc chất kí hơn bất ḱ loại h́nh văn nghệ
nào khác. Chất kí (ghi chép đúng với sự thật lịch sử), sử liệu (quan
trọng nhất là tư liệu gốc), ấy chính là nền tảng, rường cột, phên
vách, mái lợp trong ngôi nhà cổ, là sàn móng, khung bê tông và gạch
trong ngôi nhà hiện đại, c̣n yếu tố văn chương chỉ là các vật liệu phụ
gia, trang trí, làm tăng thêm phần sinh động, lôi cuốn, khắc sâu ấn
tượng vào cảm thức của tâm hồn và trí tuệ. Bởi yêu cầu nghiêm ngặt về
tính khoa học, minh xác như thế trong việc tái hiện lịch sử qua h́nh
tượng nghệ thuật, nên tác giả xin mạn phép được thưa ngỏ vài lời trước
khi đi vào cuốn
truyện – sử kí
này.
Về nội dung,
tôi lấy
Đại Nam thực lục
(1) làm chuẩn cứ (đă biên soạn cuốn Tiểu sử biên niên Ḱ
Vĩ phụ chính đại thần, “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp”
(2), dạng sách dẫn, niên biểu). Trên cơ sở đó và với sự đăi lọc chất
liệu ở nhiều tư liệu khác, tôi đă hư cấu thêm để thành truyện kí. Nếu
Tiểu sử biên niên Ḱ vĩ phụ chính đại thần hoàn toàn tuân theo
nguyên tắc sử học với tính khoa học nghiêm ngặt, th́ đây chỉ là truyện
kí lịch sử. Và mặc dù có yếu tố hư cấu, nhưng không phải là hư cấu tuỳ
tiện, do đó bộ truyện kí này vẫn cố gắng hết sức đảm bảo tính chân thực
văn học nghiêm túc: “thật hơn sự thật sử kí”, theo quan điểm lịch
sử – cụ thể (không phi lịch sử), bởi những h́nh tượng nhân vật sống động
với các nét tính cách thật sự là cá tính, đặc biệt là tâm trạng riêng.
Nói một cách cụ thể và giản dị hơn, tôi chỉ dám chọn nhặt chất liệu
ngoài sử kí xét thấy là đúng hay ít ra cũng gần đúng với tư liệu chuẩn
cứ, và mặt khác, tự bản thân tôi hư cấu thêm những chi tiết theo
nguyên tắc bám sát tư liệu chuẩn cứ, không bôi đen, làm tổn
hại đến thanh danh các nhân vật lịch sử, nhưng cũng không tô hồng họ, để
các h́nh tượng nhân vật truyện kí gắn liền với không gian, thời gian
nhất định, vừa sống động vừa chân thật, “thật hơn sự thật sử kí” chứ
không phải trái ngược với sự thật sử kí.
Tôi cũng có ư
định mạn phép gọi đây là truyện kí – tư liệu
lịch sử hoặc truyện kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, hay ngắn gọn hơn,
là truyện kí – khảo cứu lịch sử. Gọi tên thể loại như vậy, thứ nhất, là
bởi lẽ dung lượng tư liệu được sử dụng rất nhiều, đồng thời các thao tác,
quy tŕnh nghiên cứu khoa học lịch sử được thực hiện và thể hiện một
cách nghiêm túc; thứ hai, là với ư nghĩa chữ “truyện” trong cụm từ
“Đại Nam liệt truyện” (a)(đây là loại tiểu truyện, hay thường gọi là
tiểu sử, không hư cấu) (3) và ư nghĩa chữ “kí” trong danh từ “sử kí”,
hay nói rơ hơn là sử kí biên niên (Đại Nam thực lục) vẫn là sử kí
biên niên nhưng viết lại cho thành truyện (tiểu sử). Dẫu thế, cũng khác
với “sử kí” và “liệt truyện” ở chỗ tôi có sử dụng yếu tố hư cấu theo
nguyên tắc đă tŕnh bày bên trên.
Cũng xin khu
biệt rơ hai loại kí, hai loại truyện: kí lịch sử và kí văn chương,
truyện lịch sử và truyện văn chương. Kí văn chương, truyện văn chương về
đề tài lịch sử vẫn thuộc về văn học!
Tôi cũng muốn
được nhấn mạnh:
1. Sử
kí biên niên, liệt truyện nhân vật lịch sử (như
Đại Nam thực lục,
Đại Nam liệt truyện chẳng hạn) không thể có một mảy may hư cấu.
2. Trong
bộ truyện kí – khảo cứu tư liệu lịch sử này, tôi có hư cấu, nhưng không
dám hư cấu với liều lượng nhiều (chỉ khoảng 5%), cũng không hư cấu sai
nguyên tắc như đă tŕnh bày, và ngay cả văn phong cũng tự hạn chế tính
bay bướm, để bảo đảm tính minh xác sử học. Tất cả những chỗ hư cấu, tôi
đều có chú thích kĩ lưỡng, một cách trung thực.
2
Cuộc đời của
nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường trải dài trong sáu mươi hai năm (1824
– 1886). Nếu căn cứ vào sự phân ḱ lịch sử, phải lấy 1858 làm mốc. Ở đây,
tôi khảo sát riêng về nhân vật lịch sử này, nên phải căn cứ vào quá
tŕnh h́nh thành nên tiểu sử, và xin tạm phân chia ra làm bốn giai đoạn:
1824 – 1850, 1850 – 1873, 1873 – 1883, 1883 – 1886. Phân đoạn sát đúng
với các quăng đời (tuổi nhỏ, học tṛ, các cương vị đảm trách và thời
gian bị giặc Pháp lưu đày), sẽ có đến bảy thời đoạn. Bộ truyện kí – khảo
cứu tư liệu lịch sử này, trong dự kiến (theo đề cương), sẽ chia làm hai
tập, nhưng trong quá tŕnh viết, lại phát sinh thành bốn tập (hơn 1.600
trang sách), với bảy phần (gồm mười ba truyện).
Dẫu chỉ một nhân
vật trung tâm (nhân vật chính), nhưng làm thế nào khắc hoạ được h́nh
tượng nếu không viết về các nhân vật đồng sự, đồng thời, trong nhiều
quan hệ khác nhau, kể cả đối phương. Và viết về một nhân vật lịch sử th́
có nghĩa lí ǵ, nếu không xác định trước cho ngọn bút, rằng phải qua
nhân vật ấy để nói lên cả một giai đoạn lịch sử của dân tộc, với những
xung đột quân sự, văn hoá (gồm cả tôn giáo), kinh tế, chính trị, ngoại
giao… Trong lời thưa đầu sách của cuốn
Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần,
tôi đă có dịp tŕnh bày ư nghĩ này. Ở đây, chỉ xin nói thêm về bối cảnh
lịch sử chung của sáu mươi hai năm Nguyễn Văn Tường sống, học tập, chiến
đấu, hoạt động chính trị (ngoại giao, kinh tế, cầm nắm vận mệnh Đất nước).
Tôi vẫn lấy 1858 và 1885 làm hai mốc lớn của giai đoạn lịch sử ấy.
Từ 1858 trở về
trước, trong
“Lời kêu gọi Hội Quốc liên”
(4), ngày 30.8.1926, Nguyễn Ái Quốc đă viết về mặt tích cực của nước ta
dưới triều Nguyễn:
“Mặt khác, bạn nghĩ xem, nước Việt Nam trước khi bị Pháp chiếm là
như thế nào. Đó là một nước độc lập, biết khiến các nước láng giềng của
nó kính trọng trong khi vẫn coi khinh chiến tranh và nghĩa vụ quân sự,
trong khi để bảo vệ quốc pḥng chỉ dùng đến dân binh (sa milice) của nó
mà thôi (5). Đó là một nền dân chủ mà dưới cái vẻ quân chủ tuyệt đối vẫn
hưởng quyền tự trị của làng xă, quyền tự do và chế độ học không mất tiền
ở mọi cấp của giáo dục và đă gạt ra khỏi đất nước ḿnh chế độ phong kiến
[có phong
tước nhưng không có kiến địa – TXA. ct. (b)]
và [chế
độ – TXA. ct.]
tăng lữ (la féodalité et le clergé). Đó là một dân tộc được thành lập
trên cơ sở thống nhất ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc, phong tục. Cuối
cùng, theo lời thừa nhận của chính những nhân vật Pháp, từ viễn cổ,
người Việt Nam đă có một văn hoá đạo đức cao”.
Thật ra, bên
trong một Đất nước được chính Nguyễn Ái Quốc nhận định, cũng như mọi
giai đoạn lịch sử bất ḱ của bất ḱ quốc gia nào, là vẫn ẩn tàng – bùng
nổ – ẩn tàng các mâu thuẫn nội tại có tính giai cấp hoặc các mâu thuẫn
nội tại do quyền lợi. Những mâu thuẫn nội tại ấy sẽ bị kích động, nổ
bùng thành chiến tranh bởi các lực lượng ngoại xâm, ít ra là từ 1858 trở
về sau. Đến lúc này, các mâu thuẫn nội tại đan chéo với mâu thuẫn giữa
chính nước ta với lực lượng quân sự, tôn giáo ngoại tại.
Trong bộ truyện
kí – khảo cứu tư liệu lịch sử hay gọi một cách giản dị là truyện – sử kí
này, mặc dù chỉ lấy một nhân vật lịch sử làm nhân vật trung tâm, vẫn
không thể không đụng chạm đến những mâu thuẫn nổi bật, chi phối một cách
quyết định đến sự vận động của chính bản thân giai đoạn lịch sử ấy.
Tránh né các mâu thuẫn có tính thời đại ấy, th́ lịch sử (gồm cả nhân vật
lịch sử) không c̣n là lịch sử, mà chỉ là một mớ chữ nghĩa giả trá!
Những mâu thuẫn
ấy là ǵ? Ai cũng biết, từ 1858 đến khi nước ta và triều đ́nh nhà Nguyễn
mất hẳn vào tay thực dân, “tả đạo” vào ngày 06 tháng 9. 1885, dân tộc ta
sống trong các lốc xoáy xung đột:
1. Việt
– Pháp.
Dân tộc Việt Nam chống Pháp v́ bị thực dân Pháp xâm lược bằng chủ nghĩa
thực dân Pháp và Phương Tây (Âu Mỹ) nói chung.
2. Lương
– Giáo.
Chủ nghĩa thực dân Pháp bao gồm chiến tranh xâm lược và công cụ nô dịch,
tạo phản là Thiên Chúa giáo. Ở đây c̣n là mâu thuẫn giữa văn hoá dân tộc
Việt Nam với một thứ tôn giáo đă bị xuyên tạc, trở thành “tả đạo” đúng
nghĩa.
3. Việt
– Hoa.
Mâu thuẫn giữa triều đ́nh nhà Nguyễn với tàn quân Thái b́nh thiên quốc
đă biến tướng và biến chất thành phỉ (giặc Cờ), thực sự xâm lược Việt
Nam để xưng hùng, xưng bá, từ 1864. Trong mâu thuẫn này đă ngầm chứa mâu
thuẫn giữa triều đ́nh nhà Thanh và triều đ́nh Đại Nam trong sự phối hợp
tiễu trừ giặc Cờ. Và về sau, từ 1883, trong cuộc chiến tranh giữa hai
thế lực xâm lược Pháp – Hoa trên đất Bắc Ḱ, Đại Nam phải đối diện với
cả hai thế lực xâm lược đó. Từ hai sự kiện đó, t́nh h́nh bấy giờ nổi cộm
lên vấn đề Hoa kiều sinh sống tại Việt Nam, nhất là Hoa kiều phù Minh (Hán)
diệt Thanh (Măn).
4. Nam
– Bắc.
Mâu thuẫn Đàng Ngoài – Đàng Trong, hậu quả của khoảng hai trăm năm Trịnh
– Nguyễn phân tranh. Trước đó, mâu thuẫn ấy vốn đă ít nhiều bùng nổ,
nhưng bị trấn áp, phải âm ỉ, đến khi Pháp và “tả đạo” xâm lược, lại có
“cơ hội” bùng lên, nổ ra các cuộc nội loạn với nhiều màu sắc ở Bắc Ḱ
(6).
Ngay nhan đề
cuốn sách của một tiến sĩ người Nhật, Yoshiharu Tsuboi, cũng đă khái
quát được phần nào sự thật lịch sử trong nửa sau thế kỉ XIX ở nước ta:
“Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa” (7).
Và tuy nhan đề là thế, nhưng Yoshiharu Tsuboi thể hiện trong nội dung
khá sắc nét và khá đầy đủ các mâu thuẫn của giai đoạn lịch sử đó.
Sử gia Trần
Trọng Kim, mặc dù viết sử dưới ách bạo quyền thực dân và “tả đạo”, vẫn
vạch rơ theo cách của ông ta:
“…dần dần người trong nước phân ra bên lương, bên giáo, ghen ghét nhau
hơn người cừu địch”
(8). Và cũng
ngay trong chương “Người châu Âu sang nước Việt Nam”, Trần Trọng Kim c̣n
khái quát thành hai mục:
1) Sự đi t́m đất
[của thực dân Âu Mỹ – TXA. ct.];
2) Sự đi truyền giáo
[truyền đạo Thiên Chúa – TXA. ct.] (8). Đó là hai mũi tiến công xâm lược
của chủ nghĩa thực dân Pháp và Phương Tây nói chung.
Theo cách nói
dân gian thông thường hằng ngày: Bên lương chửi rủa bên giáo, chửi rủa
Pháp, chửi rủa Tây Ban Nha, bên giáo chửi rủa vua quan nhà Nguyễn và
chửi rủa bên lương; người Việt chửi rủa Hoa kiều, Hoa kiều chửi rủa
người Việt; Nam Ḱ chửi rủa Bắc Ḱ, Bắc Ḱ chửi rủa Nam Ḱ, Đàng Trong,
Đàng Ngoài chửi rủa nhau… là biểu hiện cụ thể của các mâu thuẫn trên. Và
đâu chỉ chửi rủa, mà thực sự là chiến tranh, với súng nổ, gươm vung, máu
đổ thịt rơi! Khi viết thành truyện, tôi đă hư cấu theo phương thức hư
cấu văn học trên cơ sở chất liệu sử kí để tái hiện sự thật lịch sử trong
giai đoạn ấy. Những trang viết tôi hư cấu các cảnh diễn tả lực lượng này
chửi rủa lực lượng kia, và hơn thế nữa, hư cấu nhiều cảnh máu đổ thịt
rơi, là không phải cường điệu, phóng đại với ác ư, nhằm khoét sâu mâu
thuẫn trong quá khứ, nhất là mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt Nam ta
(gồm cả người Việt gốc Hoa).
Bốn mâu thuẫn cơ
bản có tính thời đại ấy, từ sau điểm đỉnh xung đột lịch sử 1883 – 1885,
nhất là sau giai đoạn Cần vương (1885 – 1896), sẽ vận động và biểu hiện
khác. Tôi chỉ giới hạn đến 1886, năm Nguyễn Văn Tường mất với cái chết
hi sinh của một nhà chính trị chống Pháp tại quần đảo tù đày Tahiti (giữa
Thái B́nh dương, phía Nam Mỹ).
3
Bộ truyện kí –
khảo cứu tư liệu lịch sử này cũng thể hiện ước mong: Mỗi người chúng ta
tự đối diện với chính ḿnh. H́nh như đấy là nỗi ước mong của lịch sử với
biết bao xương máu! Tôi cảm nhận nỗi ước mong ấy khi nghiên cứu và trong
quá tŕnh viết.
Điều cuối cùng
cũng là đầu tiên trong bộ truyện kí – khảo cứu tư liệu lịch sử này vẫn
là: Đoàn kết dân tộc và đoàn kết nhân loại.
Nếu bộ truyện kí
– khảo cứu tư liệu lịch sử này t́nh cờ được để mắt đến, hi vọng người
đọc, gồm cả những người Pháp, người Hoa, người Âu Mỹ nói chung, gồm cả
những tu sĩ, giáo dân Thiên Chúa giáo tại Việt Nam và trên mọi đất nước,
sẽ không trút giận vào tác giả, do sự thật lịch sử được cố gắng tái hiện
một cách trung thực nhất.
Tôi cũng xin
được bày tỏ nơi đây ḷng biết ơn các nhà khoa học lịch sử trong và ngoài
nước, đặc biệt là các tác giả có tham luận trong Hội nghị Khoa học lịch
sử với đề tài “Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường” do
Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM. tổ chức vào ngày 20.6.1996 và trong Hội
thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường do Trung tâm Khoa học
xă hội và nhân văn thuộc Viện Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa
Thiên – Huế phối hợp tổ chức vào ngày 02.7.2002 (9).
Cuối lời thưa
đầu sách này, xin khẳng định một lần nữa, mặc dù có tham khảo nhiều
nguồn, chúng tôi vẫn lấy Đại Nam
thực lục
làm chuẩn cứ, nhưng với quan điểm sử học dân tộc tiên tiến nhất của thời
đại chúng ta, một quan điểm sử học đặt trên nền tảng đạo lí dân tộc,
truyền thống và hiện đại, và đồng thời cũng đặt trên nền tảng công lí
của nhân loại. Trong bộ truyện – sử kí (truyện kí – tư liệu lịch sử) này,
tôi sẽ gián tiếp thể hiện sự nhất trí, tiếp thu và sự phê phán của tôi
đối với các tư liệu, sách báo tham khảo, các tham luận, báo cáo khoa học,
trong đó có cả hai cuốn sách của Trần Trọng Kim và của Yoshiharu Tsuboi,
mà lời thưa đầu sách này có dẫn chứng.
Trong tập
Các báo cáo khoa học của Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn
Văn Tường (1824 – 1886)
do Trung tâm
Khoa học xă hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa
Thiên – Huế phối hợp tổ chức vào ngày 02.7.2002, tôi đă có một bài
nghiên cứu thể hiện nhận thức và quan điểm của ḿnh về Nguyễn Văn Tường
và về những sách báo viết về ông (10). Trên bán nguyệt san
Xưa & Nay
của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, số 118, tháng 8. 2002, tôi cũng có
dịp được đăng tải một bài nghiên cứu khác về Nguyễn Văn Tường, với tinh
thần dân chủ trong khoa học, với sự nhất trí, tiếp thu và phê phán các
tư liệu, sách báo tham khảo, các tham luận, báo cáo khoa học như đă
tŕnh bày (11).
Nói như thế,
không có nghĩa là không biết ghi ơn những ǵ các tác giả đă đóng góp vào
tiến tŕnh nghiên cứu sử học, dịch thuật tư liệu lịch sử thuộc giai đoạn
nửa cuối thế kỉ XIX và về Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886). Không có những
công tŕnh của những người đi trước, nhất là các công tŕnh khai thác,
dịch thuật, nghiên cứu tư liệu gốc của Quốc sử quán triều Nguyễn, của Bộ
Hải ngoại – Thuộc địa phía thực dân Pháp, tôi sẽ lúng túng biết bao! Sưu
tầm tư liệu gốc và giám định tư liệu gốc, hầu như tất cả vấn nạn sử học
là ở đó!
Nơi đây, cũng
xin bày tỏ sự trông mong, vào một ngày sớm nhất, Viện Sử học Việt Nam sẽ
công bố trọn vẹn Kho Lưu trữ
Châu bản triều Nguyễn
sau khi giám
định khoa học thực nghiệm xong. Và cũng kính mong những trước tác rất có
giá trị của Nguyễn Văn Tường, do hậu duệ của ông sưu tầm cách đây gần
một trăm năm, gồm ba tập văn chính luận
(Nam Ḱ tấu nghị, Bắc Ḱ tấu nghị, Thương bạc viện phúc)
và một tập thơ
(Ḱ Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường thi tập (12)),
cũng sẽ được giám định đối chiếu, được tạo điều kiện thuận lợi về xuất
bản để công bố.
Với tinh thần
thực sự cầu thị, kính mong được chỉ dạy, góp ư, phê b́nh về bộ truyện kí
– khảo cứu tư liệu lịch sử (truyện – sử kí) này và được mách bảo về tư
liệu, sách báo…
Tp. HCM., 17 giờ đúng,10.10.2002 (05.09 Nh. ngọ HB.2);
09 giờ kém 05 phút, 22.02.2003 (22.01 Q. mùi HB.3);
11 giờ 15 ngày 29.10.2003 (05.10 Quư mùi HB.3(13)).
TRẦN XUÂN
AN
(1) Quốc
sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam thực lục,
chính biên
(ĐNTL.CB.), bản dịch Viện Sử học, tập 11, tập 24, tập 26, và từ tập 27
đến tập 38, Nxb. KHXH., 1964, 1971, 1972, 1973 – 1978.
(2) Trần
Xuân An (biên soạn),
Tiểu sử biên
niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, “kẻ thù lớn nhất của chủ
nghĩa thực dân Pháp”,
bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản rộng răi).
(3) Quốc
sử quán triều Nguyễn,
Đại Nam liệt
truyện
(ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, 4 tập, Nxb. Thuận Hoá, 1993. Trong bộ
liệt truyện này không có tiểu truyện của các nhân vật chống Pháp hàng
đầu như Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật, Trần Xuân
Soạn, Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Đính!
(4) Dẫn
theo Phan Ngọc,
Bản sắc văn hoá
Việt Nam,
trong bài
“Truyền thống
quân sự Việt Nam, nền tảng của mọi thắng lợi quân sự”,
Nxb. VHTT., 1998, tr. 413 (đối chiếu với sđd., tr. 446).
(5) Nguyễn
Ái Quốc muốn nhấn mạnh đến truyền thống hiếu hoà (chiến tranh là sự vạn
bất đắc dĩ), truyền thống chiến tranh nhân dân, mỗi người dân là một
chiến sĩ, mỗi làng là một thành luỹ chiến đấu. Đấy là nét đặc sắc trong
truyền thống quân sự chống ngoại xâm của dân tộc ta. Ngoài ra, cố nhiên,
cũng như ở các nước khác, mọi triều đại phong kiến Việt
Nam đều có lực lượng quân đội chính quy thường trực, được huấn luyện và
trang bị tốt nhất. Cũng xin giới thuyết rơ hai chữ “hiếu hoà”: Đó là
ḷng yêu hoà b́nh gắn liền với ư chí độc lập, tự do của dân tộc, là ư
thức không gây chiến với nước khác; tuy hiếu hoà nhưng vẫn sẵn sàng chủ
chiến, quyết chiến đến cùng một khi nền độc lập, chủ quyền Đất nước và
tự do của dân tộc bị xâm phạm bởi thế lực ngoại xâm. Truyền thống hiếu
hoà ấy hoàn toàn xa lạ với thái độ, chủ trương chủ “hoà”, thực chất là
đầu hàng trước quân xâm lược. Nói như vậy, không có nghĩa là không chấp
nhận “hoà” như một sách lược tạm thời, quyền biến, hợp cơ nghi, là một
cách “cầm cự”, với điều kiện phải xác định
“chiến rồi mới
có thể hoà, hoà để thủ, thủ để mưu chiến”,
chiến là tiên quyết và hậu quyết. Chúng ta có thể liên hệ đến các cuộc
chiến, các giai đoạn kháng chiến (chiến) xen kẽ với các thoả ước, hiệp
ước (hoà, thủ) trong thời ḱ kháng chiến về sau, dưới sự lănh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam: Xô-viết Nghệ – Tĩnh (1930 – 1931),
“Pháp, Nhật bắn
nhau và nhiệm vụ của chúng ta”
(1943), Cách mạng Tháng Tám (1945), hiệp định sơ bộ (tại Đà Lạt)
06.3.1946, tạm ước Moutet (tại Fontainebleau) 9.1946,
“Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến”
12.1946 (1946 – 1954), hiệp định Genève 1954, kháng chiến chống Mỹ –
ngụy, để bảo vệ Miền Bắc, giải phóng Miền Nam, thống nhất Đất nước (1960
– 1975), hiệp định Paris 27.01.1973, Ngày Toàn thắng 30.4.1975,
“Lời kêu gọi
kháng chiến chống quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh”
(1979), hiệp ước quân sự Việt – Xô 1979, quyết định rút quân sau khi
giải phóng hoàn toàn Campuchia 1989. Như vậy, cuộc chiến tranh chống xâm
lược Pháp, Nhật, Mỹ, “tả đạo” Thiên Chúa giáo và chống chủ nghĩa bành
trướng Đại Hán Trung Quốc kéo dài đến 131 năm (1858 – 1989)! Qua đó, có
thể thấy rơ: phương thức kháng chiến trong binh pháp cổ điển, chiến –
hoà – thủ – chiến, luôn luôn được vận dụng một cách mưu trí, quyền biến,
linh hoạt nhưng cũng phải thường xuyên xác định, chiến là phương án
chiến lược, tiên quyết và hậu quyết để giành thắng lợi hoàn toàn, để
giành lại độc lập, tự do, hoà b́nh, hạnh phúc. Chủ chiến như thế chính
là v́ tinh thần hiếu hoà truyền thống. Xem thêm chú thích (4) bên trên.
(6) Từ
tháng 9.1885 đến tháng 8.1945, suốt sáu mươi năm ấy (ít ra là hai thế hệ),
Đất nước ta và triều đ́nh Huế hoàn toàn bị nô lệ dưới ách thực dân Pháp,
mâu thuẫn Đàng Trong – Đàng Ngoài đă tự hoá giải trước nỗi đau chung.
Hơn nữa, do sự thay đổi chế độ chính trị ở Trung Quốc, từ thời điểm cuộc
cách mạng 1911 do Tôn Văn lănh đạo nổ ra, rồi sau đó, nước Cộng hoà Nhân
dân Trung Hoa, dưới sự lănh đạo của Mao Trạch Đông, được thành lập vào
năm 1949, nên Bắc Ḱ trở thành một địa phận có vị trí địa – chính trị
tốt cho cách mạng nước ta: Bắc Ḱ giáp giới với Trung Quốc, có đường bộ
(về sau lại có đường sắt) liên thông đến nước Nga xô-viết. Nga xô-viết
đă là thành tŕ của cách mạng vô sản, cách mạng ư thức hệ trên thế giới.
Và tiếp đến, hiệp định Genève 20.7.1954 lại là nhân tố tạo sự hoán
chuyển
Nam – Bắc… Vai tṛ lịch sử Nam – Bắc đă hoàn toàn đảo ngược! Xin xem
thêm: Trần Xuân An,
Mùa hè bên sông
(Nỗi đau
hậu chiến),
tiểu thuyết, bản 2001 & bản 2003 (đă chỉnh lí, bổ sung từ bản 1997).
(7) Yoshiharu
Tsuboi,
Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa,
bản dịch Nguyễn Đ́nh Đầu và nhóm cộng tác viên, UB.KHXH.TU.TP.HCM. xb.,
1993.
(8) Trần
Trọng Kim,
Việt Nam sử lược,
bản in lần thứ bảy, Nxb. Tân Việt, 1964, tr. 343, tr. 338 – 343.
(9) Hội
thảo khoa học tại Huế, ngày 02.7.2002, với sự chủ tŕ: Tổng thư kí Hội
Khoa học lịch sử Việt
Nam, tổng biên tập Tạp chí Xưa & Nay: ông Dương Trung
Quốc; phó tổng biên tập Tạp chí Xưa & Nay: TS. Đào Hùng; giám đốc Trung
tâm KHXH. & NV. thuộc Viện Đại học Huế, tổng thư kí Hội Khoa học lịch sử
Thừa Thiên – Huế: TS. Đỗ Bang; tổng biên tập Tạp chí Huế Xưa & Nay, đại
diện Ban Tổ chức hội thảo: ông Lê Văn Thuyên. 13 tác giả của 15 bài
nghiên cứu – tham luận, báo cáo khoa học đều có mặt, với sự tham gia
hội thảo của nhiều nhà nghiên cứu sử học khác.
(10) Bài
“Nguyễn
Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau ngày kinh đô quật khởi (05.7. 1885)”,
sđd., tr. 59 – 83.
(11) Bài
“Bi kịch
ở điểm đỉnh mâu thuẫn: 1883 – 1884 & sự chiến thắng của nhóm chủ chiến”,
số tạp chí đă dẫn, tr. 18 – 19 xem tiếp tr. 23 – 24.
(12) Trần
Xuân An (biên soạn – chú thích, phản bác…),
Ḱ Vĩ phụ chính
đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người, tâm hồn và tư
tưởng,
bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản rộng răi). Đây là cuốn
sách gồm 65 bài thơ do các cử nhân Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Văn Tài,
Nguyễn Văn Phùng, Nguyễn Tuy (hậu duệ thuộc hàng cháu nội của Nguyễn Văn
Tường) sưu tập. Các nhà nghiên cứu, giảng viên đại học Trần Đại Vinh, Vũ
Đức Sao Biển, Nguyễn Tôn Nhan, TS. Ngô Thời Đôn dịch, giới thiệu và hiệu
đính. Các nhà nghiên cứu, giảng viên đại học Trần Viết Ngạc, GS. Đoàn
Quang Hưng, TS. Vơ Xuân Đàn khảo luận về sử học.
(13) Viết
tắt cụm từ
“năm thứ […]
công nguyên Hoà B́nh”:
HB.. Ví dụ: 19.7. Nh. ngọ, HB.2.
TXA.
Hết phần
“lời giới thiệu”
và
“lời thưa đầu sách”
XIN XEM
TIẾP TỆP 2
Truyện
kí thứ nhất