TRẦN
XUÂN AN
NGUYỄN
VĂN TƯỜNG,
“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TỪ XƯA,
TƯỞNG
KHÔNG HƠN ĐƯỢC”
KHẢO LUẬN VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH SỬ HỌC
Nhà Xuất bản
2003
(
bài 1 tiếp theo : phần C )
(7). Thủ đoạn của Pháp
là bao vây, cô lập nước ta về ngoại giao. Tháng 8 âl., 1881, Rheinart nói
rơ, đại ư: “… Nước ấy [nước Pháp – TXA. ct.] không lấn quyền nước
ta, chỉ bắt ta không được giao thiệp với nước khác thôi. Ta nếu không nghe,
nước ấy cũng bắt làm cho được” (ĐNTL.CB., tập 35, Nxb. KHXH., 1975, tr.
59). Cơ mật viện – Thương bạc nhận định: “… Nước ấy đă mưu, không phải
một ngày. […] … Ngăn ngừa ta giao thông với nước ngoài, là chỗ giảo
quyệt của nước ấy. Duy trong ước có một điều “nước ta muốn định thương
ước với nước nào đều được tuỳ tiện” th́ nước ấy đâu có thể trái lời ước
được. Nhưng ta từ trước đến giờ chưa giao thông với các nước, mà nước
ấy không khỏi giữ ngầm ở trong, nên 6, 7 năm nay, các nước chưa nước nào đến
định thương ước với nước ta. Gần đây ta cùng với nước Y Pha Nho định ước,
giao ước với nhau đă lâu, mà nước ấy [nước Y Pha Nho – ct.] cũng chưa
có đến, th́ t́nh có đáng ngờ, cũng là t́nh của ta chưa thông với các nước,
cho nên nước ấy [nước Pháp – ct.] mưu làm tự chuyên. Vả lại giao
thiệp với nước ngoài thực khó, ta chỉ sợ khích nước ấy, ḷng mưu tính ta, v́
đó lại phát ra. Nay mưu nước ấy sắp thành, ta há nên không giải quyết sớm,
huống chi ta cũng cứ lư mà làm, làm sáng cho chúng biết, có trái ước ǵ đâu,
mà chúng vin cớ để nói được… […]. Nhưng tự trước đến giờ thường bị
nước ấy ngăn trở, v́ ta không có tàu, chỉ đáp tàu với nước ấy, tùy theo nước
ấy đi hay đứng mà phải thế. Nay xin sửa soạn tàu của ta, chọn người ở triều
đ́nh có ḷng đảm đương công việc lấy hai, ba người, lấy cớ đi t́m học về bác
vật, như nước Thanh cho người đi học các nước, tư rơ trước cho nước ấy biết.
Đến lúc đi th́ đến nước ấy trước, nhân chuyển đi các nước Y, Anh, Phổ, Mỹ,
khiến cho các nước biết ta tự chủ, nhân đó mà thông suốt t́nh ư. Tục Thái
Tây thích giao thiệp chơi bời với nước xa, ta đến, tự khắc không nước nào
không nhận, tưởng cũng có nước muốn giao thiệp thông thương với nước ta,
thực khiến cho t́nh của nước ta thông suốt các nước, th́ nước ấy không thể
tự ư làm càn được. Nếâu nước ấy có ḷng nào bắt ức ta, ta cũng có thể cùng
các nước điều đ́nh giúp bàn lại, tưởng cũng là một kế đấy… […]. Lại
việc này c̣n xa, nay gần mà có thể giao thông được th́ ở Yên kinh, sứ các
nước đều ở đấy, nhiều lần sứ bộ ta sang Yên kinh chưa biết bàn đến việc ấy,
v́ sự thể giao tế khác nhau, cho nên khó làm. Nay có Cục Chiêu thương chở
hàng thuê, do quan ở Cục ấy giới thiệu, tưởng cũng là một cơ hội. Gần đây
tiếp được tin báo Đường Đ́nh Canh tháng này cũng đến, xin do bọn tôi thương
thuyết, nhờ viên ấy ngỏ ư với Lư Hồng Chương nhờ mật ḍ ư sứ các nước Anh,
Mỹ, Phổ, để nắm được cốt yếu, thông thuyết giúp cho. C̣n sứ Y Pha Nho ở đấy,
nước ấy đă định ước với ta, th́ nên bàn với họ. Nước Thanh gần đây tranh
nước Lưu Cầu với nước Nhật Bản mà không được [v́ có sự can thiệp của
tổng thống Mỹ Grant – ct.], nay nước ấy [nước Thanh – ct.] […]
tưởng cùng ṇi giống [da vàng – ct.] với ta cũng lo [lo âu về các nước
thực dân da trắng – ct.], tất hết ḷng mưu thực mà việc chóng xong
…” (ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 59 – 62).
Tháng 12 âl., cuối năm
1881 bước sang 1882, “vua cho là quan nước Thanh vào yết kiến, sợ sinh
ngờ. Bèn cho Nguyễn Văn Tường bàn kín với Đường Đ́nh Canh. […]… Văn
Tường mật dặn Đường Đ́nh Canh 3 việc:
-
+++ … Nước ta đặt quan
đón đón chờ ở kinh đô nước Thanh, nếu có việc ǵ, được tố cáo ở Tổng lư nha
môn.
-
+++ Ở Quảng Đông, hiện
nghe lănh sự các nước phần nhiều đóng ở đấy
[…]… Nước ta đặt 1 lănh sự ở đấy để tiện đi lại buôn bán, thông báo tin
tức, nhân cùng giao du với các nước để thông hiểu t́nh ư.
-
+++ Nước ta muốn phái
người đi khắp các nước như các nước Anh, Nga, Phổ, Pháp, Mỹ, Áo, Nhật Bản,
xem xét và học…
[…].
… Lại đều đem đồ vật
gửi tặng […]…
Tổng đốc họ Trương [Trương Thụ Thanh – ct.] […] đem đồ vật ấy trả
lại, nói rằng nhận sợ nước Pháp ngờ, có việc khó giảng thuyết, tổng đốc họ
Lư [Lư Hồng Chương – ct.] cũng lấy thơ và tờ khải đưa cho để tỏ t́nh
cùng khuyên về ư đều phải tự cường” (ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 90 –
91).
Tháng 6 âl., 1883, Tự
Đức mất. Đến khi Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết thực sự lănh đạo Đất
nước, Triều đ́nh Huế thực hiện chủ trương ngoại giao đối trọng,
trung lập giữa hai nước Pháp, Hoa, v́ cả hai nước này đều mưu
toan xâm lược và chia nhau Bắc ḱ! Đó là chiến thuật tọa sơn quan song hổ
đấu (ngồi trên núi xem hai con cọp xâu xé nhau), chờ cơ hội giành lại quyền
tự chủ cho Đất nước.
Nhưng, tiếc thay, 14.8
âl., 1884, Lư Hồng Chương – Fournier kí tạm ước Thiên Tân, buộc Đại Nam phải
chấp nhận cưỡng ước Patenôtre! Nước Nga lại đứng ra điều đ́nh để Pháp – Hoa
chính thức kí hiệp ước Thiên Tân (Patenôtre – Lư Hồng Chương), vào ngày 27.4
Ất dậu (1885) (ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 127 và tr. 174)! [Theo “Việt
Nam sử lược”, khởi đầu việc môi giới cho tạm ước Fournier là do một
người Đức, tên Détring (sđd., b. 1964, tr. 539 – 540)].
(8). Điểm này chúng tôi
thấy cần nói rơ thêm: các tên đội lốt linh mục, giám mục, một mặt, thổi
phồng con số, mặt khác, quy tất cả bọn Việt gian theo Pháp vào nhăn hiệu
“giáo dân”, đồng thời tôn các tên xâm lược Pháp là “sứ giả của Thiên Chúa”!
Do đó, “b́nh Tây sát tả”, khẩu hiệu ấy được hiểu là đánh dẹp giặc Pháp xâm
lược và tiêu diệt bọn “giáo dân” với nghĩa trên và với nghĩa chối bỏ truyền
thống dân tộc, để bảo vệ độc lập dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
của chúng ta.
Về từ “giáo dân”
được Quốc sử quán sử dụng trong phần viết về cuộc Kinh Đô Quật Khởi (22 –
23.5 âl., 1885) và hai tháng sau đó: Đó là lực lượng giáo dân do thực dân
Pháp vũ trang súng đạn; đó là bọn lính ma tà (“giáo dân vô lại”…).
Xin phân biệt với bộ phận giáo dân lương thiện, không theo “tả đạo”, thực
dân (xem thêm: GS. Trần Văn Giàu, Hệ ư thức phong kiến và sự thất bại của
nó… , Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 368 – 371).
Mặc dù vè “Thất thủ
kinh đô” không phải là tư liệu gốc, chỉ là một tác phẩm dân gian hư cấu
với nhiều sai lệch đáng kể, chúng tôi cũng trích một vài đoạn, chỉ để tham
khảo thêm:
“Đô thành, quan Quận
giao ḥa
Lựa chiều hơn thiệt nói
mà với Tây
Tây phiên ngẫm vẫn
giận thay:
“Đem ḷng cự
chiến, c̣n đến đây làm ǵ?
May mà Nam Việt buổi
bại suy
Tây mà bại, Đạo phen
ni, cũng không c̣n
Người mà phiêu lạc
núi non
Bao nhiêu nhà cửa
chẳng c̣n ǵ đâu
Tây phiên thúc thủ
thụ đầu
Hàng lai Nam Việt,
mảnh âu chẳng lành
Tây phiên trở lại Tây
thành
Ở đây xấu tiếng bia
[bêu?] danh đă rồi
Họ không cho đâm
nhánh mọc chồi
Trăm dao xẻo thịt thả
trôi giang hà”
Quan Quận khi ấy nói qua
Nói cùng Đại Pháp chư
nha phiên trào:
“…”
Quan một cho đến quan ba
Quan năm quan sáu vậy mà
cũng nghe!
Đ̣i triệu các quan tỉnh
trở về
Sự t́nh y ước cho ra bề
đục trong
Tin th́ tin, dạ c̣n
pḥng
Nam triều tể tướng
nó đem ḷng phục binh…”.
Vẫn là vấn đề “b́nh
Tây sát tả”; “Bắc Việt bị “bảo hộ”” và “Nam Việt [Trung ḱ] thuộc Nam
triều”!
Chúng vẫn sợ Nam triều
tể tướng Nguyễn Văn Tường làm nội công cho Tôn Thất Thuyết.
(Ở cuốn “Ḱ Vĩ phụ
chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư
tưởng”, chúng tôi đă có dịp bước đầu phân tích vè “Thất thủ kinh đô”
với một vài nét nhấn then chốt).
(9). Chúng tôi xin chốt
lại và nhấn mạnh điểm này: Có điều, sử học vẫn phải phân tách rơ “hư
chiêu” và “thực chiêu”: a). căn cứ vào ba mươi năm làm quan, một
niềm trung quân ái quốc và kiên định lập trường chống Pháp; b). căn cứ vào
hai tháng sau ngày 23.5 Ất dậu, 1885 với hai mật dụ Hàm Nghi từ Tân Sở gửi
về và tinh thần đấu tranh khẳng khái, không chịu khuất phục của Nguyễn Văn
Tường [gồm cả ư định lập Đồng Khánh bởi không c̣n ai trong diện có thể,
ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 23]; c). căn cứ vào hai bản kết án chung thẩm
của De Courcy, De Champeaux và Triều đ́nh Đồøng Khánh [ĐNTL.CB., tập 36,
sđd., tr. 247 và tập 37, sđd., tr. 33, 35, 132 –141]; d). căn cứ vào cả tư
liệu của Puginier, H. Le Marchant de Trigon, A. Delvaux (1916)… , các tư
liệu chưa công bố của Pháp được trích dẫn bởi Yoshiharu Tsuboi (NĐNĐDVP. &
TH., công tŕnh được tài trợ bởi chính phủ Pháp với sự giúp đỡ của một số
nhà sử học Pháp [1982]; quan điểm của Tsuboi vẫn là bảo hoàng, tư sản…).
Xin nhấn mạnh:
Có ư kiến khác: Đưa
vua Hàm Nghi về nhưng vẫn tiếp tục cần vương; Hàm Nghi sẽ lănh đạo tổng quát
cuộc kháng chiến bằng mật dụ; chỉ đạo kháng chiến trực tiếp chỉ cần Tôn Thất
Thuyết, Phan Đ́nh Phùng… Bởi lẽ, một nước có hai vua là quá táo bạo!
(ĐNTL.CB., tập 36, sđd., cuối tr. 244).
Xin tham khảo thêm:
1. Những
tư liệu sau đây khớp với tư liệu chuẩn cứ (Đại Nam thực lục, chính biên,
tập 36, và có thể kể cả tập 37, bộ sđd.) cũng như các tư liệu khác, chúng
tôi đă có dịp trưng dẫn trong bài viết “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ
lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi 05.07.1885” (đă in trong tập tư liệu
“Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường – Các báo cáo
khoa học”, do Trung tâm
KHXH. & NV. thuộc Viện Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa
Thiên – Huế, Tạp chí Huế Xưa và Nay tổ chức, in ấn, 02.07.2002, tr. 59 –
83):
◘ Tài liệu 1: Bài báo “Những biến cố ở Huế” (Les évènements de
Huế), đăng trên tờ nhật báo L’Unité – Indochinoise (cơ quan của quyền
lợi chính trị, thương mại, canh nông, kĩ nghệ của Nam Ḱ, Cam Bốt, Bắc Ḱ và
Trung Ḱ), số 70, năm thứ hai, ra ngày thứ sáu, 07.08.1885.
Đoạn mở đầu, tác giả khẳng định: “Cách đây vài ngày, chúng tôi đă
viết là [Nguyễn Văn] Tường chẳng bao giờ là đồng minh của chúng ta. Nay, cần
thêm rằng, chúng ta chẳng hề tin tưởng một tí ǵ về những lời hứa hẹn chính
thức nhất của ông ta, và rằng, sau chuyến bôn tẩu của nhà vua An Nam cùng
với vị thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết, ông ta ở lại kinh thành chỉ
nhằm mục đích phục vụ cho những người nói trên (vua và Tôn Thất Thuyết) mà
thôi”.
◘ Tài liệu 2: Bài báo “Vụ bắt giữ viên quan Tường”
(L’arrestation du mandarin Tường), đăng trên tờ báo Avenir militaire
(Tương lai quân đội), số ra ngày 26.09.1885. Đây là một bài báo đă được
t́m thấy trong t́nh trạng đă được cắt rời khỏi tờ báo.
Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc lược dịch như sau: “Chúng ta đă t́m
thấy những thông tin sau trong một bức thư đề ngày 11 tháng 09 gửi cho Hăng
Thông tấn Havas: Tôi đă gửi cho ông chiều hôm qua một điện tín để báo cho
ông biết việc vị đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn Tường bị bắt. Bằng cách nào và
tại sao người ta bắt ông?
Sau biến cố 05 tháng 07, [Nguyễn Văn] Tường t́m gặp thống tướng
[[De Courcy]], ông ta bị bắt cầm tù và buộc phục vụ cho nước Pháp. Thoạt
tiên, tướng tổng tham mưu định xử bắn ông, nhưng nghĩ lại, tốt hơn là giao
cho ông ta tái lập guồng máy hành chính An Nam nhưng ông vẫn là tù nhân
chừng nào những xao động chưa được xếp đặt yên ổn, người ta uỷ thác cho ông
ta tái lập niềm tin trong dân chúng và giúp chúng ta theo dơi tất cả hoạt
động của giới quan lại. Ông ta có nhiệm vụ đưa vua hồi loan và không được
phản bội lại chúng
ta. Tất cả những điều kiện ấy đang được thực thi hay ít ra chúng ta tưởng
như vậy cho đến những ngày gần đây, chúng ta biết rằng
[Nguyễn Văn] Tường liên lạc bí mật với thân phụ [nhạc phụ?] ông ta
ở bên ngoài. Người ta không t́m thấy ǵ khi bắt giữ những người chuyển văn
thư. Nhưng, vào chiều ngày thứ hai vừa qua, t́nh cờ ta bắt giữ được một tên
trong bọn chúng. Khám xét khắp người, người ta chẳng t́m thấy ǵ. Khi lột
trần tên mật sứ kia, khám kĩ y, người ta đă t́m thấy một mảnh giấy nhỏ, nội
dung được dịch ngay tại chỗ và quyết định bắt giữ [Nguyễn Văn] Tường
ngay tức th́. Nội dung mảnh giấy là ǵ, chỉ có thống tướng biết…”.
◘ Tài liệu bổ
cứu cho bài báo trên: “Ngày 05 tháng 09 là hạn chót hai tháng mà ông thống
tướng De Courcy quy định cho [Nguyễn Văn] Tường phải ổn định An Nam. [Nguyễn
Văn] Tường, như người ta nhận biết, đă cung cấp cho chúng ta những nguồn
tin thất thiệt; mặc dù chúng ta đă giám sát chặt chẽ, ông ta vẫn liên lạc
với những nhân vật đáng ngờ ở bên ngoài. Thống tướng quyết định cho bắt
giữ ông ta”.
(Trích Gosselin,
L’Empire d’Annam, Perrin et Cie, Librairies – éditeurs, Paris, 1904,
tr. 219).
Sau
khi giới thiệu các tài liệu trên, nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc kết luận:
“Vậy là, các
nguồn tư liệu đều cho chúng ta biết rằng trong thế bị cầm tù ở Thương bạc,
và dù bị giám sát chặt chẽ, Nguyễn Văn Tường vẫn liên lạc với bên ngoài cho
đến khi bị phát giác và bị bắt. Cho nên những việc ông công khai làm dưới sự
ép buộc của người Pháp trong t́nh thế bị giam hăm là những hành động bất đắc
dĩ, không thật tâm, c̣n những liên lạc bí mật với bên ngoài, chính là những
cố gắng cuối cùng của ông nhằm phục vụ Đất nước, bày tỏ trung thành với vua
Hàm Nghi. Đó là lí do chính yếu mà De Courcy quyết định bắt và lưu đày ông
…”.
(Trần thuật và dẫn
theo bài báo của Trần Viết Ngạc, “Những tư liệu mới về Nguyễn Văn Tường”
[giới thiệu, phân tích, bổ sung tư liệu sưu tầm, dịch thuật của bà Nguyễn
Thị Ngọc Oanh, hậu duệ của cụ Nguyễn Văn Tường, và con gái bà là Trần Nguyễn
Từ Vân], bns. Xưa & Nay, số 126 (174) tháng 10.2002, tr. 18 – 20).
2. Xem thêm: Nhiều tác
giả, Côn Đảo, kí sự và tư liệu, Ban liên lạc tù chính trị, Sở Văn hóa
– Thông tin, Nxb. Trẻ Tp. HCM. phối hợp xb., 1998, tr. 85: Khi đày Nguyễn
Văn Tường, Phạm Thận Duật, Tôn Thất Đính ra Côn Đảo, De Courcy có gửi theo
một mật hàm cho chúa đảo là Caffort:
“Tầm quan trọng của
những tù nhân này đ̣i hỏi phải được giám sát hết sức nghiêm ngặt với bất cứ
giá nào”.
Theo tư liệu trên,
Nguyễn Văn Tường bị Pháp đổ thuốc độc vào miệng, nên răng bị rụng (vài
chiếc, và bị lung lay nhiều chiếc khác) (tr. 85).
(Dẫn theo: PGS. TS. Đỗ
Bang, tập Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 –
1886) – Các báo cáo khoa học, bài “Góp phần làm sáng tỏ những uẩn
khúc trong cuộc đời của nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường”, Trung tâm
Khoa học xă hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa
Thiên – Huế phối hợp tổ chức, 02.07.2002., tr. 40).
3. GS. Trần Văn Giàu,
Chống xâm lăng, Nxb. TP. HCM. tái bản, 2003, tr. 560: “Nhưng giữa lúc
Cuốc-xy bối rối vô cùng th́ Từ-Dũ và Tam cung về
Huế. [&?!? – TXA. ct.] Viện Cơ mật
[&?!? – ct.], Nguyễn-hữu-Độ làm
phó (Độ là phó vương Bắc-kỳ được Pháp tin cẩn), lập một số bộ, trong đó có
bộ binh do tên khâm sứ Sam-pô
[Champeaux – ct.] cầm đầu. Cuốc-xy ép đám hoàng thân cử Thọ-Xuân làm phụ
chánh [đúng chức danh là nhiếp chánh – ct.], ép Thọ-Xuân làm bản
tuyên cáo nói rằng Tôn-thất-Thuyết là nghịch đảng, rằng các quan ở Bắc,
Trung phải cộng tác với quân Pháp để tiêu diệt nghịch đảng, v.v… Nhưng chính
địch cũng phải thừa nhận rằng ông già Thọ-Xuân 76 tuổi “không có ảnh hưởng
ǵ trong nhân dân cả”, càng không có ảnh hưởng ǵ với tầng lớp thân sĩ trí
thức.
“Cái
khả năng duy nhất của ông phụ chánh
[nhiếp
chính Thọ Xuân vương Miên Định – TXA. ct.] chỉ là kư tên mà thôi”
(Gosselin, L’Empire d’Annam [tr.? – ct.])”.
4. Xem thêm: Có một giai thoại về phụ chính Nguyễn Văn
Tường sau ngày kinh đô quật khởi và bị thất thủ, đề cập đến tài năng, nhân
cách, tư tưởng, thái độ chính trị kiên cường chống Pháp và ḷng trung nghĩa
của ông. Những đoạn trong giai thoại này, sau khi khảo chứng (đối chiếu tư
liệu gốc, bổ cứu, loại trừ …), xét thấy không đúng với sự thật lịch sử,
chúng tôi đă mạn phép lược bỏ. Mặc dù giai thoại chỉ là chuyện truyền khẩu,
chứa đựng nhiều sai lệch, nhưng ít nhiều vẫn có thể đăi lọc một vài lượng
thông tin nào đó, trên cơ sở khảo chứng khoa học. Có một điều cần nhấn mạnh,
Nguyễn Văn Tường được cử ở lại Huế sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi và bị thất thủ
không chỉ nhằm mục đích hạn chế sự thiệt hại về nhân mạng, tài sản triều
đ́nh và của cải nhân dân, mà c̣n để thực hiện phương án vừa đánh vừa đàm.
Cũng cần nhấn mạnh, Nguyễn Văn Tường vốn là một đại thần trung nghĩa, và ông
thừa biết thủ đoạn “gạ gẫm” của bọn Pháp. Xin chép lại để tham khảo thêm như
sau:
“
… Dưới thời Tự Đức, [phụ chính Nguyễn Văn] Tường làm quan nổi tiếng
là một người mưu lược, những việc ǵ khó th́ triều đ́nh đều cử [Nguyễn
Văn] Tường đảm nhiệm. Tự Đức mất, để di chiếu lại, cử [Nguyễn Văn]
Tường là một trong ba người trọng thần. (Hai người kia là Trần Tiễn Thành và
Tôn Thất Thuyết). Lúc Pháp xâm chiếm Việt Nam, [Nguyễn Văn] Tường và
[Tôn Thất] Thuyết là hai người đứng đầu phe chủ chiến quyết tâm đánh
Pháp. Sau sự kiện thất thủ kinh đô (07.1885) [đệ nhị phụ chính Tôn Thất]
Thuyết đưa vua Hàm Nghi xuất bôn, tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài,
[đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn] Tường là người mưu lược, được cử ở lại để
t́m mọi cách hạn chế bớt sự thiệt hại. V́ “nhiệm vụ lịch sử”, [phụ chính
Nguyễn Văn] Tường đă bị mang tiếng phản bội, cộng tác với giặc.
[Phụ
chính Nguyễn Văn] Tường là một đối thủ đáng gờm của Pháp từ
mấy mươi năm. Cho nên khi
[phụ chính Nguyễn Văn] Tường đă “về hàng” mà Pháp vẫn sợ và cho một đơn
vị quân đội luôn canh chừng [Nguyễn Văn] Tường. Mặt khác, Pháp muốn
dùng “tên” của [phụ chính Nguyễn Văn] Tường để làm “tay sai” cho
chúng, nên chúng đă t́m mọi cách để lôi kéo [Nguyễn Văn] Tường.
Khi được linh
[giám] mục Caspard [Caspar] cho biết [phụ chính Nguyễn Văn]
Tường chính là con vua Thiệu Trị và em vua Tự Đức, Pháp đă gạ [Nguyễn
Văn] Tường:
- Ông là người có ḍng máu nhà vua, lại có tài, vậy ông có muốn làm
vua không?
[Phụ chính Nguyễn Văn] Tường lắc đầu. Pháp lại hỏi:
- Nghe ông có một người con cũng giỏi lắm. Ông có muốn cho con ông làm
vua không?
[Phụ chính Nguyễn Văn] Tường cũng lắc đầu.
Tên đầu sỏ thực dân Pháp ở Huế [De Champeaux] cũng lắc đầu:
- Con vua mà không muốn làm vua … Thật là một chuyện lạ! Phải chăng
ḷng ông c̣n đang mơ tưởng đến Hàm Nghi, phải không?
Sự nghi ngờ
[phụ chính Nguyễn Văn] Tường trong ḷng bọn thực dân
lại chồng chất thêm. Cuối cùng, khi thấy không thể tin được, bọn Pháp đă đưa
[phụ chính Nguyễn Văn] Tường đi đày và ông đă chết …”.
(Nguyễn Đắc Xuân viết theo Phan Văn Dật [thi sĩ tiền chiến, người Quảng Trị]
và nhiều tư liệu khác, “Con vua mà không chịu làm vua”, trong cuốn
Hương giang cố sự, Tủ sách Sông Hương xuất bản, 1986, tr. 47 – 48. Xem
thêm: Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện các quan triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá,
1999 (?)…).
Chúng tôi đă viết rơ ở truyện thứ nhất, tập I, bộ truyện kí – khảo cứu lịch
sử “Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường”: ông không phải là con rơi
của vua Thiệu Trị.
(10). Đào Doăn Địch
(ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 79). Xem thêm về nhân vật Đinh Hội (ĐNTL.CB.,
tập 37, sđd., tr. 80, 142 [?], 244, 325): Đinh Hội chống Pháp, không chống
Triều đ́nh thời Nguyễn Văn Tường c̣n giữ vị thế.
(11). Đây là loại thông
tin bản án. Trong các loại thông tin, loại bản án, cáo thị, mật thư, mật dụ…
hiển nhiên có độ khả tín cao nhất. Các loại thông tin này được phối kiểm và
kiểm chứng bằng suốt cả quá tŕnh hoạt động lâu dài và ở kết thúc cuộc đời
nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (bị lưu đày và chết ở chốn lưu đày biệt
xứ). Ở kỉ đệ tứ, đệ ngũ (các tập 27 – 36), những văn kiện trên là hoàn toàn
xác tín. Riêng ở kỉ đệ lục (2 tập 37 – 38), ngoại trừ bản án về bốn nhân vật
chủ chốt [*] trong nhóm chủ chiến đă được xác định độ khả tín tuyệt đối, th́
số văn kiện liên quan c̣n lại, cần phải đăi lọc (chúng tôi đă thực hiện ở
bài viết).
Năm 1890, Trương Quang
Đản có dâng sớ chạy “tội”, kêu “oan” cho Trương Văn Đễ, do quyền lợi chính
trị thời bị “bảo hộ”!? Chỉ có một trường hợp như vậy (xem “Đại Nam liệt
truyện”, tập 3, sđd., tr. 425 – 426). Người viết nghĩ rằng, ngoài việc
cùng chủ trương cuộc Kinh Đô Quật Khởi (05.7.1885), Trương Văn Đễ c̣n được
trao nhiệm vụ cản hậu và đánh lạc hướng các cuộc truy kích vua Hàm Nghi mà
thực dân Pháp cố quyết tiến hành. Riêng chi tiết (cản hậu, đánh lạc hướng)
này, và vai tṛ tương tự của Đinh Tử Lượng, cần được nghiên cứu, xác minh
thêm, mặc dù chúng tôi nhận thấy đă có đủ dữ kiện trong ĐNTL.CB., tập 36,
tr. 223, 229, 234, 243.
[*]
Phạm Thận Duật hóa ra chỉ là một nhân vật rất mờ nhạt, không có tên trong
bản án chung thẩm này.
(12). “Nguyễn Văn
Tường, thượng thư, sau này là phụ chánh, Văn Minh, sau [nữa là] Cần Chánh,
Ky-vi-ba, phụ trách đối ngoại, bị đày vào năm 1885 ở Tahiti và mất tại đó”
[bị chú của H. Le Marchant de Trigon; những chữ trong dấu móc vuông [ ]
là của chúng tôi – người viết và chú thích chua thêm (TXA. ct.); xin lưu ư
thêm: 29.8.1875 (một ngàn tám trăm bảy mươi lăm)].
Trích từ: H. Le Marchant
de Trigon, bài “Vị đại biện đầu tiên của nền bảo hộ đến Huế” [viết về
Rheinart], Những người bạn cố đô Huế (BAVH., 1917), Nxb. Thuận Hóa, 1998,
tập IV, sđd., tr. 273).
(13). Về Tôn Thất
Thuyết, tên ông hầu như luôn luôn gắn liền với danh tính Nguyễn Văn Tường,
hoặc được gọi chung là “hai người” trong ĐNTL.CB., tập 35 – tập 37, Nxb.
KHXH., 1976 – 1977, chứng tỏ sự nhất dạng cao. Tuy nhiên, trước đó cũng có
lần Tôn Thất Thuyết mắc mưu bôi nhọ, nhằm triệt hạ, đập tan tành uy
tín Nguyễn Văn Tường của De Champeaux:
“Thượng thư bộ hộ là
Nguyễn Văn Tường v́ bị lời gièm (nguyên hiệp đốc là Tôn Thất Thuyết tâu nghĩ
về việc tiền đồng dị dạng có nói: “Thuyền nước khác mang đến, hết ḷng xin
giúp”; lại nói: “Cùng người chia lợi, mọt nước hại dân, lại ở kinh đô đồn
rầm là Nguyễn Văn Tường nhận nhiều của lót, tâu xin bỏ cấm”) xin trả việc Bộ
Hộ, đổi sung bộ khác.
Vua dụ rằng: “Thuyết
ít học không thông, lại có tật nóng nẩy, nói càn, sao đáng kể; lời đồn ở
kinh đô cũng không căn cứ; người xưa không thể dẹp được lời gièm, cho nên
nói: “Cứu rét
không ǵ bằng mặc hai lần áo cừu, dẹp lời gièm không ǵ bằng tự phải tu
tỉnh”. Nguyễn Văn Tường từ lúc giữ việc ở Bộ Hộ đến giờ, có phần hết ḷng
trù tính, thuế khóa của nước có hơn lên; đương lúc phải giữ đà về quân nhu
bận rộn, đều được ổn thoả cả. Trẫm đương trách uỷ cho làm có thành hiệu sao
nên tự đẩy đem thoái thác”” (ĐNTL .CB., tập 34, Nxb. KHXH., 1976, tr.
370: tháng 9 âl., 1880).
“Sứ nước Pháp nghe
nói tỉnh Quảng Nam có mỏ than, (khách buôn lănh trưng), yêu cầu xin đến
khám; chưa cho, sứ ấy lại thác ra việc mật đưa thẳng lên vua, ngầm gièm quan
Viện – Bạc đại thần, (trong thư nói: “Có người bất trung, bất công đến nỗi
ngờ nước ấy có ư ǵ khác, lấy nhiều của lót giả ơn của người nước Thanh”;
lại nói: “Người cho lái buôn nước Thanh khai mỏ ấy chỉ mưu lợi cho ḿnh,
không làm lợi cho nhà nước”), quan Viện – Bạc xin đưa thư cho chủ suư Pháp
và sao bức thư của sứ ấy ghim vào gửi đi, để cho biết sứ ấy có sự không
phải, để khỏi nghe một bề về sau.
Vua bảo rằng: “Nay
nếu đem lời nói không phải của hắn, vội viết thư cho chủ suư của hắn, không
khỏi bênh nhau bỏ đi, ích ǵ đến ta; thế là đều không nhịn sự giận nhỏ, để
lỡ việc lớn, không phải là khéo xử. Nên mật tư từ đầu cuối việc ấy giao cho
Nguyễn Thành Ư theo thế nói cho chủ suư hắn biết””
(ĐNTL.CB., tập 34, sđd.,
tr. 341: tháng 4 âl., 1880).
Đó là một biểu hiện của
cuộc chiến tranh trên mặt trận kinh tế (ngoại thương, tài chính).
Sau lần hiểu lầm v́ mắc
mưu De Champeaux ấy, hai người luôn luôn đoàn kết với nhau, cho đến lúc
Nguyễn Văn Tường bị lưu đày sang Tahiti, Tôn Thất Thuyết sang Trung Hoa cầu
viện trong tuyệt vọng…
(14). Việc lập Đồng
Khánh là chẳng đặng đừng, trái với di chúc của Tự Đức. Di chúc đă ghi rơ:
“Ưng Kỉ người yếu hay ốm, có tâm tật, chưa học thông mà kiêu ngạo, hay bới
việc riêng của người khác cho lạm thẳng, đều không phải là tư chất thuần
lương, theo lời phải; sợ bọn ngươi khó lấy lời nói can được” (ĐNTL.CB.,
tập 35, sđd., tr. 200 – 201). “Lạm thẳng” là vi phạm tính trung trực,
hay bẻ cong sự thật! Một tác giả thực dân Pháp đă viết: “Chưa hề ở xứ sở
nào, thời nào có ông vua bị thần dân oán ghét như vua bù nh́n Đồng Khánh”
(Charles Gosselin, L’Empire d’Annam, Paris, 1904, tr. 267; dẫn theo
Dương Kinh Quốc, Phan Canh, Đào Đức Chương, Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng…).
Với bài “Giải triều…”,
Nguyễn Văn Tường khẳng định ḷng ḿnh chỉ hướng đến vua Hàm Nghi.
(15). Xem thêm các bài
viết của thực dân Pháp (xin đọc với cách đọc theo quan điểm yêu nước, dân
tộc của chúng ta và công lí chân chính, tiến bộ của nhân loại):
-
+++ A. Laborde, Tỉnh Quảng Trị, NNBCĐH. [BAVH., 1921], tập VIII, Phan
Xưng dịch, Nhị Xuyên hiệu đính, Nxb. TH., 2001, tr. 196, 200 … (xem lại chú
thích (3)).
-
+++ H. Cosserat, Người ta viết sử như thế nào: Đón tiếp đại tá Guerrier
tại Triều đ́nh nước Nam ngày 17.8.1884, NNBCĐH. [BAVH., 1924], tập XI,
sđd., tr. 373 – 397. Trích bài viết này:
“… Đúng pháp luật mà
nói, th́ ông Tường ra khỏi kinh thành là để tŕnh diện trước ṭa án binh
[…]; nếu khôn ngoan hơn, th́ ta không nên để một con người [chỉ
Nguyễn Văn Tường – TXA. ct.] rơ ràng là kẻ thù của chúng ta cầm Triều
đ́nh, một con người luôn đă và sẽ chống phá nền đô hộ của chúng ta theo cách
này hay cách khác, không chịu chấp nhận nó.
Nhưng chúng ta đă
tin, đă làm bộ tin sự thành thật trong những lời phản đối của ông ta
[về các biến động trong Triều đ́nh – ct. theo mạch văn của tên thực dân xấc
xược Cosserat], và đă chấp thuận những lời khôn khéo của ông ta như là
bằng chứng của ư nghĩ tốt. […].
“Thay v́ Kiến Phúc
th́ nay là Mệ Tríu
[Hàm Nghi – ct.]”, và luôn vẫn là Nguyễn Văn Tường trị v́.
Thật sự, từ nay
[…] quan phụ chính [Nguyễn Văn Tường – ct.] không thể tha hồ bày
mưu tính kế để chống lại chúng ta […].
Tướng De Courcy, theo
lời của Huart, chiều 3.7 mới biết được kết quả tiêu cực của các sự thương
thảo với Triều đ́nh về việc đón tiếp ông, và người ta đă đề đạt tới ông các
lời báo cáo chẳng có tính cách ǵ làm dịu bớt sự nôn nóng của ông, hoặc làm
cho ông có thiện cảm với người nước Nam.
Con người hôn mê
[chỉ Nguyễn Văn Tường – ct.] có ư chẳng làm cho tướng tổng chỉ huy
[chỉ De Courcy – ct.] có được điều ǵ khá hơn là những điều mà con người
ấy đă làm cho các khâm sứ khác … […] (bđd., sđd., tr. 380 – 382).
Nói chung, điều chúng
tôi thấy cần nhấn mạnh là, thái độ thù – bạn, địch – ta của các tên
thực dân, tay sai, kể cả cố đạo mang bản chất xâm lược, thể hiện rất rơ
trong các bài viết của chúng, trên NNBCĐH. (BAVH.) suốt ba mươi năm ấn hành
(1914 – 1944), trên sách báo xuất bản tại Pháp trước đây. Chúng không tiếc
lời ca ngợi bọn tay sai như Trần Tiễn Thành, Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Thân, Cao
Xuân Dục… Chúng cũng đề cao đáng kể người đă thật sự đầu hàng chúng, ra quân
đánh dẹp phong trào Cần vương như Hoàng Tá Viêm [*]. Và tất nhiên chúng t́m
đủ mọi cách để triệt hạ uy tín những người chống Pháp, chống tả đạo đến cùng
như Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết… Vấn đề là thái độ thù địch, căm hận
của chúng đối với Nguyễn Văn Tường, c̣n lượng thông tin trong các bài viết
ấy về ông, chúng tôi phải phối kiểm (không thể nhẹ dạ, cả tin đến ngây thơ
và phi khoa học như một số người được gọi là nhà văn, nhà sử học…). Chúng
tôi nghiên cứu những bài viết ấy trong sự lưu ư với tinh thần cảnh giác đó,
và lấy ĐNTL.CB. IV, V (1847 – 1883; 1883 - 1885), đặc biệt là các tư liệu
gốc (CHÂU BẢN…) được trích dẫn trong đó, gồm quốc thư, dụ, mật dụ, tấu,
sớ, bản án (và cả bản án cáo thị của De Courcy, De Champeaux)… làm chuẩn cứ,
đồng thờiø tham khảo, phối kiểm, đăi lọc thêm ở ĐNTL.CB.VI (1885 – 1888, kỉ
ngụy triều Đồng Khánh!).
[*] Theo ĐNTL.CB, tập
37, sđd., tr. 200 – 203, 305: Hoàng Tá Viêm “đánh để yên dân, không phải
đánh lấy thắng”. Đó là quan điểm yên dân trong nô lệ của ngụy triều Đồng
Khánh!
TXA.
[69]Xem thêm: Trần Viết Ngạc, bài “Chiếu hay Dụ Cần vương?”,
Kỉ yếu Hội nghị khoa học lịch sử về nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và
Nguyễn Văn Tường, ĐHSP. TP.HCM., 20.6.1996, tr. 25 – 30;
Xưa & Nay, số 128, tháng 11. 2002, tr. 9
– 11 (trừ 2 luận cứ 7 & 8).
TXA.
Tp. HCM, giữa năm 2000 &
27.4.2002 (HB.2).
Tháng 8.2003 (HB.3),
nhuận sắc (*).
TXA.
TXA.
nct.) và chua thêm hoặc
in đậm ở các đoạn
trích dẫn nguyên văn (viết tắt: ct., iđ.).
Đại từ "chúng tôi" được dùng ở đây như một cách khiêm xưng và trân trọng,
thay v́ chữ "tôi" gọn lỏn và cộc lốc.
TXA.