NGUYỄN QUÍ ĐỨC
nhà văn
.
.
.
Nguyễn Quí Đức
Ảnh: KQED/Jenny Doll
Sáng nay, một ngày
thuộc tuần đầu năm dương lịch, tôi gọi là HB7 -- kỉ nguyên hi vọng hoà
b́nh (HB.) đă bước sang năm thứ 7 -- , t́nh cờ đọc được một truyện ngắn
của Nguyễn Quí Đức. Lần đầu tiên, tôi được đọc truyện ngắn của nhà văn
này, một nhà văn vốn nổi tiếng thành thạo đến điêu luyện cả hai thứ
tiếng, Anh (Mỹ) và Việt. Tôi ngạc nhiên và thú vị khi truyện mở ra một
không khí đượm chất bi lẫn cả vị hài; nói đúng hơn, như người ta thường
nói, là bi đến một mức nào đó, quá ngưỡng của nó, bi trở thành hài buồn
bă, buồn rầu đến dửng dưng, tưng tửng và têu tếu rất "u mặc", rất "biết
đùa" (humour) nữa. Ngao du? Một giấc mộng vĩ cuồng buồn đến cười ra nước
mắt của một người sĩ quan chế độ Sài G̣n cũ trong những ngày tháng cố
t́m cách hoà nhập vào cuộc sống Mỹ xa lạ trên đất Mỹ, nơi ông đă xa lạ
với cả những người thân thích nhất, ngay cả vợ ông, và đau xót nhất là
xa lạ với cả đàn con, những đứa con ruột thịt đă trở thành những người
Mỹ da vàng thành đạt, suy tư, chuyện tṛ bằng ngôn ngữ Mỹ, chỉ c̣n lơm
bơm tiếng Việt mẹ đẻ. Nhân vật cô đơn, như thể bị gia đ́nh bỏ rơi và
thực sự bị lịch sử bỏ rơi ấy, một sáng sớm nào đó, bỏ nhà ra đi, và trôi
trong "ngao du", trong cơn hoang tưởng về những cuộc gặp gỡ với những
nhân vật lịch sử, nguỵ và cách mạng, rồi cứ thế, trôi dần về với Quang
Trung trong một t́nh huống lắp ghép thế kỉ XXI hôm nay với thế kỉ XVIII
xa xưa. Ngao du? Không, chính Nguyễn Quí Đức đă gọi cuộc hoang tưởng vĩ
đại bi thiết, cơn vĩ cuồng trầm thống của con người cô đơn, lẻ loi ấy là
"mất tích vào quá khứ" của Việt Nam, một quá khứ với những con người ấy,
có thêm định ngữ "u uất", mà với anh, nhà văn Nguyễn Quí Đức, là "u mặc",
"biết đùa" (humour).
.
Xin mạn phép sao
chụp lại, gác lại một mệnh đề trạng ngữ đúng 5 chữ, và lưu vào tuyển tập
/ www / docs.google này, như một cảm thông trong thế cuộc, từ đối đầu đă
chuyển sang đối thoại, các thế hệ người Việt lên tiếng hoà giải, hoà hợp
dân tộc.
.
Xin mạn phép
Talawas để được giữ nguyên lời giới thiệu của toà soạn.
TXA.
03-01 HB7 (2007)
.
.
Nguyễn Quí Đức sinh tại Đà Lạt, tốt nghiệp đại học
ngành truyền thông tại San Francisco. Sau thời gian dạy học tại
Indonesia vào đầu thập niên 1980, anh làm việc 2 năm cho Vụ Viễn đông
của đài BBC tại London, rồi về Mỹ sinh hoạt trong ngành truyền thông,
cộng tác với đài phát thanh công cộng KALW và viết bài cho các báo
San Francisco Examiner, Asian Wall Street Journal Weekly,
Los Angeles Times, San Jose Mercury News, v.v... Anh cũng làm
xă luận viên cho hệ thống phát thanh toàn quốc National Public Radio
(NPR), được giải xuất sắc của Hiệp hội Báo chí Hải ngoại tại Hoa Kỳ
(Overseas Press Club of America) sau khi về Việt Nam thực hiện các bài
phóng sự năm 1989. Sau một thời gian cộng tác với nhiều cơ quan truyền
thông phục vụ cho người Việt và các cộng đồng thiểu số tại New York,
Texas và California, anh về San Francisco làm chủ biên và người dẫn tin
trong chương tŕnh Pacific Time, một chương tŕnh phát thanh toàn Hoa Kỳ
chuyên về Á châu. Năm 2001 anh được cơ quan truyền thông "A Media" chọn
vào danh sách "25 Người Mỹ gốc Á đáng chú ư nhất".
Nguyễn Quí Đức là tác giả cuốn hồi kư Where the
Ashes Are (Addison-Wesley, 1994), đồng chủ biên hai tuyển tập
Vietnam: A Travelers's Literary Companion (Whereabouts Press) và
Once Upon A Dream (Andrew & McMeel). Anh là dịch giả cuốn Behind the
Red Mist ̣(Hồ Anh Thái) và The Time Tree (Hữu Thỉnh), giải
chung kết Dịch thuật năm 2003 của Hiệp hội Phê b́nh Văn học tiểu bang
California. Các truyện và thơ anh dịch của nhiều nhà văn, thơ trong và
ngoài nước như Phùng Nguyễn, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Nguyễn Bá
Trạc, Mai Kim Ngọc, Trịnh Công Sơn, v.v... được đăng tải trên nhiều tạp
chí và tuyển tập văn nghệ như Zyzzyva, Manoa Journal,
Watermark, v.v... Các sáng tác của anh đă được đăng tải trên Hợp
Lưu, Văn, Văn Học, Under Western Eyes, Vestiges of
War, Manoa Journal, Salamander... Đầu thập niên 1990
anh là sáng lập viên nhóm văn bút Ink & Blood, khuyến
khích đối thoại trong và ngoài nước giữa các văn nghệ sĩ nhiều thế hệ,
tổ chức nhiều buổi nói chuyện, trưng bày tranh, chiếu phim, giới thiệu
sách và tác phẩm, và dựng vở kịch A Soldier Named Tony, soạn theo
truyện ngắn của Lê Minh Khuê. Năm 1995, anh được mời làm nghệ sĩ thường
trú tại Trung tâm Nghệ thuật Villa Montalvo. Gần đây nhất, năm 2005,
phóng sự truyền h́nh China: Shanghai Nights của anh, thực hiện
cho FrontlineWorld/ thuộc hệ thống truyền thông Public Broadcasting
Service (PBS), được chung giải Edward R. Murrow Award for Best TV
Interpretation or Documentary on International Affairs cũng của Hiệp hội
Báo chí Hải ngoại tại Hoa Kỳ, và anh được tặng giải chuyên nghiệp của
phân khoa xă hội học trường đại học UC Berkeley và Quỹ Alexander Gerbode
Foundation.
Cùng một tác giả:
-
Where the Ashes Are
-
Between the Lines
-
China: Shanghai Night
-
The Bun Cha Obsession
.
Lưu vong, hai chữ ấy có ư nghĩa ǵ với Nguyễn
Quí Đức, một trong những nhà văn Mĩ gốc Việt thành thạo cả hai thứ tiếng
Việt và Anh, có những thành công được ghi nhận rộng răi trong giới văn
học và truyền thông ở Mĩ? Tác phẩm viết bằng tiếng Việt mới nhất của
Nguyễn Quí Đức, truyện ngắn "Ngao du" trong talawas chủ nhật ḱ này, dẫn
chúng ta vào cuộc hành tŕnh lạ lùng của một người đàn ông Việt Nam đứng
trước những câu hỏi của cuộc đời lưu vong trong một xă hội xa lạ và đi
t́m câu trả lời bằng cách mất tích vào quá khứ u uất của Việt Nam. Lưu
vong, là đào thoát hay trở về? Từng cá nhân con người lẻ loi, dẫu đi hay
ở, đứng ở đâu trong cái ṿng xoay không hề báo trước của lịch sử? Mời
bạn đọc cùng chia sẻ.
talawas chủ nhật
https://w7.sitesuite.pp.ru/dmirror/http/www.talachu.org/truyen.php?bai=34
28.05.2006
.
.
Ngao du
.
Nguyễn Quí Đức
.
.
.
Cả tuần, ông Toàn lục đục thay dầu, xiết thắng,
chỉnh lại máy xe. Chiếc Toyota màu vàng gụ, đời khá mới, thằng Dũng tặng
cho ông lúc ông qua Mỹ được ba tháng. Nó là đứa con đầu.
Buổi chiều mấy đứa con đi làm, đi học về, trời cuối thu, năm sáu giờ đă
tối đen. Thấy bố nhọc nhằn với chiếc xe, mấy đứa không nói ǵ. Chỉ một
lần, thằng Cường, bây giờ đổi tên là Cowen, ú ớ mấy chữ xong rồi nói
tiếng Anh, bảo ông đem xe đi tiệm cho khoẻ. Nó là đứa con út, sanh được
ba tháng th́ mẹ mang chạy tản cư sang Mỹ với hai đứa anh và con chị lớn.
Lúc đó đóng đồn tại Quảng Trị, ông Toàn bị bắt giải lên Trường Sơn.
Cả đám con ông Toàn cứ nằm ĺ trong pḥng. Nghe nhạc, coi ti-vi, nói
chuyện điện thoại liên tu bất tận. Hay là ngồi hàng giờ trước cái máy
điện toán. Giờ cơm th́ ló đầu ra, nhồm nhoàm mấy món pizza, hamburger
hay thịt gà chiên như bầy thú. Mẹ chúng hỏi ǵ th́ chỉ ậm ừ mấy tiếng.
Xong rồi chia nhau rửa chén, rồi lại rúc vào pḥng. Ông Toàn sống bên
cạnh chúng như một bóng ma. Ít nói, lại càng ít cười. Hôm qua thằng
Cường thắc mắc tại sao ba sửa xe. Mẹ nó nói, "ôi ba làm ǵ th́ ba biết.
Mẹ không hiểu được đâu". Bà trả lời tiếng Anh, ông Toàn nghe chữ được
chữ không. Ông học tiếng Anh đă được chín tháng, từ ngày qua Mỹ. Nhưng
ông đă già, tâm thần mệt nhọc. Học bao nhiêu quên bấy nhiêu. Bạn cũ hỏi,
ông cứ cười. Thôi, tôi đi cắt cỏ mà sống. Tiếng Anh, tiếng Mỹ làm ǵ.
Học nhiều quên nhiều, học ít quên ít. Không học không quên.
Cơm nước xong, ông Toàn bỏ xuống dưới pḥng kho, giặt áo quần. Thường
th́ ông ngồi đọc mấy tờ báo xin trong chợ Việt Nam, áo quần chỉ giặt vào
ngày cuối tuần. Bà vợ để mặc ông.
Cuối tuần, ông Toàn nấu một nồi phở. Thằng Dũng, bây giờ tên là Don, ăn
hai bát. Mấy đứa kia chỉ lấy một tô nhỏ, ăn không hết lại bỏ mứa. Thằng
Cường ôm điện thoại, rủ bạn đi ăn tiệm. Con Loan (Lou-Ann) và thằng Tuấn
(Tony) cũng đi chơi đến khuya. Ông Toàn ở nhà, vào ra với vợ, nhưng hai
người ít nói ǵ với nhau. Bà Toàn thời con gái tên là Vân, bây giờ đổi
là Vanna. Bà Vanna bán địa ốc được tiền lắm, nhưng giờ giấc đ̣i hỏi.
Sáng chúa nhật, bà rủ ông đi thăm bạn, luôn tiện đưa khách đi coi căn
nhà. Ông Toàn nói thôi, không đi. Ông nói bà ở nhà với ông có chuyện. Bà
trả lời, "chuyện ǵ th́ mai mốt hẳn tính, em đă hẹn, phải đi". Ông lại
lục đục với chiếc xe. Ngày xưa ông là lính thiết giáp, xe tăng ông c̣n
không ngán, huống ǵ chiếc Toyota này ... trừ mấy bộ phận điện tử tối
tân quá th́ ông đành bó tay. Xong phần máy móc, ông khuân mấy thùng giấy
cho vào thùng xe. Đồ đạc trong thùng ông mua dần dà từ mấy tuần qua tại
mấy cửa tiệm vừa Việt vừa Mỹ.
Tối chúa nhật ai cũng lo đi ngủ sớm. Không ai nói ǵ với ông, cũng không
ai muốn nghe ông nói điều ǵ. Cuối tuần trôi qua như mọi cuối tuần thông
thường.
Sáng thứ hai, mọi người máy móc ra khỏi nhà. Bà Toàn đi làm lúc tám giờ
kém. Con Loan, thằng Dũng cũng thế. Một đứa đang tập sự làm bác sĩ, đứa
kia vừa ra trường, kỹ sư điện tử. Thằng Cường đi học. Mỗi người một
chiếc xe. Ông Toàn qua Mỹ, thấy con cái học hành thành đạt, cũng hả dạ,
và biết ơn bà vợ.
Chín giờ sáng ông Toàn cũng lái xe đi. Như mọi hôm, ông rời nhà lúc chín
giờ, đến trung tâm huấn luyện sinh ngữ và huấn nghệ lúc chín giờ mười
lăm. Lớp học bắt đầu vào chín giờ rưỡi. Người dạy Anh văn đáng tuổi con
gái ông, nhưng dầu ǵ cũng là bậc thầy cô. C̣n người dạy ông về nghề
điện tử là một anh Mỹ béo ph́, vừa giảng bài vừa thở hổn hển như sắp lên
cơn đau tim.
Nhưng hôm nay, ông Toàn không đến trường. Ông thảy một cái va-ly nhỏ vào
ghế sau, cho xe chạy về phía xa lộ. Buổi chiều bà Toàn về đến nhà th́
thằng Cường giao cho bà tờ giấy ông viết bằng tiếng Việt, nó đọc không
hiểu.
.
Ông Toàn nhắn là có chuyện cần phải đi
xa, xa lắm, nhưng không nói là đi đâu. Ông nói đi không biết bao giờ về.
Lái xe được hơn ba tiếng, ông Toàn thấy buồn ngủ. Trưa mùa cuối thu có
nắng dịu, ông quay kính xuống cho gió lạnh lùa vào, nhưng vẫn không thấy
hết cơn buồn ngủ. Ông tấp vào một quán ăn bên đường, một loại nhà hàng
nằm khắp nơi cạnh các xa lộ. Ông đậu xe, vào quán uống một ly cà phê.
Sau đó ông gọi món ăn. Khi người bồi bàn dọn cho ông đĩa thịt chiên th́
ông điềm đạm rút từ trong cái túi nhỏ ra một chai nước mắm, và một cái
bao ny-lông đựng mấy trái ớt hiểm. Có ớt, có nước mắm, ông ăn uống ngon
lành. Ăn xong, ông xin một ly nước sôi, tự pha cho ḿnh một ly trà cỏ
ngọt một người lính cũ của ông mang từ Đà Lạt qua Mỹ tặng ông.
Ông Toàn lái xe hết một ngày, ở qua đêm tại một khách sạn loại rẻ tiền
cạnh xa lộ. Nước Mỹ bát ngát, toàn là xa lộ. Có nơi là những cánh đồng
có hàng chục ngàn con ḅ đủ màu. Ông nghĩ, ước ǵ mà Việt Nam ḿnh được
một phần sự giàu có của nước Mỹ, cho dân bớt đói, cho người ta bớt khổ.
Nhưng rồi ông lại nghĩ, lịch sử thăng trầm của người Việt nó như là một
thứ số phận kéo dài từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ thế kỷ này qua thế
kỷ khác, từ đời vua này qua đời vua khác. Giàu sang thật sự thay đổi
được số phận con người là bao?
Buổi sáng, ông Toàn rời khách sạn, khởi hành sớm. Cứ vài tiếng lại ghé
đâu đó, ăn uống qua loa. Lúc nào cũng một chai nước mắm, một hai trái ớt
hiểm, và ly trà cỏ ngọt. Rồi lại lên đường. Tuyệt nhiên không nói chuyện
với ai. Quang cảnh hai bên đường lúc đầu cũng làm ông chú ư. Nhưng được
chỉ một ngày, c̣n qua ngày thứ nh́ trở đi th́ dường như mắt ông mở mà
chỉ thấy những cuộn phim chạy bên trong trí óc. Đôi khi ông âm ỉ một hai
câu Kiều, có khi lắc đầu, mếu máo cười mỉm một ḿnh.
Qua ngày thứ ba, ông đến một thành phố lớn. Những vùng đồi núi cây xanh
bây giờ đă biến mất. Trước mặt ông và hai bên xa lộ là những toà nhà
chọc trời. Xa xa, có một ḍng sông. Ông Toàn quyết định ghé vào đây,
nghỉ ngơi đôi chút.
Trước tiên, ông vào mướn pḥng khách sạn. Áo quần ông vẫn để nguyên
trong va-ly, trừ một bộ mặc vào người tươm tất sau khi tắm. Sau đó, ông
xem niên giám điện thoại, t́m ra một quán cơm Việt Nam. Ông gọi hỏi
đường và lái xe đến tiệm ăn.
Tiệm cơm thanh lịch nằm sát cạnh con sông. Ông Toàn đậu chiếc xe Toyota
ở trên dốc đồi, hướng về con sông. Ông tấm tắc nh́n và nhớ đến những
ḍng sông quê cũ. Sông Hàn ở Đà Nẵng, sông Thu Bồn ở Hội An, sông "Bạch
Đằng" ở Sài G̣n, sông Hương ở Huế. Cả con sông Hồng mà ông giữ trong
kư ức của một chú bé trước ngày đất nước phân chia... Cơn gió lạnh thổi
qua làm ông rùng ḿnh. Ở thành phố này, mùa thu đang ra đi, mùa đông
đang hiện h́nh. Nước sông ở đây chảy mạnh, cuốn xiết, chứ không có vẻ
lặng lờ, thơ mộng của những con sông quê nhà. Sông nước thác lũ thế này
th́ làm sao có được câu ḥ, câu thơ về những chuyến đ̣ ngược xuôi, đưa
người qua bến, đưa t́nh sang sông... Mà ở Mỹ, có ḍng sông nào mang
nghĩa chia phôi, như con sông Bến Hải?
Hơn hai mươi năm quân ngũ, bước chân của ông đă lưu lạc ở khắp cùng quê
hương. Ông đă từng đưa những đoàn thiết giáp đến nhiều bến, nhiều bờ,
chỉ huy các đoàn quân, những trận pháo giày xéo cho quê hương thêm tiêu
điều. Bây giờ ông bị cuốn trôi vào ḍng đời lưu vong, một ḍng đời thác
lũ, xa lạ hẳn với cuộc sống ở nơi chôn nhau cắt rốn của ḿnh. Bây giờ
ông phải chống chọi với những dị biệt, những tính t́nh, thói quen và lối
hành xử khó hiểu, khó cho ông chấp nhận, những thứ đă mọc rễ, đâm chồi
trong bầy con và người vợ của ông.
Ông Toàn nghĩ ông phải đi quanh nước Mỹ, làm quen với xứ sở này. Một
chuyến đi như thế này mới có thể giúp ông vượt qua những khó khăn hiện
tại. May ra, ông sẽ c̣n có một cơ hội chung sống vui vẻ với vợ con.
Nhưng đă nhiều ngày qua, càng đi, ông lại càng cảm thấy lạc lơng, và
trong thành phố này, bên cạnh con sông thác lũ này, ông đă phải t́m đến
một quán cơm Việt Nam, t́m cái thân quen của mùi rau thơm, bát phở, hay
một đĩa cơm sườn ướp sả.
Quán vắng khách, ông Toàn ngồi một ḿnh ở góc, hỏi xin một tờ báo và gọi
một tô phở tái. Ông vừa đọc báo vừa chậm răi ăn phở. Ông không nh́n thấy
người đàn ông vừa bước vào cửa.
Người ấy trạc chừng 75, 80 tuổi, tóc thưa và đă bạc hết. Mái tóc ấy vẫn
ém sát vào đầu nhưng không c̣n cái màu đen láng bóng như thuở xưa nữa.
Khuôn mặt cũng có vẻ thon gọn hơn.
Người đàn ông đảo hai con mắt đen láy một ṿng quanh tiệm ăn và chợt
nhận ra ông Toàn. "Ủa, chú Toàn", người đàn ông nói. "Ở đâu ra mà ngồi
đây?".
Ông Toàn ngẩng đầu, há hốc mồm.
Khi người đàn ông tiến đến phía ông Toàn, ông vội đứng dậy. Ông nói được
hai chữ: "Tổng thống".
Người đàn ông đưa hai tay chụp lấy bờ vai ông Toàn. Chú cũng qua đây hả?
Qua đây hồi nào?
"Dạ, thưa tổng thống, em mới qua".
Người đàn ông làm một cử chỉ gạt bỏ lời nói của ông Toàn: "Đừng nói vậy.
Nguyễn Văn Thiệu có c̣n là tổng thống đâu? Cũng tị nạn như các anh em,
như chú thôi. HO hả? Ngồi, ngồi đây".
Hai người cùng ngồi xuống. Ông Thiệu quay người nói với người chủ quán
đứng sau quầy, "mang thêm tô phở nữa đi". Trở lại với ông Toàn, ông
Thiệu hỏi thăm sức khoẻ và chuyện định cư ở Mỹ, rồi lắc đầu nghe chuyện
học tập cải tạo. Họ nhắc đến tên một số người cùng đi lính với họ thuở
xa xưa. Lúc người chủ quán mang tô phở ra bàn, hai người bàn về thế sự,
và t́nh h́nh Việt Nam. H́nh như ông Thiệu nói nhiều hơn, c̣n ông Toàn
chỉ trả lời những câu hỏi.
Đến khi uống những ngụm trà cuối cùng th́ ông Thiệu có vẻ mệt mỏi. Ông
không c̣n phê phán đám cầm quyền hiện thời ở Việt Nam nữa. Ông trầm
giọng, "uổng quá. Hồi đó mà có chú ở Ban Mê Thuột. Thất lạc tin tức, tôi
nghi là chú bị bắt ở Quảng Trị mất rồi. Bây giờ ai cũng phê phán là hồi
đó tôi ra lịnh bậy bạ".
Ông Thiệu khua tay: "Làm sao được? Hồi đó không có ai cáng đáng được
chuyện ǵ hết. Cái ǵ cũng phải chờ đến tôi ra lịnh".
Ông Toàn cúi đầu, nh́n vào chén trà như thử ở trong đó chứa đựng một thứ
ánh sáng soi rơ được chuyện thời xưa. Một lát, ông nói, "em hỏi anh một
câu. Bây giờ nh́n lại th́ anh muốn thấy lịch sử ghi chép vai tṛ của anh
như thế nào?".
"Thôi", ông Thiệu nói. "Nói chuyện lịch sử làm ǵ, to lớn quá. Tôi đă
làm hết sức rồi. Mất nước hay không cũng là số phận của cả nước, của
toàn dân. Mà nói chú đừng nghĩ sai, chứ không có chuyện tháng Tư năm 75
th́ làm ǵ có cả hàng triệu người Việt ḿnh ở đây? Thôi, tôi đi về đây".
Hai người trả tiền cho người chủ quán rồi cùng nhau bước ra cửa quán ăn.
Ông Toàn lẩm bẩm, "một triệu rưỡi người Việt ở Mỹ".
Ông Thiệu bật cười. "Ừ, một triệu rưỡi người. Phải lo công ăn việc làm,
không biết rồi có làm ǵ được cho đất nước hay không. Nhưng mà người
ḿnh giỏi lắm nghe. Ai cũng làm ăn lớn nhỏ, con cái học hành đỗ đạt".
Ông Toàn ngẫm nghĩ, c̣n bao nhiêu là người ở bên quê nhà, sống lầm than.
Nhưng ông chỉ nuốt nước bọt, không nói ǵ với ông Thiệu. Ông theo ông
Thiệu ra xe, một chiếc Jaguar màu xám đậm, đậu ngay sau lưng chiếc
Toyota màu vàng của ông Toàn.
Ông Thiệu vào xe, đóng cửa. Rồi ông quay kính xuống. Ông nói, "thôi mừng
cho chú. Làm sao cố gắng đi. Nuôi cho con ăn học, mà đừng để tụi nó mang
tài sức đóng góp cho cái xứ Mỹ này. Ḿnh qua đây để c̣n có ngày lo cho
đất nước, chứ có phải để góp công cho thằng Mỹ làm giàu đâu, phải không?".
Ông Toàn cười không trả lời mà chỉ nói lời chào rồi cũng vào xe. Vừa
đúng lúc đó th́ ông Thiệu gài số, sẩy tay. Chiếc Jaguar màu tro lao vụt
vào phía trước, tông nhằm chiếc xe ông Toàn.
Chiếc Toyota vừa được ông Toàn thả thắng tay, lao xuống con dốc ngắn.
Ư nghĩ duy nhất vụt thoáng qua trong đầu ông Toàn là câu nói của người
tổng thống thời cũ. �Nuôi cho con ăn học, mà đừng để tụi nó mang tài sức
đóng góp cho cái xứ Mỹ này�.
Đó là ư nghĩ cuối cùng của ông Toàn trước khi chiếc xe của ông rơi ào
xuống sông, ch́m vào ḍng nước cuồn cuộn.
Lúc ấy, thời tiết của Mỹ đă là thời tiết đầu mùa đông. Ḍng nước dưới
sông chảy xiết, chảy xiết như ḍng thời gian vô t́nh không biết dừng
chân.
*
Cả mùa đông năm đó, bà Vân -- Vanna -- và các con trông ngóng tin tức
ông Toàn. Họ t́m đến các bạn bè thân quen, các trung tâm huấn nghệ, rồi
các hội đoàn HO khắp nơi trên nước Mỹ. Họ ra vào các bót cảnh sát, nói
chuyện hàng giờ với các nhân viên thông tin thuộc các bịnh viện. Có lúc
họ cũng đă vào một nhà xác khi được báo tin về một người đàn ông Á đông
chết không tông tích.
Có khi bà Vân tin rằng ông đă theo một cô gái nào, hay là một người vợ
lẽ, dan díu từ Việt Nam trong những năm bà cực nhọc, tứ cố vô thân với
bầy con dại ở xứ người. Có khi bà cũng nghĩ phải lập bàn thờ cúng tế cho
ông, nhưng chọn ngày nào làm ngày giỗ? Rồi bà cũng nghĩ, phải nuôi hy
vọng. Chắc rồi ông sẽ trở về. Ở Mỹ này thiếu ǵ người mang bịnh tâm thần,
làm những điều không ai hiểu nổi. Ông Toàn lại là người lính chiến, bị
tù bị tội bao nhiêu năm. Đôi khi coi ti-vi có tin người nào nổi điên, nổ
súng ở quán hàng, bưu điện, bà Vanna thấy hồi hộp, ớn lạnh trong ḷng.
Có khi điện thoại reng vào lúc hơi khuya, bà cũng thấy nhức tim.
Bà Vân và những đứa con phấp phỏng trông ngóng. Mùa đông trôi qua, mùa
xuân sáng sủa quay về với những chùm hoa anh đào ở những con phố gần nhà.
Nhưng ông Toàn vẫn bặt âm vô tín.
*
Người tổng thống cộng hoà cũ cũng trải qua một mùa đông khá ảm đạm.
Hôm đó, ông chưng hửng nh́n thấy chiếc xe ông Toàn tụt dốc, rơi xuống
sông. Ông cũng hấp tấp xuống xe, chạy đến bên bờ sông. Ḍng nước chảy
xiết, bóng dáng chiếc Toyota biến tan mau chóng.
Ông Thiệu cuống quưt trong vài giây đồng hồ. Gọi cảnh sát cứu cấp hay
không? Nên ở lại hay bỏ đi? Tâm trạng ông tương tự như thời xa xăm.
Quảng Trị. Ban Mê Thuột. Trách nhiệm. Nha Trang. An Lộc. Trách nhiệm.
Lịch sử.
Chỉ có điều lần này không ai bỏ rơi ông. Ông bỏ số xe lầm lỡ. Đời người
sao nhiều tai ương. Định mệnh và số phận của bao nhiêu người khác sao cứ
nằm trong bàn tay của ḿnh?
Cuối cùng th́ ông Thiệu quay về chiếc xe của ḿnh và rời con dốc.
Từ đó về sau, ông không hề đến ăn cơm ở tiệm ăn định mệnh đó nữa.
Và ông cũng không đến hội họp với các bạn bè, lính chiến cũ nữa.
Lúc nào có những người thân cận ngày xưa gọi điện thoại đến thăm, ông ậm
ừ nói chuyện, nhưng tuyệt đối không đưa ra lời khuyên nhủ nào.
*
Ông Toàn ngồi bó tay trong chiếc Toyota. Bên ngoài là khối nước cuồn
cuộn.
Chiếc Toyota nhào lộn. Ông Toàn chợt nghĩ, ḿnh là lính thiết giáp, bây
giờ lại bỏ thân xác dưới ḍng sông, giống như một người thuỷ thủ.
Chiếc Toyota tiếp tục nhào lộn trong ḍng nước. Ông Toàn nhắm nghiền mắt.
Và trong đầu lại loé lên một ư nghĩ. Ḿnh là HO. Qua Mỹ diện đoàn tụ,
không phải lao đao như hàng trăm ngàn người vượt biên. Mà giờ đây lại
phải nhào lộn với nước sông. Nhưng mà thôi, chỉ tiếc là làm tốn mất của
thằng Dũng chiếc Toyota đời khá mới. Chứ c̣n ra đi như thế nào th́ cũng
là ra đi. Ra đi trong ḍng thác lũ cũng chỉ là một sự ra đi.
Đúng lúc đó, ông Toàn nghe thấy tiếng la lớn.
"Cơn hồng thuỷ! Cơn thác lũ, cậu nghe chưa? Không có chi khác, ngoài cơn
hồng thuỷ!".
Tiếng la mỗi lúc mỗi lớn. Ông Toàn mở mắt, nh́n lờ mờ qua màn kính xe
c̣n đầy nước đục. Trước mặt chiếc xe là bóng dáng một người có vẻ vuông
vức, thấp người, nhưng lại mặc một bộ đồ com-lê Tây, màu trắng, rất uy
nghi.
Người này dần dần hiện rơ ra trước đôi mắt ông Toàn. Ông Toàn lúc đó
hành xử theo bản năng. Ông đạp thắng, đổi số và kéo thắng tay. Rồi ông
mở cửa bước xuống xe. Chiếc Toyota đă được kéo khỏi ḍng nước từ lúc nào.
Ông Toàn cúi nh́n những bướp chân chập chững của ḿnh trên thảm cỏ. Rồi
ông lại ngẩng đầu. Lại há hốc mồm.
Người đàn ông trong bộ đồ trắng giữ nguyên vị trí trên thềm nhà. Mà đây
không phải là một căn nhà b́nh thường.
Ông Toàn kinh ngạc nhận thấy ḿnh đang đứng ở ngưỡng cửa Dinh Gia Long,
ngay giữa một ngày oi bức của Sài G̣n. Sau lưng ông, chiếc xe Toyota nằm
trên băi cỏ, những giọt nước sông đọng lại, lóng lánh dưới ánh mặt trời.
Người đàn ông mặc bộ đồ trắng giữ một tay sau lưng, một tay chỉ lên trời,
vẻ dạy bảo. Đôi mắt người đàn ông đầy giận dữ.
Ông lại la lớn: "Cậu nghe rơ chưa?".
Ông Toàn nói được bốn chữ: "Dạ, kính tổng thống".
Người đàn ông quay người bước ba bước về phía trái, rồi lại quay lại
bước ba bước về phía phải. Rồi lại la lớn: "Ngô Đ́nh Diệm không bao giờ
nói điều ǵ sai! Cậu nghe rơ chưa?".
Ông Toàn đứng bất động trước cơn thịnh nộ của vị tổng thống đệ nhất cộng
hoà.
Vị tổng thống vụt quay lại, nh́n thẳng vào mặt ông Toàn.
Ta nói cho cậu nghe: "Sau ta là cơn hồng thuỷ!".
Ông Diệm nhấn mạnh từng chữ một: "Cơn hồng thuỷ!".
"Sau ta là cơn hồng thuỷ! Après moi, le déluge! Cơn thác lũ! Một khi Ngô
Đ́nh Diệm đă ra đi, chúng bây chỉ sẽ là ḍng thác lũ, phá vỡ tất cả!
Chúng bây sẽ cuốn trôi mọi điều ta đă gây dựng trong suốt cuộc đời.
Chúng bây là bầy quỷ!".
Ông Toàn vẫn bất động.
Ông Diệm chỉ một ngón tay vào mặt ông Toàn. Về mà nói lại cho bầy lũ tụi
bây nghe. Ngô Đ́nh Diệm nói k"ông sai! Sau ta là thác lũ, là đồ hại dân
hại nước.
Vị tổng thống đệ nhất cộng hoà khoát tay. "Thôi, đi đi! Mang quân lính
và xe tăng thiết giáp mà bố trí chung quanh Dinh. Không có lịnh của ta
th́ chớ có rục rịch!".
Ông Toàn không chủ động được trí óc ḿnh. Ông có cảm tưởng ḿnh đă thoát
ra khỏi thể xác, đang tự ḿnh nh́n vào con người của ḿnh. Ông thấy ḿnh
đưa tay chào tổng thống theo kiểu nhà binh, dậm chân, rồi quay người
bước lui.
Trời Sài G̣n oi bức, ánh nắng đổ xuống, chiếu rơ cái bóng đen của ông
Toàn trên thảm cỏ xanh.
Ông Toàn thấy ḿnh vẫy một cánh tay như một hiệu lịnh cho những binh
lính vô h́nh đâu đó chung quanh. Rồi ông thấy ḿnh lái chiếc Toyota ra
khỏi Dinh Gia Long. Chiếc xe chạy chậm răi một đoạn rồi dừng lại bên vệ
đường.
Ông Toàn xuống xe, mở cửa sau. Ông kéo từ băng ghế sau ra một chiếc ghế
xếp bằng vải bố nhà binh. Ông ngồi xuống đó, và đưa tay lên ngực. Ông
cầm lấy cặp ống nḥm, đưa lên mắt, quan sát những khu vực chung quanh,
con đường dài thẳng tắp, nhà thờ gạch đỏ ở phía xa xa.
Trong khu công viên hiện ra trong ống kính, có những thân cây, phân nửa
dưới phết sơn trắng. Ở dưới bóng mát của mỗi gốc cây có dáng một người
ngồi xếp bàng, đầu trọc, mắt nhắm lại, một bàn tay đặt trước ngực, bất
động.
Một lát ông Toàn đặt ống nḥm xuống, dựa lưng vào chiếc xe Toyota và
thiếp ngủ.
Trưa hè không có một ngọn gió. Trưa hè nóng như thiêu đốt. Bầy ve ve
không buồn cất tiếng hát.
Độ chừng nửa tiếng sau khi thiếp ngủ, ông Toàn cảm thấy ai đó khều nhẹ
vào vai. Ông bừng mắt, nh́n về phía bên trái, thấy có một cụ già hơi
kḥm lưng. Cụ già nhoẻn một nụ cười, vuốt nhẹ cḥm râu dài, thưa, bạc
trắng.
Cụ già nói, "chào ông sĩ quan".
Ông Toàn nh́n cụ già, trông có vẻ quen quen nhưng không tài nào nhận
dạng rơ rệt được là ai. Ông Toàn không nói ǵ.
Cụ già nói, "trưa hè oi quá", và úp cả bàn tay lên phần đầu hói, làm như
đang vuốt sạch mồ hôi. "Ông sĩ quan này,... ừ, mà thế này nhé, quả bác
cũng đă lớn tuổi, thôi th́ ta cứ bác bác, cháu cháu, cho nó thân thiện
nhé...".
Ông Toàn vẫn giữ im lặng.
"Bác nói thật đấy, bác ngồi đây chờ cháu cũng đă hai tháng rồi, mà cháu
ngủ say quá, bác nóng ḷng mới thức cháu dậy... Bác biết cháu phải mệt
nhọc lắm, trưa hè oi bức như thế này, mà thật, thời buổi này, trai tráng,
ai ai cũng phải mệt nhọc, bác nói có đúng không nào... Bác xin cháu điếu
thuốc thơm nào...".
Cụ già chỉ tay vào túi áo ông Toàn. Ông cho tay sờ vào túi áo, thấy vật
ǵ cộm cộm, móc ra th́ quả thật là một bao thuốc lá Ruby đỏ. Ông Toàn
sực nhớ ḿnh đă bỏ thuốc từ sau khi bị đưa vào trại giam trên Trường Sơn,
nay sao lại có bao thuốc quân tiếp vụ này. Ông rút một điếu trao cho cụ
già rồi cho bao thuốc vào túi áo.
"Không nói dối ǵ cháu, bác đang có ư nhờ cháu một tị. Cụ già đốt điếu
thuốc với những ngón tay xương xẩu. Ông ph́ một làn khói. Quả là bác gặp
lúc khó khăn. Giặc ta, giặc Tây, mấy thằng nó đánh nó đuổi, khổ sở hết
sức".
Cụ già lại kéo một hơi thuốc. "Thơm thật. Ngày trước bác c̣n được hút
các thứ thuốc thơm như thế này, lúc mà bác ở bên Tây ấy. Này, bác biết
cháu sắp mang xe, mang quân ra miền Trung. Đừng buồn, chúng nó báo cho
bác biết hết... Cháu cứ yên tâm, rồi cháu sẽ không hề hấn thế nào cả".
Ông Toàn nh́n quanh, không thấy bóng dáng những người lính của ḿnh.
"Chúng bỏ chạy hết cả rồi. Thằng tuỳ viên của cháu nó đi theo đám bên
kia, nó mang đơn vị xuống Thủ Đức đó. Bác biết. Mà thôi, không sao đâu.
Bác cháu ta cứ lên đường".
Ông Toàn đưa mắt nh́n ông già.
"C̣n nh́n bác làm sao nữa? Bác không đi với cháu th́ ai chỉ đường cho
cháu? Mà bác đi loạng choạng một ḿnh, có mà bị bắt vào tù. Bác sợ tù.
Sợ lắm. C̣n như bây giờ, bác nằm vùng như thế này, không đi nhờ với cháu
th́ c̣n ǵ là mưu mô xảo quyệt?".
Cụ già lại cầm hờ những sợi râu thưa thớt. "Bác nói cho cháu nghe, cháu
không đi ngay bây giờ, không khéo chính cả cháu cũng vào tù đấy. Thời
buổi này khó mà lường được. Biết tin ai bây giờ. Ta cứ lên đường, bác đi
với cháu. Sau này c̣n thưởng công cho cháu. Công lớn lắm đấy".
Ông Toàn lại thấy dường như ḿnh không chủ động được trí óc của ḿnh.
Hết người này đến người kia nói năng đủ điều, khuyên bảo, sai khiến, nhờ
vả. Mọi thứ ông đều làm theo, đúng là một thân phận nổi trôi. Ông thấy
thể xác ḿnh đứng lên, mở cửa ngồi vào xe. Cụ già cũng nhanh chân ṿng
sang phía bên kia, mở cửa, ngồi vào ghế phụ lái phía trước.
Chiếc Toyota từ từ tiến khỏi khu vực dinh thự đúng lúc từ trên bầu trời
chói nắng, tiếng gầm rú của một chiếc phản lực cơ làm át tiếng máy xe,
tiếng cười sang sảng của cụ già.
Chiếc phản lực cơ bay thật thấp. Rồi đùng một cái, chiếc máy bay lao
xuống Dinh Gia Long, phóng một trái phi tiêu nổ ầm. Lửa phực cháy đỏ rực,
gây ấn tượng thiêu đốt nóng bỏng.
Ông Toàn nh́n quanh, thấy những bóng người lúc năy ngồi dưới những gốc
cây. Tất cả đều vùng dậy, chạy tán loạn. Những ông sư. Những ông sư chạy
tán loạn, những chiếc áo cà sa bay bổng như những cánh bướm.
Cụ già nói ǵ bên tai, ông Toàn nghe chữ được, chữ mất. "Bác đă dặn...
quyết tâm... chúng... việc ǵ... bỏ chạy... lập trường... tư cách... xin
cháu... thuốc thơm...".
Cụ già khều tay vào vai ông Toàn. Ông máy móc rút thuốc, trao cả bao cho
cụ già. Lúc đó chiếc máy bay đă bay xa. Ông Toàn nghe lời cụ già rơ chữ.
"Sau này có đứa sẽ làm lớn trong đảng". "Sao cái ǵ bác cũng biết cả nhỉ?".
Ông Toàn chưa hiểu hết câu nói của cụ già, lại phải hốt hoảng v́ con
đường trước mặt bỗng dưng tràn đầy những người là người. Người ta chạy
tứ phía. Xe đạp, xích lô rần rần.
Một chiếc xe thiết giáp đột ngột từ một ngơ đường quẹo vào ngay trước
mũi xe Toyota. Người lính thiết giáp tiến gần cúi khom người và chĩa
ṇng súng vào mặt ông Toàn. Cụ già hốt hoảng cúi đầu, co hai đầu gối lên
tận trán.
Đột dưng người lính nói một lời ǵ rồi đưa tay lên chào ông Toàn. Người
lính phất tay, ra hiệu mọi người tránh đường cho ông Toàn đi. Ông quay
xe, ṿng ra phía trước ngôi nhà thờ gạch đỏ.
Người lính lại cúi khom người nh́n vào trong xe, chợt nhận thấy cụ già.
Người lính thổi c̣i, bắn một tràng đạn chỉ thiên.
Ông Toàn đạp ga, chiếc xe lao tới trước mặt, leo lên một bờ lề. Chạy như
thế được một đoạn, ông Toàn lấy lại được b́nh tĩnh, tiếp tục hướng về
một khu phố ông cảm thấy thân quen, nhưng bây giờ con đường này lại mang
tên Catinat.
Ông Toàn buột miệng, "Tây nó về hả bác?".
Cụ già gật đầu. "Ừ, th́ nó thua nó phải rút về ngay ấy chứ. Nó bị Giáp
nó đánh cho một trận nhừ tử. Có thế chú Đồng mới ăn mới nói hùng hổ đến
thế ở Giơ Neo. Cháu có hút một điếu với bác không?".
Ông Toàn lắc đầu, cắm cúi lái xe. Những đoàn người rời rạc vẫn dắt nhau
chạy ngược xuôi trên con phố.
Cụ già lại cười mỉm. "Thế mà cú ấy, các anh em trong này chơi khăm đấy.
Không kư hiệp định th́ làm ǵ bác nói chuyện bầu cử, trưng cầu dân ư
được. Lại phải đánh nhau tơi bời. Nhưng ấy là mưu lược hay. Bác thích ai
mưu lược hay. Chú Giáp cũng thế. Mưu mô lắm đấy. Thế nhưng chú ấy không
biết tề gia".
Chiếc Toyota bỏ khu phố, chạy đến bến Chương Dương. Vừa trông thấy ḍng
sông, ông Toàn đă giật thót ḿnh.
Cụ già nói, "này cháu có yêu nước không? Bác yêu nước lắm. Bác lênh đênh
trên chiếc thương thuyền ngày trước, sang đến tận bên Tây. Lúc nào bác
cũng kiếm cớ ra đứng trên boong tàu, nh́n xuống ḍng nước. Thích làm sao.
Các anh em trong này sông ng̣i nhiều, chắc cũng yêu nước như thế".
Ông Toàn giữ chặt tay lái chiếc Toyota, tránh những đám đông, tránh nh́n
ḍng nước. Ông quyết định không nghe thêm những lời vô bổ của người hành
khách râu bạc.
Chiếc Toyota ra khỏi thành phố, chạy phăng phăng trên quốc lộ Một về
hướng bắc.
Đến ngày thứ ba th́ hai người ra đến Quăng Ngăi. Họ không có ư dừng lại
đây, nhưng đang chạy trên con đường hai bên là ruộng lúa, họ bỗng nghe
súng ở đâu nổ vang trời. Ông Toàn dừng xe, và cụ già theo ông đi vào một
ngôi làng.
Ở đó, họ thấy hàng trăm xác chết ngổn ngang. Xác nguời già. Xác con nít.
Máu me be bét. Thi thể la liệt.
Ông Toàn nôn mửa. Cụ già lắc đầu. Đây là Mỹ Lai đây. Rồi xem. Thằng Mỹ
sẽ trả giá đắt về vụ này. Chết ngần ấy người th́ không thấm vào đâu.
Ngày trước bác cho cải cách ruộng đất, chết c̣n lắm người hơn thế này
nhiều. Nhưng thằng Mỹ sẽ không ém nhẹm được vụ này. Nó sẽ là một đ̣n tâm
lư nặng.
Ông Toàn sửng sốt nghe những lời nói lạnh như nhát dao của cụ già.
Ông quyết định lên xe, rời bỏ ngôi làng oan khiên, rời bỏ ông già.
Cụ già nói, "thôi từ đây, bác lên đường ṃn mà đi cũng được. Chỉ sợ bị
trúng bom. Này, cho bác gởi ít tiền. Gọi là tiền xăng nhớt. Chứ cháu làm
việc không công, đưa bác đi từ trong ấy ra đến đây như vậy lại bị đưa ra
toà án quân sự đấy. Bác gởi ít tiền chứ chính sách không cho bác vay
mượn công lao nhân dân đâu. Cháu không lấy, bác cứ bỏ vào xe như thế này
nhé".
Ông già đặt lên ghế xe mấy đồng tiền lẻ, in h́nh Hồ Chí Minh.
Lúc đó là bốn giờ chiều. Trời đất nổi cơn giông băo. Mưa gió vụt lên ào
ào, thổi bay những đồng tiền giấy.
Ông Toàn vừa lái đi được một đoạn th́ gặp phải một khúc đường bùn lầy
đất lở. Chiếc xe trượt bánh, lăn xuống một thửa ruộng, lật úp. Bốn bánh
xe Toyota nằm chổng lên trời. Ông Toàn đập đầu vào tay lái, bất tỉnh.
Tiếng cuốc xẻng, ḥ reo càng lúc càng nghe rơ hơn. Chiếc xe lay động
dưới những bàn tay của dân làng và binh lính.
Ông Toàn tỉnh dậy nh́n ra ngoài một lúc mới biết người ta đang cột những
sợi dây thừng vào những bộ phận dưới gầm xe. Dường như không ai biết có
ông nằm trong xe.
Ông Toàn vặn vẹo thân h́nh, nh́n quanh những cửa kính.
Voi. Một đàn voi. Vậy là dân làng đang dùng voi, kéo xe ông khỏi thửa
ruộng.
Đàn voi gầm lên những tiếng rú quái dị và kéo chiếc xe lăn lộn.
Ông Toàn nhào lộn trong xe, lại ngă ra bất tỉnh.
Lúc ông tỉnh dậy th́ thấy ḿnh đang nằm trên một chiếc chơng tre.
Một người đàn ông ăn mặc chiến bào như một vị quan vơ trong phim bộ Hồng
Kông nói lớn tiếng. "A, nhà ngươi đă tỉnh dậy! Ta chờ đă ba năm mà ngươi
cứ li b́. Cơ thể thế nào?".
Ông Toàn cố gắng trả lời nhưng cổ họng ông khô đét. Ông không nói lên
được một lời nào.
Người đàn ông mặc áo quan ra lịnh cho một người nào đó đổ nước vào miệng
ông Toàn. Rồi ông nói, "mau mau đi. Ngươi tỉnh dậy đúng lúc. Đúng là
Trời đă thuận ư cho ta tiến quân. Chúng ta sẽ khởi hành đúng vào giờ Tư
hôm nay. Bổn phận của nhà ngươi sẽ là chuyên chở hoàng đế! Quản tượng,
xà ích, ngươi muốn xưng danh thế nào th́ xưng. Bắc tiến!".
Chiếc Toyota hoá thành cỗ xe đưa hoàng đế Quang Trung ra Bắc trong cuộc
viễn chinh đánh đuổi giặc Thanh. Tài xế của hoàng đế Quang Trung là cựu
sĩ quan thiết giáp Trần Toàn. Xe khởi hành vào lúc nửa đêm ngày đầu
tháng giêng năm Kỷ Dậu.
Đêm hôm đó gần Tết, trời không có trăng. Ông Toàn bật đèn pha, phóng vùn
vụt trên quốc lộ một, chỉ một ngày sau là đưa vị đại hoàng đế ra đến
thành Thăng Long. Ngựa voi bám sát chiếc Toyota, đoàn quân đánh úp binh
lính của giặc, chiến thắng vẻ vang.
Buồn thay cho ông Toàn. Người sĩ quan thiết giáp đầy kinh nghiệm chiến
trường không được tham gia trận chiến lịch sử này. Ông cũng không chứng
kiến được trận đánh đó.
Ông Toàn bị vua Quang Trung chém đứt đầu ngay phút đầu tiên khi chiếc xe
Toyota vừa vào đến thành Thăng Long.
Khi đến nơi, ông Toàn ngẫm nghĩ trong đầu. Vậy mà lịch sử ghi công vị
hoàng đế mở cuộc tiến quân chớp nhoáng và bất ngờ. Sự thật th́ cái vận
tốc Bắc tiến khốc thần này là nhờ ở chiếc xe Toyota.
Lúc đó, hoàng đế Quang Trung ngồi ở băng ghế sau, nh́n vào gáy ông Toàn.
Vị hoàng đế đọc được ư nghĩ xúc phạm lịch sử của ông Toàn, mặc dù ông
Toàn không nói nên lời.
Quang Trung rút kiếm, vung tay chém đứt đầu người tài xế về tội sai láo
với lịch sử.
Thế nhưng lịch sử vẫn tốt ḷng với người không thật sự có tà ư.
Sau khi trút hết cơn giận của ḿnh, Quang Trung cho lính chôn cất ông
Toàn với đầy đủ lễ nghi dành cho một vị quan có công lớn với triều đ́nh.
Sau này, người ta hay tưởng lầm bức
tượng đồng của một người không có đầu là bức tượng của Lenin, ở đất nước
nào đó, bị dân chúng cột giây kéo sập.
Thật ra đó là bức tượng tưởng niệm nguời sĩ quan thiết giáp có công mà
lại mất đầu với hoàng đế Quang Trung.
*
Hơn mười năm sau khi ông Toàn mất tích, bà Vân -- Vanna Thi Nguyen --
lúc này đă già, mang đàn con về thăm quê hương.
Thằng Dũng, hoặc là Don, thằng Cường, Cowen, con Loan, tức Lou-Ann và
thằng Tuấn, Tony, nay đă là những người trung niên. Họ rủ nhau đưa mẹ,
đưa vợ, chồng, con cái đi thăm chùa tháp, núi non, đền thờ, biển sông,
hang động. Nói chung là họ thăm viếng rất nhiều danh lam thắng cảnh.
Riêng tại Hà Nội, thành Thăng Long ngày trước, họ có được đến xem một
nơi rất đặc biệt, nhưng họ không biết đấy là một nơi có liên hệ mật
thiết đến cuộc đời côi cút của họ, và đến cuộc đời nổi trôi của người bố
trong gia đ́nh.
Nơi họ đến xem là một pḥng triển lăm, cửa kính rộng lớn bốn bề. Bên
trong là những cỗ xe sáng loáng, mới tinh.
Bên ngoài là một bức tường đá đen, có hàng chữ bằng đồng: Toyota Central
Dealership, Việt Nam.
Hàng ngày, một người công nhân vẫn dùng thuốc và giẻ sạch đánh bóng hàng
chữ bằng đồng này.
Ở giữa sân, thằng Dũng đứng ngắm chiếc xe Toyota màu vàng gụ, quay tṛn
trên một bệ đá.
Chiếc xe đă cũ kỹ lắm, và thằng Dũng nay cũng đă là một người đàn ông
trung niên. Đôi mắt người đàn ông trung niên vẫn c̣n tốt, lơ đăng nh́n
chiếc xe màu vàng gụ mà không nhận đấy chính là chiếc xe của ḿnh thời
trai trẻ ở Mỹ, chiếc xe đă mang người bố của ḿnh trôi sông, mất tích
vào quá khứ u uất của đất nước.
.
Nguyễn Quí Đức
©
2006 talawas
.
Đưa lên web.:
03-01 HB7 (2007)
Trở về trang ngỏ & mục lục trang của những người cùng thời / 1asphost
http://c.1asphost.com/TrXuan An/an/trangcnncthoi/trangcnncthoi.htm
hoặc:
Trang ngỏ &
mục lục của tuyển tập thơ - văn - luận của những người cùng thời /
Google
http://www.tranxuanan-trangcnncthoi.blogspot.com
.
( xem tiếp văn của những người cùng thời --
trang 6 )